Hoàng Hôn Sau Ngai Xám

Chương Mở Đầu (Phần 2)

Dường như ngày hôm nay dài tới đáng sợ, nhưng cũng ngắn tới mức Timell tự hỏi liệu mình có đang còn sống không. Trước đó một chút, vào thời khắc trời lặng, khi ban ngày và ban đêm bắt đầu đổi chỗ cho nhau, mặt trăng xanh biếc trồi lên. Hình dáng của nó vừa đẹp, mà cũng vừa khuyết. Chỉ mới được nửa tuần trăng băng tan. Ban đêm, cái khắc nghiệt lạnh lẽo của vùng núi xám xịt ngự trị dữ dội hơn so với ban ngày.

Timell đang tựa lưng vào một tảng đá, sau lưng tảng đá là vùng biển trời. Anh vẽ ra hình ảnh những cái bóng lí nhí của thị trấn chài lưới mà anh sống gần một thành phố cảng biển có những bức tường cao bằng đá bazan màu xám đen. Con ngựa của anh đang nằm đằng xa, mắt đã nhắm lại sau một ngày dài đi đường. Lũ ngựa này khỏe và bền bĩ trong việc leo trèo, nhưng khỏe khác với không bao giờ mệt.

Anh nhìn thằng nhóc mười sáu đang nằm co ro cạnh con ngựa của bản thân, rên rỉ vì một con mắt bị hủy hoại, lưng quay về phía đống lửa cháy từ các nhành củi gỗ than mà Jan đã đi nhặt.

Jan đang hí hoáy đập bề mặt băng mỏng và lấy miếng thịt muối đã mềm lại khỏi đống nước tan từ tuyết trên một tảng đá bị lỏm nhẹ, ghim vào một nhành gỗ và đưa tới ngọn lửa đang cháy. Mùi mặn nồng bốc lên, cùng với đó là hương thơm khen khét của thịt làm cơn đau của Timell dịu lại đôi chút, nhưng dịu lại không đồng nghĩa với hiền và mềm mại như cừu non.

Chúng vẫn đang hành hạ anh, và có lẽ cuộc đời anh sẽ gắn liền với những cơn đau này mãi mãi.

Horell, với đôi mắt lờ đờ mệt mỏi, dùng một cành cây khơi đống tro ra khỏi ngọn lửa vẫn đang cháy và để chúng nhập chung với các lớp tuyết mỏng và nước xung quanh.

“Này, có cần phải làm tới mức đó không?” Timell hỏi, liếc sang tấm lưng vẫn còn run run yếu ớt của Mego.

Jan ngắm nghía miếng thịt mỏng, mắt đảo sang nhìn anh. “Chuyện gì?”

“Trừ khi mày bị thiểu năng,” Timell cảm thấy bản thân tàn phế cỡ này rồi, nếu có bị một dao găm vào giữa ngực cũng chẳng quan trọng nữa. “còn không thì mày hèn tới mức không muốn nói tới chuyện đó.”

“Hèn hay không thì mày thấy rồi đó.” Jan nhếch môi và đưa nhành cây với miếng thịt cho Timell.

Timell ngập ngừng nhìn Jan, như thể hắn đang cầm một con rắn độc và đưa cho anh chứ chẳng phải miếng thịt muối đã được nướng chín. Nó vẫn còn đẫm mùi muối tới rát mũi dù đã ngâm qua nước.

“Sợ tao bỏ độc à?”

Timell giật cành cây với miếng rỏ mỡ vàng đậm, cắn nhai. Vị mặn xộc vào mũi Timell, khiến nước mắt anh chảy ra. Timell quệt nhanh trước khi nó khô cứng trên mặt. Chỉ mới đầu mùa xuân, hơi thở của vị thần băng giá vẫn đang ngự quanh các dãy núi đá chập chùng, và Timell không muốn ngài ta có cơ hội dát vào mặt anh lớp băng lấp lánh.

Jan đá vào lưng Mego. “Thằng chột, mày có ăn không?” Nhưng đứa con hoang không đáp lời, như thể nó đã chết, dù Timell biết là không. “Được thôi, nếu đói chết thì đừng có hiện về tìm tao đấy. Các vị thần không yêu quý mày tới mức xô tao ngã xuống vực sâu đâu.”

Timell biết, Jan đang nhắc lại cú bắn tên hụt.

