Q1 - Chương 11 - Tử Địa (4)
Trong sát na ấy, Bác Nhã tưởng như mình đang nằm mộng, con thuyền trôi theo dòng nước đột nhiên như một đoá hoa mạn đà la, nở bùng trước gió, hoá thành một ngọn lửa rực rỡ hơn bất kỳ cái gì trên đời này.
Lão Mục lại chỉ lặng lẽ kéo nàng và cô chủ Trang về phòng của họ, những chuyện khác đừng quan tâm tới nữa, cẩn thận lại vì thế mà bị dọa sợ. Nghe ông ta nói thì giống đang quan tâm lo lắng cho hai người, nàng chỉ lại thấy sau lưng lạnh toát tới sởn gai ốc.
Bác Nhã đưa cô chủ vào phòng, nấu trà an thần cho nàng nên ngồi bên bàn ngắt hoa nấu trà, vậy mà tâm trí lại trôi đi quá xa.
Nếu nàng nhớ không nhầm thì cái thuyền đó là thuyền của ân nhân gọi là Bát cùng ông chủ của ngài Kiết Tường. Vậy mà sao…sao đột nhiên lại vậy?
Trong lòng nàng chợt có một suy nghĩ đáng sợ, nàng nghĩ đi nghĩ lại cách Lão Mục ứng xử với chuyện này, có khi nào quá đỗi bình tĩnh rồi không?
Có khi nào…lại thế không?
Nhưng mà tại sao? Rốt cuộc là tại sao cơ chứ?
Cô Trang ngồi khoanh tròn trên giường, ôm lấy cốc nước ấm, ngó qua nữ tiên sinh rõ ràng là đun trà mà nước sôi rồi cũng làm như không biết vậy. Trong lòng khó hiểu nhưng vì lo cho nàng mà cất tiếng lên gọi. “Chị họ ơi!”. Cô vẫn nghe lời, mà gọi theo cách lão Mục đã dặn.
Đang chết chìm bởi suy tư hỗn loạn trong đầu, tiếng nói của cô Trang như dây thừng kéo nàng về với thực tại, mới sực để ý đến cái ấm đang sôi sùng sục nước. Nàng lấy lại thần hồn tiếp tục pha trà, cô bé con đã từ trên giường chạy xuống, hai bàn tay nhỏ nhắn nhẹ nhàng đặt lên tay nàng.
“Chị ơi, chị sao vậy?”
Bác Nhã nhìn cô chủ, khuôn mặt trẻ con khó khăn lắm mới lên ít thịt mà lại cau mày nhăn mũi, nhìn cô bé ra vẻ người lớn bày tỏ lo lắng với mình nàng chỉ cảm thấy có chút ưu sầu, mọi thứ trong mấy ngày qua quá đỗi hỗn loạn rồi.
Nàng cố bình tĩnh nặn ra nụ cười, trong lòng cảm thấy tội lỗi:
“Không sao, ta không sao, Trang Nương không phải lo lắng? Chỉ là có chút lo sợ.”
“Chị lo gì vậy?”
“Lo gì à? Không thể rời khỏi đây có lẽ cũng tính đấy.” Nàng thì thầm nói với cô bé.
Trở về tới Nam Đông Quan, Phó Bác Nhã vốn được sắp đặt sinh sống ở một viện riệng nhưng nàng nàng từ chối lấy lý do tiện bề chăm sóc cho cô chủ mà ở một phòng nhỏ, ngay trong viện của cô chủ Trang.
Cô chủ Trang được trở về trong nhà, không phải bôn ba đường dài, thời tiết có chút thay đổi vào tháng ba, lúc nắng lúc mưa nhưng nàng lại không bị ảnh hưởng gì mấy. Đầu óc cũng không nặng nhọc nữa, nhưng trong lòng lại có chút phân vân mà đêm ngủ không ngon.
Đến Bác Nhã cũng âm thầm nhận ra nàng không vui, đêm đêm còn đòi ngủ cùng, lúc dậy thì mắt ướt nhạt nhoà.
“Chị phải đi thật à?” Mấy đêm liền cô chủ luôn bất chợt hỏi nàng như vậy.
“Ừm!” Nàng không giấu giếm.
“Tại sao? Ở đây không vui sao?” Trong tâm trí non nớt của cô bé hiện tại mới chỉ có vui hay không vui mà thôi.
Bác Nhã lắc đầu.
“Không đi không được ạ? Em sẽ nhớ chị lắm đấy.”
Bác Nhã nở nụ cười.
“Chị cũng sẽ nhớ Trang Nương.”
“Thế sao chị còn rời đi?”
Nàng suy tư một lúc, rồi hỏi:
“Thế này nhé, nếu muốn ở bên cạnh chị mà chỉ có thể là em rời đi với chị, em có đi không?”
