Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Hạo ngồi ở bậu cửa, vơ hết tàn nắng của một buổi chiều cuối hạ mà nắn nót vài chữ còn dở dang. Không còn tiếng quấy khóc của con trẻ dai dẳng đòi sữa, thành thử mấy gian nhà nhỏ im lìm đến độ có thể nghe thấy cả tiếng hít thở không đều của người đàn bà đương cơn bạo bệnh. Cậu đặt xấp giấy đang viết dở xuống thềm, nhẹ nhàng trở gót vào trong.

“Chị tỉnh rồi ư?”

Thoa cố mở to đôi mắt nhập nhèm. Mới mươi ngày không gặp mà người đàn bà sống gần nhà Hạo đã khác xưa nhiều quá. Gò má hây hẩy sắc xuân năm nào giờ xám xanh một màu bệch bạc chết chóc. Người gầy rạc hẳn đi, đen sạm vì bị bêu nắng mấy ngày liền. Tỉnh rồi, việc thị làm đầu tiên là dáo dác nhìn quanh tìm con, để rồi ánh sáng trong mắt vụt tắt trước mấy gian nhà vắng bóng con trẻ.

“Sao cậu lại ở đây?” Thị hỏi.

“Chị đang yếu như thế, sao em có thể đang tâm để chị lại một mình được. Cháo chín rồi, để em múc cho chị một bát.”

Nói đoạn, Hạo chạy vụt xuống bếp, lục đục một hồi rồi bưng bát cháo còn bốc hơi nghi ngút lên nhà trên. Cậu đỡ Thoa ngồi dậy, bảo: “Chỉ là cháo bỏ thêm trứng gà và sạt sen thôi, chị ăn tạm cho lại sức.”

Thoa dựa hẳn lưng vào vách nứa, người lả đi vì mệt, đến giọng cũng thều thào như sắp tàn hơi: “Sự đã vậy rồi, tôi còn ăn làm gì nữa, cứ để cái thân này chết quách cho xong.”

Bị người tình ruồng bỏ, để lại mình bụng mang dạ chửa cho người làng nhiếc móc, đứa con mới đẻ mươi ngày lăn đùng ra chết vì bị bêu nắng cùng mẹ, cái xác tàn này cũng bị bệnh tật quấn thân. Chừng ấy tai ương ập xuống khiến người đàn bà vừa trở về từ cửa tử nay lại vất vưởng như hồn ma ngụ ở trần gian, chờ quỷ sứ đến rước.

Hạo làm như không nghe thấy ý định quyên sinh của thị, vẫn dịu giọng khuyên lơn: “Đã hơn ngày trời chị không có gì bỏ bụng rồi. Nghe em, chịu khó ngồi dậy chút thôi, cố húp tạm bát cháo ấm cho đỡ xót ruột.”

“Cậu về đi.” Thị đáp bằng giọng lạnh lùng, mồ hôi rịn trên vầng trán xám ngắt: “Tôi muốn ở một mình.”

Nghe vậy, tay bưng bát cháo của cậu trai trẻ ngay đơ ra đấy, lời muốn nói gần ra đến miệng rồi lại thôi. Cậu đặt bát cháo lên cái bàn con con kê gần giường, dặn thị: “Vậy em để cháo ở đây, chị đợi nguội bớt rồi hãy ăn. Lát nữa em lại sang thăm chị.”

Hạo đã nói là làm. Kể từ hôm ấy, cứ chiều đi làm về, lo cơm ăn thuốc uống cho mẹ xong là cậu chạy sang nhà Thoa thăm thị. Có khi là đun ấm nước nóng cho thị lau người, có khi là nấu nồi cháo cho thị ăn lại sức, có khi là làm mứt chè bánh trái cho thị bớt nhạt mồm nhạt miệng. Ngày nào cũng thế, đều đặn đến mức thị phát bực: “Sao cậu quan tâm tôi vậy? Cứ mặc tôi chết quách có phải hơn không?”

Lúc ấy cậu đang múc dở bát chè nhãn lồng hạt sen, buột miệng đáp: “Em không làm thế được.”