Thằng nhóc khẽ ngồi dậy, run rẩy, và quay mặt lại, ngọn lửa hắt lên gương mặt tiều tụy như muốn bệnh của nó, cùng với những vết bầm tím do bị Jan đấm vào. Nếu đêm nay nó chết vì vị thần mùa đông thổi làn hơi vào phổi nó, thì mình cũng chẳng ngạc nhiên. Không còn sự ngạo mạn, không còn sự hống hách của một thằng nghĩ bản thân có nửa dòng máu quý tộc, dù chỉ là một tiểu quý tộc nhỏ bé. Nơi con mắt bên phải của Mego, Jan đã tặng cho thằng nhóc một mũi dao, cắm vào giữa con mắt như thể cắt một miếng bơ. Máu đã đông lại thành dịch đen từ mi tới đuôi mắt, và con mắt đó sẽ không bao giờ có lại ánh sáng nữa.

Timell nhìn và Jan đưa nhành cây có ghim dải thịt mỏng cho Mego, và cậu nhận lấy, đưa lên miệng. Jan vỗ vào đầu Mego, “Mày mất một con chứ không phải mất hai, thằng con hoang. Thịt sống, thấy chưa? Dù nó xám xịt vì ướp lâu ngày thì mày cũng phải thấy nó còn sống chứ? Tao không có thời gian để nướng thịt cho một thằng tính giết tao.” Và Jan lại vỗ đầu Mego cái nữa.

Mego chỉ im lặng đưa thịt tới ngọn lửa. Dải thịt nhanh chóng sủi bọt trắng, tạo thành mùi thơm. Tiếng lép bép vang trong tiếng rít khe khẽ của gió. Mego để nửa ổ bánh mì đen hứng những giọt mỡ vàng đậm, rồi sau đó nhét miếng thịt vào ổ bánh và ăn. Jan cũng ăn phần thịt của hắn mà không cần bánh mì.

Horell mở túi nước chứa rượu và tu một ngụm, sau đó đưa Timell. “Uống đi, cơn đau sẽ bớt đấy.”

Timell lấy túi nước bằng da cừu và đưa lên miệng. Rượu chát rẻ tiền, nhưng có còn hơn không. Anh chợt nhớ cái hồi mình may mắn được uống rượu nho xứ Grapewine khi đi cùng Nam tước Winden tới trang viên của Hầu tước Warden trong một lòng chảo tại núi Ngọn Giáo Mây để dự xem buổi đấu thương ngựa nhân sinh nhật con gái ông ta. Timell còn mơ ước nếu có thể làm hiệp sĩ thi đấu và thắng, anh sẽ lọt vào mắt xanh của nàng, hoặc sẽ được gia nhập đội vệ thành cho vị lãnh chúa. Đôi mắt cô xanh như màu của lá cây mùa hè cùng mái tóc xám nhạt tựa đá hoa cương. Màu mắt và màu tóc của người xứ phương bắc. Timell mơ màn nhớ mình và Wyno – trước khi trở thành một gã lấy việc thổi phồng và đơm đặt làm mục tiêu sống – đã bàn lắm thứ về sắc xuân của nàng thiếu nữ Warden, cùng với tấm màn trinh tiết của nàng hẳn là màu hồng phấn. Hình ảnh nàng trước mặt khiến tim Timell như đập chậm lại, và mạnh hơn.

Trong bầu không khí nửa ấm nửa lạnh, một giọng nói trầm chợt cất lên:

“Này, Timell.”

Timell nhìn gã to xác nhất nhóm.

“Sao cậu lại làm công việc này?”

“Được cứu xong rồi phải lòng nhau à?” Jan trêu chọc, nhưng Horell không bận tâm. Gương mặt to bè với chiếc mũi gãy cùng một vết sẹo ở cằm phải vẫn hướng về phía Timell.

“Tôi muốn biết lý do cậu hỏi tôi câu đó.” Timell nói, không phải một câu hỏi.

“Tò mò.” Đôi mắt màu xám của Horell dường như sáng quắc lên, tựa ngọn hải đăng rực cháy giữa cơn bão. Cái nhìn của Horell khiến Timell bồn chồn. “Tò mò với người đã cứu mình, chuyện thường tình thôi.”

Timell nhìn thẳng vào đôi mắt mệt mỏi nhưng sáng của Horell. Anh không tìm ra được nguyên nhân cho câu hỏi của người bạn to xác, nhưng có lẽ anh chỉ nghĩ nhiều. Bị thương khiến người ta suy nghĩ đủ thứ chuyện và trở nên đa nghi tới hoang tưởng. Chưa kể tới việc lũ kền kền đá đang đậu quanh đây, những con quái vật ăn xác chết tởm lợm. Hồi chiều, khi bóng của Timell đổ dài ra và mặt trời dần khuất bên kia vách núi sừng sững, anh thấy những cái bóng chim cổ dài giương đôi cánh to vỗ phành phạch.

