CHƯƠNG III. CUỘC SỐNG MỚI
Thị trấn nằm ven hai bên đường quốc lộ 6. Dưới thời Pháp thuộc, có một thời gian thị trấn bị đặt dưới chế độ quân quản. Nơi đây vẫn còn nhiều dấu ấn của chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa. Có rất nhiều người miền xuôi lên đây lập nghiệp. Thị trấn là nơi sinh hoạt chung của các dân tộc Kinh, Thái, Hmong, Khơ Mú, Kháng, La Ha… trong đó người dân tộc Thái chiếm đa số. Văn hóa cũng là sự pha trộn của nhiều dân tộc, vùng miền khác nhau. Người Kinh với tư duy nhanh nhạy thường chọn mua nhà dọc hai bên đường để thuận tiện buôn bán. Bên cạnh là các khu làng tái định cư, nơi sinh sống của các gia đình thuộc nhiều dân tộc. Chỉ khi đi sâu hẳn vào các vùng đệm thì mới thấy làng của bà con dân tộc. Mỗi ngôi làng là nơi cư trú của tộc người khác nhau. Đông nhất là làng của người Thái, Hmong. Có những tộc ít người làng chỉ vỏn vẹn hai ba chục nóc nhà. Những ngôi làng nằm tách biệt, yên bình trong thung lũng, xung quanh là các dãy núi nhấp nhô. Thị trấn có độ cao hơn 700m so với mực nước biển nên khí hậu lạnh, nhiều sương mù.
Ở một mình, Phong ngại nấu nướng nên chọn ăn cơm bụi, cách trường mấy trăm mét có quán cơm của chị Xuân. Từ ngày dạy học ở đây Phong thành khách quen của chị. Chị Xuân kể:
- Chị có một ông chồng đam mê cờ bạc. Mới lấy nhau không được bao lâu, bao nhiêu vốn liếng hai bên nội ngoại tặng ngày cưới đều bị lão ta đem nướng vào những cuộc đỏ đen.
Rồi mọi thứ có giá trị trong gia đình đều bị ông chồng đem bán. Chán chồng chị li thân mang theo hai đứa con ra đây mở cửa hàng. Ấy vậy mà thi thoảng chồng chị vẫn lấy lí do ra thăm con để quấy nhiễu xin tiền. Đợt rồi ông chồng bị bắt vì tham gia cờ bạc, ba mẹ con chị mới được yên ổn.
- Sao chị không li dị cho đỡ lằng nhằng? - Phong thắc mắc hỏi.
Chị xuân thở dài, buồn rầu:
- Vùng quê này vẫn nặng tư tưởng phong kiến lắm em ạ, phụ nữ bọn chị bỏ chồng hay chồng bỏ thì bố mẹ xấu hổ với làng xóm, sợ bị đàm tiếu, dị nghị nên chị đành cắn răng chịu đựng. Có chồng còn khổ hơn em ạ, chỉ biết nhủ thầm thôi thì lãi được hai đứa con.
Quán chị bán tạp hóa kiêm ăn sáng và tranh thủ nấu thêm cơm buổi trưa, tối cho một số khách vãng lai nên thực đơn cũng không nhiều, đôi khi cũng là món ăn nhà chị nấu nhiều hơn một chút cho khách. Đặc biệt buổi sáng trên này có món bún chả chan. Ở Hà Nội, Phong vẫn ăn bún chả với nước mắm chấm hòa chua ngọt, tỏi ớt…, ăn với rau thơm. Lần đầu tiên Phong được ăn bún chả chan canh. Thịt băm với hành, cuốn với lá xương sông, thêm tí rau “thì là” chan canh ăn vị rất lạ.
Buổi sáng, đàn ông vùng cao hay uống rượu, món ưa thích là đĩa lòng với bát tiết canh. Thêm “cút” rượu ngô là bữa sáng có thể kéo dài đến tận trưa. Quán lòng bao giờ cũng đông vui, rôm rả. Họ nói đủ thứ chuyện, đa phần đều khoe mẽ, vẽ ra những tương lai hoành tráng, nhưng thực tế thời gian chính của họ đều dành cho rượu.