Thị lại hỏi: “Tại sao?” Cả hai chỉ là hàng xóm thôi mà. Vả lại khi chuyện giữa cậu và con thứ nhà ông bá vỡ lở, thị cũng như bao kẻ khác trong làng, đều cố gắng tránh xa cậu trai đầy tai tiếng như người khoẻ mạnh kiêng mả hủi. Họ không nợ nần ơn nghĩa gì của đối phương, nay đổi lượt mình bị làng bêu, thị không nghĩ được lí do nào để Hạo phải săn sóc chu đáo đến thế.

Mặc cho thị rối rắm, Hạo lại trả lời như một lẽ đương nhiên: “Có lẽ vì chị là bạn của Cúc, hai ta lại khá giống nhau. Mẹ em vì không kiêng cữ cẩn thận nên về già bệnh tật đầy mình, em không muốn chị sau này cũng thế. Mà em... em cũng từng bị cả làng bêu riếu đấy thôi, nên em không thể bỏ lại chị một mình được.”

Cậu bị bêu riếu vì chuyện gì, cả làng này già trẻ đều biết. Im lặng một lúc, Thoa lại bảo, tuy là trách móc nhưng giọng điệu có vẻ nhẹ nhàng hơn trước nhiều: “Chuyện mình còn chửa lo xong, lại còn đèo bòng.”

Nghe thị mắng vậy, Hạo chỉ cười trừ cho qua, người ta bảo cậu ra sao cũng đành vì tính cậu là thế, xưa nay vẫn vậy. Cậu bưng bát chè mới múc đến tận giường thị, bất ngờ thay, lần này thị đón lấy, không đưa đẩy chối từ rồi đuổi cậu về như trước.

Thị chỉ hỏi: “Chè này là cậu tự làm?”

“Vâng. Đương mùa sen tươi mà em lại muốn nấu thử món mới. Chị nếm thử xem em nêm vừa chưa, đậm hay lạt.”

Chè nhãn lồng hạt sen chẳng phải món gì quá cao sang, nguyên liệu vẻn vẹn chỉ có nhãn, hạt sen và đường phèn nhưng lại phải kì công, dụng tâm khi nấu. Đến đàn bà con gái làng này còn ngại làm, chỉ khi nào nhà có khách quý mới mang ra thết đãi, ấy vậy mà cậu trai đi làm mệt nhọc cả ngày này lại sẵn lòng xắn tay vào bếp nấu cho thị ăn, bưng đến tận giường, chờ thị nếm thử với vẻ mặt tươi roi rói.

Thoa không tài nào hiểu nổi: “Gặp phải chuyện ấy, sao cậu vẫn còn cười được? Sao cậu còn tâm trí mà quan tâm đến kẻ khác?”

Cầm bát chè của mình trên tay, Hạo nếm thử một thìa, thấy chè sao mà ngọt quá, lịm cả cổ họng lẫn đáy lòng. Thế rồi cậu ngẩng đầu, đãi người ngồi bên nụ cười chân thành nhất: “Là vì trong lúc khốn khó nhất vẫn có người sẵn lòng ở bên em, vì em mà chống lại người đời.”

Vốn là cậu buột miệng thôi, đâu hay thị lại hỏi một câu mà cậu không thể nào ngờ tới: “Người mà cậu nói là thầy Thanh phải không?”

Đã lâu rồi không nghe người khác nhắc đến thầy Thanh nên trong khoảnh khắc ấy, cậu giật mình, đầu óc trống rỗng, tựa như bánh xe vận mệnh chệch khỏi đường ray. Cậu hỏi đi hỏi lại như thể chưa tin được: “Chị vẫn nhớ... thầy Thanh?”

“Nhớ chứ.” Thoa mau mắn gật đầu rồi lại hoang mang, chừng như chính thị cũng không chắc chắn lắm: “Tuy tôi không nhớ mặt mũi thầy ấy thế nào nhưng vẫn nhớ làng mình có thầy đồ tên Thanh. Chính thầy ấy đã bắt chuyện với tôi vào cái hôm cậu gặp nạn.”