Ngoài đám bộ tộc vùng núi cao, những người lính và hiệp sĩ gác biên ải còn phải cẩn thận với kền kền núi, mèo ma và nhiều sinh vật có trời mới biết chúng đang nấp nơi nào để nhào ra vồ mồi. Có lần nọ Timell thấy một người bạn của mình chết vì vết cào của mèo ma. Trong bảy ngày, người đó lên cơn co giật, sùi bọt mép, sốt và sợ nước tới mức sẵn sàng cắn xé bất cứ ai nếu dám để nước ngay trước mặt anh ta.

Tất cả những mối nguy đó khiến dạ của Timell không thể yên bình nổi. Dù vậy, có gì đó trong đôi mắt Horell khiến anh muốn kể. Cả Jan cũng đã im lặng, Mego thì đang nhìn anh bằng con mắt còn lại. Giờ Timell mới thấy Mego bị đâm mất mắt trái. Anh thở dài, hy vọng Mego không lợi dụng trong lúc anh kể mà cho Jan một nhát dao vào cổ để trả thù.

“Nên bắt đầu từ đâu nhỉ? Tôi không phải một vị tu sĩ có khả năng kể chuyện.” Timell ngẫm nghĩ, nhìn vào ngọn lửa đang âm ỉ cháy. Cơn đau đã dịu lại. Timell lại tu một ngụm rượu hòng duy trì cơn âm ỉ nhẹ nhàng như kiến bò, thay vì là rắn rết cắn châm.

Horell lại thả vài nhánh cây vào để nó không tắt. Lửa có thể khiến lũ sơn tộc thấy, nhưng còn hơn là chết cóng hoặc bị lũ động vật trên núi tóm trong bóng tối. Nếu không có chuyện Mego bắn gã lùn thì bây giờ cả đám đã yên giấc trong tháp canh rồi. An toàn hơn ngoài này, không cần bàn cãi. Chà, họ còn tận mấy con đèo và dự kiến khoảng một ngày nữa, trừ khi chấp nhận có nguy cơ ngã gãy cổ nếu phi nước đại con ngựa lùn của họ.

Nhưng ai bắt ép anh nộp thuế cho ước mơ nào?

“Tôi có một đứa em trai.” Timell bắt đầu, đôi mắt nhìn thẳng vào Horell. Chàng trai cao lớn vẫn đang nhìn thẳng vào anh. “Tên nó là Jacos. Nó nhỏ hơn tôi tận mười tuổi.”

“Mày mấy tuổi rồi?” Jan lấy đâu ra trái táo chẳng ai rõ. Hắn cắt làm bốn, đưa mỗi người một miếng.

“Hai sáu.” Timell đáp và quăng miếng táo vào miệng nhai. Vị ngọt và chua lan tỏa trong họng. Anh nuốt và mút ngón tay. Mấy ngón tay âm ỉ đau khi miệng anh ngậm chúng. Nhưng cơn đau này thật dễ chịu. “Đã sáu năm từ khi tao lên đây.”

“Khi Jacos lên chín, nó mắc căn bệnh mà các thầy thuốc gọi là phổi khò khè. Dù đã uống các loại thảo dược, dùng đĩa trích máu, nó vẫn không khỏi. Bệnh tình ngày càng nặng. Jacos liên tục khạc ra những chất dịch màu vàng nhạt, rồi đậm dần. Thế là các thầy thuốc bảo tôi mang nó tới cho một Archen danh tiếng ở Bình Minh Xám, Archen Rahnam.”

“Tao biết ông ta,” Jan nói. “Gã y sĩ đó từng chữa cho tao cái chân gãy trước khi ông ta nhận lời Vua Xám làm việc trong lâu đài, còn tao thì bị đày lên cái chốn chó ăn đá gà ăn sỏi này.”

“Trên đây có mèo ma thôi. Lũ mèo thì không thể thuần hóa được giống chó săn.” Timell đáp.

Gã tóc vàng rùng mình.

“Tôi, cha và em trai ngồi xe chở lúa mì của một thương nhân từ phố cảng Sóng Xanh, vịnh Gió Tĩnh, tới Bình Minh Xám. Nửa tuần trăng, và những đồng bạc rơi vào túi của gã thương nhân đó.” Timell vốc một nắm tuyết và bỏ vào miệng, để cái lạnh làm buốt não mình một chút. Anh cũng ừng ực thêm một ngụm rượu, cơn đau khốn nạn đang bắt đầu lén lút trở lại. Và giờ nó dần dạt đi. “Chuyến đi an toàn. Nhưng bệnh tình của Jacos ngày càng nặng. Khi tới vương đô thì nó đã ho ra những chất dịch đặc kẹo màu vàng đậm, rất đậm. Đôi khi nó phải khạc mạnh mới ra được, hoặc sẽ bị vón ở trong họng và ngạt thở, phải nuốt ngược xuống bụng.”