Vùng cao, uống rượu cũng là một thứ văn hóa. Ngồi vào mâm mà không uống là coi thường nhau. Nói đến mâm thì bà con không sử dụng mâm nhôm, đồng hay gỗ mà bà con sử dụng mâm được đan bằng mây và tre, cũng to như mâm dưới xuôi nhưng có chân quây cao khoảng 20cm. Nó giống cái bàn nhiều hơn. Mâm được đặt trên chiếu, nếu nhà nào có điều kiện sẽ thêm đệm ngồi bằng vải bông.
Trong bữa rượu tất cả đều là anh em có thể nhường cơm, sẻ áo. Kết thúc bữa rượu kẻ loạng choạng, người gục tại chỗ.
Phụ nữ đã quá quen với những cảnh này. Họ vui vẻ tán gẫu nhìn cánh đàn ông đang vung chân, vung tay, nói chuyện thì như hét vào mặt nhau. Rồi kết thúc bữa rượu họ lặng lẽ chăm sóc cho những người được coi là trụ cột đó. Đàn ông ở đây nhiều người vẫn còn tính gia trưởng. Họ coi việc nhậu nhẹt giao lưu với bạn bè là trách nhiệm của nam giới trong gia đình. Việc đồng áng, kiếm tiền là trách nhiệm của phụ nữ. Người vợ thường cam chịu, tần tảo làm việc.
Uống rượu vùng cao suy cho cùng vẫn là một trải nghiệm đáng nhớ cho những người miền xuôi lần đầu đặt chân lên đây. Vùng cao Tây Bắc mùa đông rất lạnh nên đàn ông thích uống rượu nặng. Điều làm nên sự khác biệt và hấp dẫn của rượu vùng cao, trước hết phải kể đến nguyên liệu và cách ủ rượu. Nguyên liệu thường là ngô hoặc thóc nếp nương nảy mầm. Nếu dưới xuôi dùng men gạo thì bà con trên này dùng men lá, khoảng tầm 15 loại lá cây rừng. Hai loại rượu nổi tiếng là rượu ngô Bản Phố và rượu nếp San Lùng. Rượu ngô phổ biến hơn vì nguyên liệu rẻ, dễ kiếm. Rượu ngô, với đặc trưng của men lá, khi uống có vị hơi gắt nơi cổ họng, nhưng lại lan tỏa một mùi thơm thoang thoảng, quyến rũ của lá rừng. Nó kha khá giống rượu hoa cúc dưới xuôi. Tuy nhiên, rượu ngô vùng cao có một chất riêng, một sự mạnh mẽ, nồng ấm hơn, như chính khí chất của con người nơi đây.
Người vùng cao chỉ uống rượu trắng không uống rượu ngâm cây thuốc hoặc củ, lá như dưới đồng bằng. Mấy ông quảng cáo rượu thuốc của người dân tộc là tào lao, do người Kinh chế ra mà thôi.
Lần đầu tiên Phong được trải nghiệm uống rượu trên vùng cao là sau một buổi giao lưu bóng đá với thanh niên địa phương. Bác Bình, trưởng thôn, một người hiếu khách, đã ngỏ lời mời các thầy giáo ở lại ăn cơm. Nhà bác Bình trong thị trấn, gần sát với khu tập thể giáo viên. Tuy ở thị trấn nhưng gia đình bác vẫn giữ được ngôi nhà sàn. Bác giới thiệu ngôi nhà này được dựng từ thời ông của bác.
Ngôi nhà toàn bằng gỗ, được đặt trên tám cái cọc lớn. Nhà rất rộng, nghe đâu ông nội bác Bình trước là trưởng bản, nên đây cũng là nơi diễn ra các buổi lễ, thờ cúng. Cầu thang đi lên nhà được đẽo từ nguyên một thân gỗ, bậc thang trơn nhẵn, vẹt ở giữa là minh chứng cho quãng thời gian mà nó đã trải qua.
Bên cạnh nhà sàn, bác đã xây thêm một ngôi nhà gạch, mái ngói. Mỗi khi có dịp khách quý bác sẽ mời lên nhà sàn uống rượu.