Rồi giọng thị lạc hẳn đi: “Không hiểu sao mà tôi vừa thấy thầy Thanh rất quen, vừa thấy sợ mỗi khi gặp thầy ấy dẫu rằng tôi chẳng bao giờ nhớ mặt thầy. Chừng như chúng tôi đã gặp nhau từ rất lâu về trước, nhưng là ở đâu?”

***

Trăng treo đầu ngọn tre. Trong đêm tối, ao sen trong sân nhà thầy đồ toả ra thứ ánh sáng dìu dịu như thể dẫn con người ta về miền cực lạc. Hạo đắm mình trong luồng sáng ấy, bao buồn phiền lo lắng bỗng chốc bay biến hết cả, bởi bên kia ao sen là một thế giới khác. Không ngả vạ gái chửa hoang. Không bêu riếu trai trai chung chạ. Và nơi ấy có người thương đang chờ.

Mỗi buổi tối, như đã thành lệ, lo chuyện cơm nước cho mẹ và Thoa xong là Hạo lại bước sang thế giới ấy. Thế giới ấy có đèn điện, có tủ lạnh điều hoà, có cả thứ gọi là máy tính giúp người ta có thể chuyện trò dù ở cách xa nhau. Cậu và Thanh liên lạc với nhau bằng cách này. Ban đầu, cậu phải nhờ Sơn làm cầu nối giữa hai người. Thanh gửi tin nhắn đến, cậu ta đọc hộ cậu. Cậu muốn gửi tin nhắn đi, cậu ta lại gõ thay. Nhưng rồi dần dà, thấy việc ấy sao mà bất tiện quá, lại không muốn người khác đọc tin nhắn riêng tư của mình và Thanh nên cậu càng quyết tâm, vùi đầu học chữ quốc ngữ.

“Anh biết đọc, biết viết rồi à?” Ngồi cả buổi không thấy Hạo lên tiếng nhờ đọc hộ, gõ thay, Sơn lờ mờ đoán thế.

Giọng nói sang sảng của Sơn kéo cậu trở về thực tại. Cậu nhoẻn cười, “ừ” một tiếng, mắt vẫn không rời màn hình máy tính.

Chữ quốc ngữ dễ học, chưa đầy mươi hôm là có thể bập bẹ đánh vần, chỉ độ một tháng là thành thạo đọc, viết. Hạo nảy sinh ý định học chữ quốc ngữ kể từ ngày chia tay Thanh ở bến xe. Cậu muốn bản thân mình hiểu biết hơn để thu hẹp khoảng cách giữa hai người. Vả lại, cậu muốn gửi tâm tình qua những dòng tin nhắn mà không cần qua tay kẻ khác.

“Cuối tuần này tôi rảnh, em có muốn dạo phố cùng tôi không? Tôi có chuyện muốn nói với em.”

Hạo bần thần nhìn tin nhắn Thanh vừa gửi đến. Đây không phải lần đầu y hẹn cậu gặp riêng. Trước đó đã có rất nhiều lời ngỏ nhưng cậu đều từ chối. Nửa vì bận bịu, ban ngày cậu còn phải làm thuê để lấy tiền cắt thêm cho mẹ vài thang thuốc. Nửa vì thẹn với lòng, cậu đã tự nhủ chỉ thế chỗ cho Sơn duy nhất một lần ấy. Nhưng Thanh đã nói đến vậy... Cậu an ủi mình rồi hỏi ý Sơn. Chỉ thêm hai, ba lần nữa thôi, cậu sẽ ngả bài và kể cho Thanh nghe mọi thứ.

Mấy ngày cuối tuần, trời đẹp như mơ. Không nắng gay gắt, không mưa dầm dề. Thanh bảo Hà Nội giờ mới chính thức vào thu, chẳng thế mà trời cao và trong hẳn, thủ đô cũng dần thay áo mới. Cứ mỗi độ thu về, bước chân của y lại đủng đỉnh hơn. Y thích nhẩn nha dạo phố, ngắm cây bàng lá đỏ, thả hồn nơi mặt hồ bảng lảng khói sương, rồi ngồi đâu đó nhấm nháp vị ngọt dịu của cốm đầu mùa.