Timell nhớ lại hình ảnh em trai ho xù xụ mỗi khi cần nôn ra bãi dịch đờm, như thể một con mèo đang ói ra búi lông của nó. “Rồi chúng tôi cũng gặp được vị Archen ở phía tây thành phố, khu vực dành cho giới quý tộc hoặc thương buôn giàu có. Archen Rahnam tỏ ra mến khách khi đón tôi, cha và em trai tôi. Nhưng tôi nhìn ra được ông ta có vẻ không thoải mái. Dù gì chúng tôi cũng là dân đen thì làm gì có nhiều tiền. Tiền để khám và đoán bệnh là đủ để chúng tôi ăn dè xẻn được hai tháng rồi. Khi bầu trời chuyển sang xế chiều, Archen Rahnam bảo rằng phải mổ.”

“Mổ?” Horell thắc mắc. “Mổ là gì?”

“Dùng dao đã khử trùng bằng lửa và rượu, rồi cắt một đường dọc theo sống mũi Jacos.”

“Bị điên à?” Horell hoảng hốt. “Như thế thì ai mà sống được?”

“Đó là phản ứng của cha tôi đấy.” Timell đáp. “Nhưng vị Archen...”

“Mà Archen là gì vậy?” Jan hỏi. “Tên à? Hay họ? Lúc tao được lão chữa, tao nghe Archen mà không hiểu gì.”

Timell nhún vai. “Không biết.”

Chợt giọng của Mego xen vào. “Archen là chức danh của các thầy thuốc đã tốt nghiệp ở Đại Học Viện.”

Jan quay sang Mego. “Chà, thằng con hoang mà hiểu biết đấy chứ.”

Mego không nhìn Jan, tiếp tục giải thích. “Các quý tộc thường thuê những người tốt nghiệp ở Đại Học Viện làm việc cho mình. Cha tôi cũng có một người. Nghe nói giá thuê không rẻ.”

Timell gật đầu đã hiểu. “Tóm lại là thế. Archen Rahnam bảo rằng đó là phương pháp mới được nghiên cứu gần đây. Ông ta bảo sẽ cho em tôi uống sữa anh túc tới mê man, kèm với vài loại thuốc dược thảo lạ lùng mà tôi chẳng rõ để giữ cho thằng bé không sốc tới chết vì đau. Rồi sau đó ông ta sẽ cắt sống mũi và nạo vét các chất dịch đặc kẹo bên trong ra.”

“Ông ta có bảo sẽ hết không?” Jan hỏi.

“Không.” Anh đáp.

Jan trừng mắt. “Cái quái gì vậy? Nếu thế thì...”

Horell huých Jan. “Để cậu ta kể tiếp, thằng lùn. Mày cứ xen vào.”

Jan liếc Horell, rồi cũng im lặng. Timell nhìn lên bầu trời, mặt trăng đêm nay thật lạnh lẽo. Tiếng gió luồn qua các vách đá nghe như tiếng ai oán của hàng ngàn người đã chết vì ngã khi đi qua dãy núi khổng lồ này.

“Bệnh tật không phải thứ muốn chữa là chữa được. Archen Rahnam đã cảnh báo tôi như vậy. Ông ta không lừa tôi, mà nói rất rõ rằng chưa chắc sẽ chữa được. Nhưng tôi và cha vẫn đồng ý. Thế là rắc rối tiếp theo nảy sinh: tiền.” Timell cười chua chát. “Chúng tôi chỉ là nông dân kiêm dân chài lưới. Ruộng chúng tôi thuê từ lãnh chúa. Tàu thuyền cũng là của chủ buôn. Mỗi khi ra biển là phải nộp lại một phần những gì bản thân đã bắt được. Mỗi tuần trăng là cơn ác mộng về thuế thân, thuế giáo hội, thuế đất. Lỡ đâu chiến tranh giữa các quý tộc hay mùa màng thất bát thì còn khốn đốn hơn. Chúng tôi còn lại bao nhiêu?”

Horell nhìn Timell bằng ánh mắt phức tạp. Timell nhận ra anh ta không ngu ngốc như vẻ bề ngoài. Anh ít khi để ý tới Horell dù cả hai đôi khi vẫn ăn uống cùng nhau tại sảnh chung. Jan thì im lặng lắng nghe. Timell biết một gã trộm cắp như hắn thì làm gì biết tới thứ gọi là tính toán mấy thứ đó. Dù vậy, con người luôn có khả năng cảm thấy được nỗi đau của đối phương, nếu phần người của Jan không bị phần máu của tộc sinh vật khác nuốt trọn.

Còn Mego thì đang nhìn Timell, con mắt thằng con hoang hội tụ đủ loại cảm xúc ngạc nhiên của một kẻ thường nhìn lên thay vì nhìn xuống. Và giờ nó đang nhìn Timell bằng sự bỡ ngỡ lạ lùng.