Phong cùng mọi người bước lên ngôi nhà sàn. Bên trong đã có bốn mâm cơm chuẩn bị sẵn. Bốn chiếc mâm bằng mây, xung quanh có đệm ngồi bằng bông gạo, hoa văn thổ cẩm. Phong trẻ nhất và là người lạ ở đây nên nhận được sự quan tâm ưu ái bác Bình, bác xếp Phong ngồi cạnh.
Lượt rượu đầu tiên mọi người cùng nâng ly chúc mừng buổi giao lưu bóng đá. Phong tục trên này trước khi uống rượu, chén đầu tiên sẽ đổ hoặc vẩy một chút rượu xuống đất đó là thể hiện lòng nhớ ơn tổ tiên của người Thái.
- Người ta quan niệm mình đi uống rượu thì có họ hàng, tổ tiên ông bà ông vải đi theo bảo vệ mình, nên mình phải vẩy ra cho họ cùng ăn - bác Bình giọng trầm ấm xen chút trân trọng nói với Phong và mọi người.
Chén rượu đầu vừa đặt xuống bác Bình đã rót 2 chén đầy đặt trước mặt Phong, bác mỉm cười, giọng nói đầy thân tình:
- Chào mừng thầy Phong về đây công tác, 2 chén rượu này chúc thầy 2 chân khỏe mạnh để mang cái chữ về cho các con.
Lời chúc của bác Bình khiến Phong vô cùng xúc động. Nó không chỉ đơn thuần là một lời chúc sức khỏe, mà còn là sự gửi gắm, là kỳ vọng lớn lao vào sự nghiệp trồng người mà anh đảm nhận. Phong nhận ra rằng, người dân nơi đây, dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, dù bận rộn với nương sắn, ruộng ngô, nhưng họ lại có một tình yêu vô bờ bến dành cho tri thức. Những đứa trẻ có thể chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học, nhưng bố mẹ chúng thì ngược lại, họ luôn khắc khoải mong mỏi con mình có thể thoát ly khỏi vòng luẩn quẩn của cuộc sống mưu sinh, vươn xa hơn, chạm tới những chân trời tri thức rộng lớn.
Phong nâng ly cảm ơn tình cảm của Bác. Chất rượu ngô cay nồng cổ họng. Ba chén rượu đã làm Phong đã thấy cồn cào, rượu mạnh cộng bụng đói càng chóng ngấm. Bác Bình tinh ý vỗ đùi Phong:
- Mời thầy “kin khẩu” đã rồi mới “kin lầu” được.
Phong ngẩn tò te thì anh Tuấn bảo vệ giải thích:
- “Kin khẩu” là ăn cơm, “kin lầu” là uống rượu.
Bác Bình múc cho Phong bát canh rêu (món canh được làm từ rêu mọc ở khe đá suối):
- Thầy húp bát canh cho ấm bụng. Hôm nay thầy nhất định phải say với chúng tôi. Thầy mà không say là chưa thật lòng đâu. Tối nay say thầy ngủ đây, mai về.
Phong thấy lòng lâng lâng trước sự trân trọng của Bác. Chiều đá bóng, bụng đói Phong ăn gì cũng thấy ngon. Lấy miếng măng luộc chấm với chẩm chéo vừa cho vào mồm Phong thấy đắng ngắt, cố nhai và nuốt thì Phong thấy ngòn ngọt trong miệng. Nhìn Phong ăn ai cũng biết đây là lần đầu đầu Phong ăn món ăn độc đáo này. Món này là măng đắng, còn chẩm chéo là nước chấm quen thuộc của bà con vùng cao gồm muối, ớt, tỏi nướng giã với rau mùi thơm và rau mùi gai. Đây là chẩm chéo tươi, còn chẩm chéo khô thì phức tạp hơn.
Bác Bình chỉ một thanh niên, giới thiệu với Phong giọng đầy trân trọng:
- Đây là “cậu” bên ngoại, hôm nay biết các thầy đến chơi nên sang tiếp rượu các thầy.
Ông “cậu” hiểu ý nâng chén rượu mời Phong. Tuy hơn Phong vài tuổi nhưng nhìn ông cậu già dặn hơn hẳn. Người Thái rất chu đáo với “cậu” thể hiện sự tôn trọng với họ hàng bên vợ. Trước mặt “cậu” sẽ có thêm hai chén rượu nữa với ý nghĩa người đàn ông có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ già hoặc thờ cúng sau này.