Cô chủ Trang đặt tay lên bụng, mắt nhìn tấm màn lụa đăm chiêu.
“Em có lẽ muốn được đi, nhưng em cũng sẽ nhớ cha lắm, cũng nhớ bà vú nữa, cùng nhớ Xảo Quân nữa, cũng nhớ cái giường này lắm. Mấy tháng không nằm nó thôi mà em thấy có ngủ trên bao cái giường, cũng không bằng ngủ trên đây.”
“Chị cũng vậy đó, ở đây với em nhưng chị nhớ nhất vẫn là quê nhà mình. Nhờ Trà Điền ngát xanh một vùng, nhớ cha mẹ, nhớ các chị em chú bác làm công trong nhà. Họ à, khi hái trà về xong thường sẽ tụ tập một chỗ ngồi ngắt lá trà. Rồi truyền tai nhau nhiều chuyện, như thể hôm nay nhà nào cưới gả con gái, làm cỗ lớn không, nhộn nhịp thế nào. Lại có người kể ai đi chọi gà mà cuối cùng bị bà vợ bắt được rồi đẩy gà vào luôn nồi, tốn bao công nuôi đến cuối cùng là đẩy hết vào bụng.” Hai chị em nghe đến đó mà bật cười liên tục. “Nếu không phải, thân gia ở tận trên Đô Thành, chị nghĩ chị cũng không muốn đi lâu như vậy.”
“Thân gia? Là gì vậy chị?”
“Là gia đình của người mà mình phải gả tới.”
“Gả? Là cưới chồng phải không? Chị tới Đô Thành là để đi gả tới nhà người ta à?"
“Ừ, đó là hôn ước là từ bé đã định rồi. Mệnh từ cha mẹ, còn có hôn thư cài ấn từ quan phủ, không thể không hoàn thành lời hứa.” Bác Nhã nói đến việc này thả giọng chậm rãi.
Cô Trang lại không có chút không vui.
“Tại thân gia này mà chị phải rời đi à?”
Nàng cười giảng giải:
“Người chị cưới không gọi là thân gia, phải gọi là người thành hôn hoặc là vị hôn phu.”
“Ồ, thế vị hôn phu với chị có tuấn tú không?”
Nghe cô Trang hỏi vậy, nàng khẽ khẽ phất phẩy quạt nan, nghĩ ngợi.
Cha nàng đôi lúc cũng nói về tên đó cho nàng biết, nhưng có lẽ vì trong thâm tâm ông chẳng thích gì hôn ước này, nói thẳng ra là chẳng thích gì đứa con rể này mà chàng ta trong ký ức của ông thường không có được lời hay nào cho lắm.
“Một con lợn sữa béo trùng trục.” Cha nàng nói.
“Phương phi khoẻ mạnh.” Nàng hình dung lại cho cô chủ Trang biết.
“Được cái, thằng đấy nó cao, sải chân cũng được dài hơn những đứa trẻ bình thường, nếu không chỉ có thể lăn mới đi được.”
“Cao lớn oai vệ?”
Cô Trang gật đầu hài lòng.
“Tính cách thì sao?” Lại hỏi.
Cha nàng mỗi lần nói đến tính cách của chàng thường phải “hứ…hứ…hứ…” lên mấy tiếng đầu tiên, rồi mới nói.
“Thế gian này, chưa từng gặp người như nó bao giờ, chỉ cần cái gì xuất hiện trong tầm mắt nó thì phải nói là đừng hòng để yên cho. Trèo cây… vặt hoa… bắt cá… tham ăn… không cần biết là chó cái mới đẻ hay con khỉ trên cành không có gì là nó không nghịch ngợm được, không bao giờ ngồi yên được một chỗ. Trên đời này không ai có thể nghịch hơn nó được nữa.”
Lần này Bác Nhã rơi vào thế khó, suy nghĩ một lúc rồi mới nói được.
“Nhanh nhẹn hoạt bát? Gan hùm mật gấu? Tóm lại trên đời này không ai có thể hơn chàng được nữa.”
“Thế người đó nhất định cũng sẽ thông minh biết nhiều chữ như chị phải không?” Cô nàng vô cùng vui vẻ mà hỏi.
Nói về chuyện này cha nàng càng là ôm đầu mệt mỏi còn có chút cảm thấy mất mặt, tuy là thầy vỡ lòng cũng là người đặt tên cho Lý Lăng Siêu nhưng ông cũng phải công nhận tên này là nỗi nhục trong cuộc đời dạy học của mình.
“Một chữ nhẫn người ta viết một lần là được, nó viết ba lần không xong. Một bài toán “cửu cung đồ” nó tới hai chữ trong một ô cũng không quan tâm. Mỗi lần ta dạy nó không phải thước gỗ thì xách tai nếu không thằng lỏi không bao chịu ngồi yên trên bàn. Nó nhất định là sớm thất học theo mẹ nó kinh thương rồi.”