“Và rồi tôi tự bán mình. Lúc đó Hầu tước Warden đang tuyển quân để trấn giữ vùng núi này. Tôi được một tu sĩ mặc áo măng tô khuyên là hãy tự bán mình. Giá là ba đồng vàng.”

Jan huýt sáo. “Mày tự bán bản thân để lấy tiền chữa cho em trai?”

Timell gật đầu. Ánh mắt của Mego nhìn Timell đầy ngưỡng mộ. Anh ước gì Mego đừng nhìn anh như thế. Nó quá kỳ quặc. Horell thì vừa hớp thêm ngụm rượu từ túi rượu mà Timell đưa, sau đó dạt tuyết vào trong túi da đã xẹp nhiều.

Cơn đau dường như đang tha bổng cho Timell. Suốt nãy giờ nó chỉ là một con mèo ngoan, hoặc con sóng dạt dào đêm trăng khuyết. Jacos được dạy chơi đàn luýt từ một người hát rong, và nó hay hát những bài hát ví von rất hay cho Timell nghe. Anh chẳng còn nhớ bất kỳ bài nào, nhưng anh nhớ được cách Jacos nói chuyện vần điệu rất hay với giọng trong trẻo của nó. Anh nhớ cha còn tính đưa Jacos vào giáo xứ địa phương, nhưng Timell lập tức ngăn cản. Anh muốn em mình có con cái. Nó có thể cầm đàn luýt để chơi và hát những bản nhạc, nhưng anh không muốn nó chỉ có thể hát.

“Vậy, tay lãnh chúa đó có tức giận không?” Horell hỏi.

Timell cười và tiếp tục kể. “Hầu tước Warden không tức giận, nhưng gã tổng quản của vị lãnh chúa đấy thì cười phá lên vì sự ngạo mạn của tôi. Ngài Warden chỉ nhìn tôi chằm chằm, rồi hỏi tôi làm gì với ba đồng vàng đó. Tôi bảo mình dùng chúng để chữa bệnh cho em trai. Hầu tước gật đầu, và bảo rằng ông ta không thể cho tôi ba đồng vàng, vì nếu vậy thì sẽ tạo tiền lệ và ông ta sẽ phải tốn thêm sáu trăm đồng vàng nữa cho hai trăm người khác được ông đưa tới Dãy Núi Đá. Trộm cướp, hiếp dâm,” Timell quay sang Jan, thấy hắn đang nhai bánh mì đen đã được nhúng mềm, vô tư vô lo. Anh vẫn tiếp tục nói trong lúc quan sát, “tuyên truyền dị giáo, hoặc đơn giản là chỉ muốn rời đi. Từ già tới trẻ. Từ hữu dụng tới vô dụng.”

“Hầu tước Warden sai người lấy cho tôi tôi cung và tên. Có lẽ Cha Nhân Từ và Con Trai của ông đã mỉm cười với tôi. Một người chỉ cầm cung được vài lần như tôi lại bắt trúng hồng tâm tận ba lần liên tiếp. Vị lãnh chúa gật đầu bảo rất tốt, rồi bảo cận vệ của ông ta quăng cho tôi một thanh kiếm thép lưỡi cùn. Nhưng tôi không đấu với thằng nhóc cận vệ của vị hầu tước, mà đấu với một thằng cận vệ lắm mồm, đi cùng với một hiệp sĩ cũng lắm mồm không kém. Tôi chiến đấu hết sức, rồi thắng nhờ hình thể. Tôi đã hai mươi, có thể nói là khỏe, còn thằng nhóc đó mới mười bốn, còn non nớt và nhỏ con. Sau khi đánh cho nó bầm người, tôi cũng chẳng lành lặn gì. Hầu tước Warden vỗ tay và bảo rằng đó là con trai ông ta.”

“Trời ạ.” Mego khẽ thốt lên. “Thế mà anh vẫn ổn đấy.”

“Hơn cả ổn. Tôi được vàng. Và tôi mang cho cha.” Timell không cười, vì chuyện sau đó với anh tựa như hàng vạn con dao xuyên qua tim. “Chúng tôi vui mừng vì đã có tiền chữa cho em trai. Cha bảo rằng nên mau chóng mang tiền tới cho Archen Rahnam, tránh bị trộm mất. Tôi gật đầu và bảo dù sao cũng có tiền, tôi muốn đi mua ít thịt ngon cho cả ba cha con ăn. Cha tôi đồng ý. Tôi đi mua thịt, và rồi... rồi...” Timell không kìm được nữa. Nước mắt của anh chảy ra, và nó rơi xuống, phần nước trên má đông lại lập tức, hay nó đông lại nơi dưới cằm trước khi dải nước tách ra, anh chẳng rõ. “Ông ấy... ông ấy bị... bị hại... bị đâm... Tôi thấy cha ngay con hẻm, bị một gã đâm vào ngực, lấy túi tiền rồi bỏ chạy. Tôi chạy tới. Cha tôi toàn là máu. Cha bảo tôi đuổi theo gã đó, nhưng gã đã lẩn đâu mất. Tôi chỉ thấy gã có mái tóc vàng và tai gã hơi nhọn.” Sau một năm lên chốn này, rồi khi Jan cũng lên đây, Timell đã nghĩ rằng Jan là cái gã hồi xưa, nhưng cái xứ này có rất nhiều tên tóc vàng tai nhọn. Và ở vương đô Bình Minh Xám thì không hề thiếu. Thật ngu dốt khi lập tức tin rằng Jan là gã có dòng máu tạp chủng đó.