Lần lượt từng người trong gia đình bác Bình đi mời rượu anh em giáo viên. Ai mời cũng khéo, khiến anh em không thể chối từ. Phong cũng đã ngà ngà say. Nhìn xung quanh mọi người mặt đỏ tưng bừng, giọng đã méo, tay cầm đũa đã không còn chuẩn xác. Những câu chuyện đã trở nên vô nghĩa. Tất cả cùng cười, cùng nói, những cái bắt tay, cái ôm thật chặt không vì một lí do gì cả.
Không chỉ mình Phong được đón tiếp chu đáo, tất cả anh em giáo viên đều được chăm sóc cẩn thận. Với người Thái khách mà chưa say là chủ nhà đón tiếp chưa nhiệt tình. Không ai đánh giá khi khách say rượu. Khách say quá không về được, chủ nhà sẵn sàng trải chăn đệm để khách ngủ lại. Đó không chỉ là sự chu đáo về vật chất, mà còn là sự sẻ chia về mặt tinh thần. Nó cho thấy, họ coi khách như người thân, như một phần của gia đình.
Ở đây nếu ai không uống nổi nữa thì sẽ úp cốc xuống, đặt hai chiếc đũa chéo nhau. Tuy nhiên Phong chưa nhìn thấy ai làm vậy, mà có làm chắc chủ nhà cũng tìm mọi lí do để mời tiếp.
Bác Bình thể hiện đúng phong thái của chủ nhà liên tục mời rượu, gắp thức ăn cho mọi người. Biết Phong là người dưới xuôi mới lên bác tỉ mỉ giới thiệu từng loại món ăn trước khi gắp cho Phong. Bác nói:
- “Pay xấu kin pa, xấu ná kin cáy” (đi xa ăn cá, về nhà ăn gà)
Bác gắp cho Phong miếng thịt gà. Phong chần chừ khi thấy miếng thịt gà đen sì trong bát. Hiểu ý bác Bình khoe:
- Đây là giống gà “mông” thịt đen, xương đen nổi tiếng trên này thầy nhé!
- Mạn phép xin hỏi thầy Phong, hai cụ bên nhà đều khỏe chứ ạ?
Phong ấp úng:
- Cảm ơn bác, bố mẹ cháu đều khỏe ạ.
- Vậy tôi xin phép được gửi chén rượu chúc sức khỏe hai cụ.
Nói rồi bác Bình rót cho Phong hai chén rượu đầy. Phong lễ phép nâng chén rượu trước lí do không thể khước từ. Rượu lúc này đã gắt lên tận cổ, Phong cố nuốt hai chén rồi húp vội bát nước canh để giảm sốc cho cái bụng đang bắt đầu sôi sục.
Một người phụ nữ dáng người phúc hậu bước sang từ mâm bên cạnh, tay cầm chiếc ly nhỏ.
- Mạn phép hỏi các thầy bữa cơm hôm nay có vừa miệng không ạ?
Anh Tuấn có tuổi nhất thay mặt anh em cảm ơn tấm lòng thịnh tình của bác gái chủ nhà và đã thông thuộc tục lệ nơi đây anh Tuấn lên tiếng:
- Thay mặt anh em giáo viên xin phép được mời bác gái một chén ạ.
Bác Bình gái sau khi uống xong thì lần lượt rót đầy từng chén:
- Cảm ơn các thầy đã đến thăm gia đình, xin mời tất cả nâng cốc để chúc sức khỏe các thầy cô, chúc nhà trường phát triển.
Phong định nhấp môi nhưng bác Bình gái đã nâng tay Phong lên và nói:
- Ấy tục lệ ở đây là phải “xuống hết” tức là cạn chén thầy ạ!
Nói rồi bác gái dốc ngược cốc chứng minh không còn giọt rượu nào trong chén.
Phong hơi nhăn mặt uống hết chén rượu. Bác gái nhìn Phong vẻ hài lòng rồi hỏi tuổi Phong. Khi biết Phong chỉ hơn đứa con gái đầu của mình vài tuổi thì bác không khỏi ngạc nhiên:
- Thầy giỏi quá, mới tuổi này mà đã lặn lội lên đây công tác chẳng bù cho thanh niên thị trấn này suốt ngày lêu lổng, không cờ bạc thì cũng nghiện ngập.