Bác Nhã cắn răng cắn miệng mà kể lại.
“Chàng chăm chỉ cần cù, không sợ gian khó, cha chị tặng chàng tên “Siêu”, cho dù không thành học sĩ như cha chàng thì những thứ khác nhất định cũng sẽ đạt được thành tựu siêu việt.”
Cảm tạ thế gian này sinh ra phương pháp tu từ, nàng cũng không coi như là nói sai, chọn lời hay chữ đẹp mà thôi.
Cô chủ Trang như bà cụ non, gật đầu hài lòng:
“Hai người như vậy, cũng coi như là…như là…”
“Trời sinh một đôi?”
“Đúng vậy, đúng vậy, đúng là trời sinh một đôi.” Cô Trang vốn đang vui vẻ nhưng lại bỗng chợt buồn bã. “Nhưng vì vị hôn phu này chị phải rời đi, anh ta chẳng tốt gì cả.”
“Ai bảo vậy? Em cũng nên cảm ơn người đó mới đúng, không có hắn à chị sẽ không gặp được em đâu.”
Cô Trang nghe vậy, nghĩ lại cũng thấy đúng mà gật gù tán thành.
Từ ngay biết Bác Nhã phải đi cưới chồng, cô chủ Trang tuy mới bốn tuổi đã chạy khắp viện, đi hỏi cái gì là cưới chồng, cần có những cái gì.
Ai hỏi thì cô bé ngây thơ đáp lại luôn là Bác Nhã lên Đô Thành cưới chồng, phải chuẩn bị quà mới đúng.
Rồi tất bật hỏi nàng khi nào cưới, còn dắt nàng đi tiệm châu báu xem đồ cưới nữa. Nhờ vậy mà không chỉ trên dưới Diêm Trang tới các hàng quán đều biết chuyện nữ tiên sinh nhà ông chủ Diêm phải tới Đô Thành cưới chồng, cô chủ là đang chuẩn bị quà kính tặng cô giáo.
Cho nên, đến khi ông chủ Nghiêm về nhà thì chuyện Bác Nhã đi Đô Thành cưới chồng đã là chuyện trên dưới trong ngoài, không ai không biết. Trên mặt ông có hơi tiếc nuối, đối với nàng vẫn là không muốn để nàng rời đi. Lão Mục lại khôn ngoan hơn cả, ở trong phòng ông chủ đưa cho ông xem một bản vẽ. Bản vẽ đó là ghi chép hai trong những tín vật trong cái hộp của Phó Bác Nhã, một bản là ghi chép một khối phỉ thuý thuỷ tinh được khắc hình ve sầu dưới bụng khắc chữ Phó mà ông gọi là “Thu Thiền Tử Kính”, một bản là ghi chép một khối phỉ thuý băng được khắc hình kim quy dưới bụng khắc tên “Lý Cảnh Huy, Tân Mùi”, thứ đó gọi là “Kim Quy Băng Thanh”. Hai vật này từ chất liệu thôi đã không hề tầm thường, các học sĩ tại mười hai hoàng thành đều chuộng thanh ngọc phỉ thuý làm đồ thể hiện cho sự thanh cao của họ. Cho dù là vậy thì vẫn có thứ ngàn vàng họ cũng không mua được chính là “phỉ thuý kính” và “lão khanh chủng” bởi hai thứ phỉ thuý này là chỉ có trong học phủ cao nhất Thư Viện hoặc là gia tộc Đại Học Sĩ lâu đời mới được sử dụng.
“Chỉ sợ nàng ta thân phận đặc biệt, lần này tới Đô Thành mà cưới chồng cũng là người có thân phận không tầm thường.”
Ông chủ Nghiêm cũng không hề coi thường mà nói:
“Thứ phỉ thuý tím này đẹp đẽ đặc biệt tuy kiểu dáng thế này ta chưa được có dịp nhìn thấy bao giờ nhưng Kim Quy Băng Thanh thì chỉ có học sĩ làm việc và học tập trong Thư Viện mới có được. Trên đó khắc tên học sĩ trong Thư Viện, dám bán ra ngoài thì chỉ có nước bị chém đầu mà thôi.” Ông chủ Nghiêm đặt hai bản vẽ xuống bàn, thở dài. “Với cả, Lý Cảnh Huy không phải là một cái tên tầm thường. Ta lần này tuy thoát được cái chết, nhưng cũng đã bị các quan lớn cướp mất không ít tiền bạc. Không thể lại đắc tội với quan lớn như thế này nữa. Đáng tiếc rồi, vẫn là chuẩn bị cho nàng ấy rời đi thôi.”