Timell nhìn Jan, đôi mắt của Jan thật tĩnh lặng. Chúng ánh lên vẻ đồng cảm khi nhìn Timell. “Khổ thật nhỉ.”

“Chắc vậy.” Timell mỉm cười. “Cha chết. Em trai chết. Và giờ tôi ở đây, sống qua ngày, đợi tới khi mình chết.”

“Không đâu, tôi sẽ mua lại anh, ba đồng vàng.” Mego nói nhanh.

Nhóc con vẫn chỉ là nhóc con. Nhưng Timell không cười khẩy, mà là Jan. “Cũng mạnh miệng đấy, thằng chột.” Mego quay đi, không dám liếc nhìn Jan. “Chuộc lại thân cho Timett...”

“Timell.” Anh sửa.

“Sao cũng được.” Gã này luôn thích chọc điên người khác. “Chuộc lại thân cho thằng tóc nâu này xong rồi sao? Mày tính để gã làm lính cho mày à, nhóc?”

“Anh ta có quyền làm mọi chuyện anh ta muốn. Tự nắm lấy tự do của bản thân, đó là gia ngôn của gia tộc tôi.”

Jan chế giễu. “Nghe hay đấy, nhưng nó không giúp mày chống lại lệnh của quý ngài lãnh chúa đã tống mày lên đây nhỉ?”

“Là tôi tự nguyện.” Mego yếu ớt nói, rồi quay đi, dùi mình vào bên sườn của con ngựa lùn. “Đủ rồi, tôi đi ngủ đây.”

“Được thôi, ngủ ngon nhé bé gái mắt chột.” Jan hôn gió, rồi sau đó duỗi người và tìm tới chỗ ngựa của bản thân đang nằm ngủ. Gã thả lưng xuống lưng con ngựa đá và lập tức thở phì phò, chẳng biết đã ngủ hay chưa.

“Vậy tôi sẽ gác đầu.” Timell nói.

Horell gật đầu. Khi cơ thể của gã khổng lồ nằm yên trên đất, anh ta nói, “Cám ơn cậu chuyện hồi chiều.”

“Nếu mỗi lần cậu cám ơn mà tôi được một đồng vàng thì tôi sẽ vui lắm đấy.”

Cả hai đều cười.

“Này, người anh em,” Horell nói trong lúc hơ túi nước trên ngọn lửa, giọng trầm và du dương tới lạ trong cái lạnh của dư âm đông giá. “Sáng mai, để tôi điều khiển ngựa, anh cứ ngồi sau tôi.”

Horell rướn người tới đưa túi nước đã hơ ấm cho Timell. Sau đó không đợi Timell đồng ý hay không, Horell đã nằm xuống cạnh con ngựa của Timell và nhắm mắt, một lúc sau đã ngáy khò khò.

Cơn đau đã quay trở lại. Vai, cẳng tay, cổ tay và đôi gót chân bị rạn xương. Dường như có những con kiến bò bên trong đó, nhẹ nhàng cắn từng cú. Cơn đau đã nhân từ chỉ như mèo ve vuốt suốt thời gian dài, và giờ nó đang đòi nợ. Timell uống thứ nước tan từ tuyết đã được làm nóng và cảm thấy sự ấm áp ôm lấy mình. Chợt hình ảnh anh ngồi trên ngựa đặt tay lên eo của Horell hiện ra. Timell cố nín cười.

Anh cố nhấc cơ thể dậy, xoay người, cởi quần và tiểu qua tảng đá mình tựa lưng. Nước tiểu nóng hổi cong lên, bay xuống vực sâu hun hút tối tăm, nơi bên dưới là những khu rừng chạy theo đồi núi, hoặc những con đèo xuyên núi, các hang động. Timell không chắc, và có khi anh chẳng còn có thể làm gì nữa nếu những vết thương này không lành. Lạc quan đi nào, anh bạn. Dường như tảng đá đè nặng lên người Timell đã vỡ vụn thành hàng vạn vì sao sau nhiều năm nó hiện diện.