Cách nói chuyện của bác gái Phong lại nhớ tới mẹ. Phong nhận thấy giữa hai người có một sự tương đồng rất lớn. Và như có nhân duyên, người phụ nữ này là người về sau Phong mang ơn rất nhiều.
Bác Bình gái rót một chén đầy:
- Chén này xin chúc thầy công tác tốt!
Bác đưa chén rượu cho Phong rồi thật thà đề nghị:
- Thầy muốn lấy vợ trên này để tôi làm mối cho nhé.
Phong cười hiền rồi nhắm mắt cố uống nốt chén rượu trong tiếng cổ vũ của cả mâm. Húp vội miếng canh để ngăn hơi rượu đã trực trào tới cổ, Phong lâng lâng cũng không nhớ mọi người xung quanh nói gì. Tiếng chúc rượu vẫn ào ào, Phong cười vô tri hùa theo câu chuyện của tất cả.
…
Trên này đã mời cơm là uống rượu, mà đã uống là phải say. Phong không đam mê rượu chè nên chỉ tham gia những buổi giao lưu thân thiết. Hàng ngày Phong vẫn đến quán chị Xuân ăn cơm. Chính vì cái vẻ hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ và tôn trọng phụ nữ của Phong rất có thiện cảm với chị Xuân. Nhiều khi chị gắp thêm thức ăn cho Phong, hoặc nhà có món gì mới lại mang ra mời Phong. Phong rất biết ơn chị, từ nhỏ Phong luôn thấy thiếu thốn một bàn tay chăm sóc của phụ nữ. Thương mẹ, Phong cũng đâm thương cảm cho số phận của người phụ nữ xung quanh, những người dành cả cuộc đời để chăm lo cho chồng con mà quên đi cả niềm vui và sở thích của bản thân.
Phong ấn tượng với phụ nữ nơi đây, họ có nét đặc trưng của người phụ nữ nông thôn Việt Nam. Họ sẵn sàng chịu rét, chịu đói, chịu khổ để chồng con được yên ấm. Cái tư tưởng trọng nam khinh nữ đã hằn sâu vào suy nghĩ của chính họ. Vẫn còn rất nhiều gia đình trong bữa cơm, ông nội được ngồi riêng một mâm với những đồ ăn ngon nhất, chồng và con trai ngồi mâm dưới. Phụ nữ, con gái ngồi ăn ở trong bếp. Có lần Phong là người là khách trong bữa cơm đó, anh đã lúng túng không biết cư xử làm sao. Nhưng đối với gia đình chủ nhà đó là một điều bình thường. Người phụ nữ trong gia đình vui vẻ chấp nhận điều đó. Cả buổi bận bịu tất bật chuẩn bị nấu nướng nhưng sau đó lại lủi thủi xuống bếp ăn những phần thức ăn còn sót lại. Đàn ông vui vẻ tán gẫu, đến bữa ăn gật gù chén rượu, ăn xong lại gọi vợ, con đến dọn mâm, rồi rủ nhau ra pha ấm chè đàm đạo.
Phong luôn nói chuyện với chị Xuân với tất cả niềm tôn trọng đó. Chị Xuân cũng nhận ra điều đó ở Phong. Cái khao khát có một gia đình đầm ấm luôn hiện rõ trên mặt Phong. Chị bảo em có cái gì đó rất đáng tin đối với phụ nữ. Sự tôn trọng của em với họ khiến những người phụ nữ khi nói chuyện với em rất tin tưởng em. Phong cười khì vì Phong cũng không hiểu điều đó là gì. Phong chưa có người yêu nên cũng chả hiểu phụ nữ nghĩ gì. Phong chỉ biết đó là những thực thể đáng được trân trọng.