Timell kéo quần lại, buộc dây đai da và ngồi xuống. Mùi ngai ngái của nước tiểu làm anh thấy thư thái lạ lùng.

Nhưng tất nhiên, cơn đau là con điếm ghẻ lở vô đạo. Đôi khi Timell rít lên vì sự bùng nổ của những vết thương, đôi khi nó lại âm ỉ như ngọn lửa trước mặt anh và đợi anh mất cảnh giác để trồi dậy bất chợt như các rừng đá nhọn khi thủy triều rút bất ngờ dù đêm đó trăng vẫn tròn vành vạnh trên bầu trời.

Mặt trăng trôi chầm chậm, như thể nó là một thực thể sống đang ngắm nhìn bốn con người tại chốn hoang vu này. Đôi khi có tiếng hú của của loài sói xám vang lên. Chúng là những con sói lọc lõi, sống len lỏi quanh các dãy núi. Lũ sói không thể leo trèo khỏe mạnh như dê núi, nhưng chúng vẫn rất nguy hiểm nhờ thông thạo địa hình và luồn lách.

Rồi Timell gọi Horell, sau đó anh nằm xuống. Ánh sáng của đống lửa cháy, nhành củi gỗ kêu lách tách nghe thật dịu êm. Và mắt anh nhắm lại, giấc ngủ chập chờn trờ tới.

***

Có tiếng động, Timell nhận ra và tỉnh dậy. Nhưng khi anh ngồi dậy và mở mắt, trước mặt anh không phải ba người, mà là hơn chục người. Cả thảy mười một, gồm cả Horell, Mego và Jan.

Những kẻ còn lại mặc áo lông hoặc da thú. Một gã chột mắt choàng cái khăn lông thú màu đêm huyền có vẻ làm từ lông mèo ma. Có kẻ đeo những cái nanh của con gì đó nơi cổ. Kẻ thì mặc cả áo giáp chần bông, hoặc áo chẽn, đủ thể loại.

Mego đang quỳ, hai tay đặt dưới đất, run rẩy liếc nhìn những kẻ xung quanh. Đứa nhóc chưa bao giờ chiến đấu với những kẻ thuộc bộ tộc vùng núi, và giờ đây giữa cả đám người lớn bặm trợn, râu ria hoặc cạo trọc, trông nó như một thằng oắt lần đầu nhìn thấy máu và vũ khí. Jan cũng đã bị một tên có đôi mắt cáo và trọc phần mái khống chế. Gương mặt Jan tĩnh lặng. Sự tĩnh lặng của kẻ đã sống sót ở cái vùng này tận năm năm rồi.

Timell rít lên vì cơn nhói ở eo khi cố đứng dậy. Lũ dân vùng núi cười phá lên. “Chà, một con khỉ què nhỉ? Chín người là có đông quá không?”

“Tám thôi, Fawan à.” Gã khoác áo lông chồn nói với gã mặc áo chẽn bị hói. “Lewyn không tính.”

“Dùng dao mổ trâu để giết gà rồi.” Gã choàng khăn lông mèo ma nói.

“Lũ khốn!” Timell gầm lên, tay đưa tới bao dao gần đó. Nhưng một gã mang giày da đã con dao đi, và đạp lên bàn tay anh. Anh thét lên.

“Dừng lại!”

Horell bước tới và xô gã sơn tộc mặc giáp vải vừa đạp Timell đi. Đôi mắt của Horell ánh lên vẻ giận dữ khi ánh đuốc của đám người hắt vào. “Tôi đã bảo là không được hại họ.”

“Thế này là sao, Horell?” Timell hỏi. Anh không ngờ giọng mình lại tức giận tới mức này. Thật không ngờ. “Tại sao?”

Horell nhìn xuống Timell. Gã ta quỳ một chân. Gương mặt cả hai thật gần nhau. Timell ngỡ ngàng nhìn đôi mắt của Horell. Đôi mắt của kẻ phản bội. “Đơn giản mà Timell,” Gã nói.

Một thằng nhóc khoác áo lông cừu xuất hiện từ sau con ngựa của Timell. Nó chạy tới. Trông nó chỉ mới tám hay chín gì đó. “Chúng ta sẽ cho họ nhảy đúng không anh Horell?” Giọng nói dửng dưng của thằng nhóc khiến Timell rợn cả óc. “Đúng không anh?”

Horell mỉm cười. “Không đâu, Lewyn, chúng ta cần họ.”

“Thằng chó phản bội.” Jan chửi, và con dao kề cổ giờ đã dính vào da cổ, máu rỉ ra nhưng Jan chẳng rít đau. “Chà, lại chảy máu rồi.” Jan mỉa mai. “Hai lần chảy máu trong cùng...” Dường như con dao trong tay gã mắt cáo lại sâu hơn một chút, khiến Jan nhăn mặt. Gã mắt cáo cao hơn Jan nửa cái đầu.

“Thằng chuột nhắt này thích buông mồm đấy chứ.” Gã mắt cáo cười khẩy.

“Im đi, Jan.” Timell gắt. “Nói đi, Horell, chúng mày muốn gì?”

“Santigys muốn có thêm người vào nhóm, chỉ vậy thôi Timell.” Horell vẫn đang quỳ và nhìn Timell. Ánh mắt chế giễu của hắn khiến Timell sôi ruột gan. “Không phải chúng ta đều có những chuyện bất mãn với lũ quý tộc ư? Gia nhập với chúng tôi, và mọi chuyện sẽ tốt hơn.”

Timell nhổ toẹt vào mặt Horell. Gã cao to đấy không hề tức giận. Hắn chùi nước dãi đó bằng cách liếm, nuốt vào miệng và mỉm cười, khiến Timell buồn nôn. “Tôi đã bảo Wyn nên xem lại mắt bản thân, đúng chứ? Thật buồn cười khi Wyn bảo tôi và Auryn hôn nhau đấy. Nhưng đêm đã khuya, Tim à. Đi cùng chúng tôi. Tôi và cậu...”

Có tiếng thét vang lên, và Timell nhìn sang phía Jan với gã mắt cáo. Cổ của gã mắt cáo giờ đây có một nhát đâm sâu bằng chính con dao của hắn. Hắn ta khục khặc vài cái, quỵ xuống rồi bất động. Jan, với con dao đã tứa máu cổ mình trong tay, lập tức lao qua giữa hai gã tộc miền núi. Một trong số đó là gã Fawan tay bị cụt. Rồi sau đó Timell rút thanh đoản kiếm của bản thân ra, chặn được lưỡi rìu của gã mặc áo choàng lông chồn to con hơn hắn bằng cách hất đường chém sang bên, sau đó đá vào đầu gối gã đàn ông và cắm dao xuống. Nhưng con dao chưa kịp cắm vào đầu gã mà Jan vừa khiến gục xuống thì một mũi tên bay tới, cắm thẳng vào bên vai Jan. Đoản kiếm trên tay gã tai dài rơi xuống, và gã lộn nhào thẳng về phía con ngựa đá đang hoảng hốt của mình, lấy cái khiên và chắn được cả đống tên. Con ngựa hí lên. Jan thúc cương và bỏ chạy với tên bắn sau lưng. Một mũi nữa găm vào tay, nhưng không có tiếng hét mà chỉ có tiếng người phi.

“Để tao rượt theo nó.” Gã Fawan cất thanh kiếm lai của mình vào bao kiếm ở eo rồi đi tới ngựa của Timell.

Timell đứng dậy, và rút con dao bên trong bao được buộc ở mạn sườn, phía sau lớp áo lông thú. Nhưng trước khi anh kịp làm gì hay biết mình nên làm gì, một mũi tên của một gã mặc giáp xích với đôi mắt xám tro bật khỏi nỏ, bay tới và cắm vào ngực anh. Timell há hốc và lùi lại, bàn tay cầm dao buông thõng ra.

“Không!” Horell thét và nhào tới tính làm gì đó, nhưng anh không còn đủ khả năng để nghĩ xem Horell tính làm gì nữa.

Mego đang nhìn anh, con mắt còn lại mở to.

Và bàn tay Horell đưa tới tính nắm cổ áo anh. Gót chân anh va chạm phải gì đó, cơn đau nơi gót chân không đau bằng cơn đau của mũi tên bên vai.

Anh rơi khỏi mỏm đá.

Mình rơi rồi. Sáu năm. Lần đầu mình rơi.

Lập tức là tiếng gió rít gào oán than lạ thường. Tiếng gào của ta sẽ hòa cùng linh hồn của những người cũng chết vì rơi khỏi vách núi. Mặt trăng trên bầu trời dường như có mắt và miệng. Những ngôi sao không đứng yên một chỗ mà chúng di chuyển, nhảy múa và ca hát. Có một bài hát em trai anh đã hát về mặt trăng và những vì sao. Em anh thích chòm sao Lâu Đài.

Mặt trăng cong miệng lên cười. Nó có gương mặt của cha. Cha anh trước khi chết. Và tiếng cười vọng lại từ đâu đó.

Lạnh quá... cha ơi... Đau quá...

Và gương mặt của em anh hiện lên, mỉm cười.

Timell cũng cười đáp lại. Anh nhắm mắt.

Suy nghĩ cuối cùng của anh: Anh yêu em, Jacos.

Và rồi một âm thanh nghe như tiếng ai đó đấm vào một cái gối mềm nhồi đầy lông vũ.

Tầm nhìn của anh là một màu đỏ thẫm.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px