Những lúc không phải lên lớp, Phong thường đạp xe quanh thị trấn hoặc vào các vùng canh tác của bà con. Cuộc sống ở đây khác xa Hà Nội, thu nhập chính của bà con vẫn là nông nghiệp hoặc các sản phẩm thu nhặt từ rừng. Phong thích được vào rừng lắm nhưng chưa dám vào. Chỉ dám mon men đến ngắm mấy ngọn núi quanh đó. Gần núi chỗ nào có đất bà con sẽ làm ruộng bậc thang để trồng lúa, nhưng lúa cũng chỉ trồng được mùa mưa, mùa khô thì trồng ngô. Ngô trên này nhiều vì chúng chịu được điều kiện khô hạn và canh tác được trên các sườn núi.
Cây hoa màu thì đa phần là trồng thêm, sắn thì nhiều vô kể. Chỗ nào cũng có thể thấy cây sắn. Lần đầu tiên Phong được ăn món lá sắn muối nấu cá. Ngọn sắn non được bà con tỉa bớt, muối chua như dưới xuôi muối cà, muối dưa. Lá sắn muối chua kho với cá suối, thêm tí cà chua, hạt tiêu và vài quả ớt ăn với cơm thì ngon vô cùng. Từ ngày lên đây, Phong được ăn khá nhiều món lạ. Món đầu tiên Phong ấn tượng là món “pịa”. “Pịa” gần giống với món “thắng cố”, nguyên liệu chủ đạo là đoạn lòng non vẫn còn chứa chất dịch sền sệt đun với các phần nội tạng của bò hoặc lợn, thêm tí lá húng, mùi tàu, xả, ớt,…nếu ai khảnh ăn chắc chắn không dám động đũa vào. Món nữa Phong cũng rất ưa thích là canh cá nấu với lá “vón vén”, lá của một cây dây leo, vị chua nhẹ dùng để nấu canh của bà con vùng cao. Phong được ăn một lần là mê luôn.
Một món khác chỉ khi là khách quí mới được ăn là gỏi cá trắm ăn với nước măng chua. Gỏi cá mè Bắc Giang thì dùng thính gạo, cuộn rau sống chấm với chao, gỏi trên này dùng nước măng muối chua ăn với rau suối cực kì ngon. Qui trình làm thì khá là phức tạp, chỉ mấy ông bợm nhậu mới có thể làm được. Cá ăn gỏi phải là cá trắm sông Đà tầm 2kg. Cá được lấy thịt 2 bên lườn, lột bỏ da rồi dùng kìm rút hết xương. Trong quá trình làm cá không được dùng đến nước. Lườn cá sau khi rút xương sẽ được thấm bớt nước bằng cách bọc trong giấy và để khô một thời gian thì đem thái mỏng. Lúc ăn sẽ chấm cá vào nước măng chua ăn với rau thơm, hoa chuối, lá sung, ổi,…được thái nhỏ. Phong được ăn món này vài lần khi là khách của gia đình anh chị giáo viên trên này.
Có hai món mà trẻ con trên này đứa nào cũng biết đó là món nhót xanh, cuộn lá cải chấm với chẩm chéo và quả sim rừng xanh kẹp củ đậu chấm nước mắm gừng, ớt. Đám học trò rất hay rủ Phong ăn hai món này. Nguyên liệu thì không thiếu chỉ cần ra vườn vặt vài phút là xong. Cả thầy và trò xuýt xoa vì vị chua, cay. Mà món ăn này đến là lạ nếu ai ăn một mình thì chỉ được một hai miếng nhưng ngồi với bạn bè thì ăn mãi không thôi. Chỉ khi nào răng thấy ê vì chua, lưỡi rộp nên vì cay mới dừng. Cuối bữa ăn ai cũng tu nước ừng ực. Đám trẻ con trên này không có cao lương mĩ vị gì nhưng mấy món ăn vặt đó thì lúc nào cũng có.
Nói chung Phong rất thích cái cảnh yên bình nơi đây, xung quanh lúc nào cũng một màu xanh ngát dễ chịu, không chật trội, thiếu oxygen như nơi Phong sống. Hơn nữa con người trên này giản dị, gần gũi, cuộc sống tuy vất vả nhưng không bon chen, ít đố kị. Đặc biệt với những người giáo viên như Phong luôn được bà con trân trọng, ai cũng muốn con mình có thêm cái chữ để có cơ hội đi xa hơn khỏi vùng quê nghèo này.