“Có vẻ như thầy rất thích mùa thu.” Thấy y rỉ rả không ngừng bên tai mình về mùa thu Hà Nội, Hạo buột miệng bảo thế.

“Tôi yêu cuộc sống này, yêu mảnh đất này, mùa thu chẳng qua chỉ là một phần của nó đấy thôi.” Y đáp: “Bởi vì yêu cho tôi cảm giác mình đang sống, và vì còn sống nên mới không ngừng yêu.”

Lại thế nữa rồi. Hạo thả hồn theo những ý nghĩ vẩn vơ. Lại một lần nữa, người bên cạnh cho cậu cảm giác vừa lạ vừa quen. Quen vì vẫn là kẻ ấy với những câu hỏi ngô nghê như con trẻ chưa hiểu sự đời, lạ là vì tình yêu nồng cháy của y dành cho cuộc sống. Trước kia y là màu xanh của bầu trời cao vời vợi ngoài tầm với, một màu xanh ở tít trên cao mà trông xuống dân đen đói khổ. Còn nay, y là một phần của biển người nơi cõi trần rộng lớn, cũng biết buồn vui, cũng biết sướng khổ, thực sự sống chứ không phải chỉ tồn tại qua ngày.

“Em cũng vậy.” Cậu bảo, nét cười vương trên cả đuôi mắt: “Em cũng yêu cuộc đời này, cũng thích mùa thu.”

Bởi người ấy bước vào đời cậu trong một chiều thu lộng gió.

Chừng như bị hút hồn bởi đôi mắt êm đềm như ao sen mùa thu, Thanh không kìm lòng được mà nắm lấy tay của người bên cạnh, buột thốt những lời thầm giấu trong lòng bấy lâu: “Thu vốn đẹp, nay còn nao lòng nữa vì có em ở bên tôi.”

Không biết là vì cái nắm tay nồng cháy hay câu nói đượm vị mật ngọt, hai vành tai cậu trai trẻ bỗng đỏ ửng như màu táo chín. Hạo nhìn y, ngập ngừng nói chẳng nên lời: “Thầy…”

“À.” Thấy cậu phản ứng như thế, y bừng tỉnh rồi cứ thong thả giải thích bằng giọng điềm nhiên: “Chỗ này đông người, nhớ nắm tay tôi kẻo bị lạc.”

Thanh càng giải thích, lòng cậu càng rối như tơ vò. Cậu đáp bằng giọng lí nhí: “Nhưng... thầy đâu cần nắm tay em như vậy.”

Vẫn cười mủm mỉm, y hỏi lại: “Sao lại không cần? Em không thích?”

“Không phải, mà là…” Hạo đưa mắt nhìn đám đông tò mò chung quanh, có người xì xào bàn tán, có người lấy cả điện thoại để chụp hình. Giọng cậu nhỏ dần, mấy tiếng cuối cùng gần như tan vào bầu không khí ồn ào nơi công cộng: “Em phải hỏi thầy mới đúng. Đông người như thế, chẳng lẽ thầy không sợ? Mọi người đang nhìn mình kìa, mà thầy... thầy lại là giảng viên của một trường đại học. Nhỡ trong số ấy có người biết thầy rồi tố cáo thì phải làm thế nào?”

Y lại hỏi, giọng điệu vẫn điềm nhiên như không: “Tố cáo tôi? Vì tội gì? Cưỡng hiếp, lừa đảo hay cướp của giết người?”

Hạo im bặt. Âu yếm với người cùng giới không phải tội ác gì, chí ít là ở thời đại này đây. Y không sai, cậu biết rõ điều này hơn ai hết, nhưng đôi khi đúng sai là do phần đông trong xã hội quyết định. Họ bảo đúng là đúng, buộc tội mình sai thì là mình sai, và cuộc sống của y có thể bị xáo trộn bởi miệng lưỡi người đời nếu đi ngược dư luận. Nhất là với một giảng viên. Người ta không có cớ để bắt bớ y nhưng có thể gièm pha khiến y sống dở chết dở, như cậu từng bị đoạ đày.

“Không sao đâu, tôi không sợ. Cuộc đời này là của tôi, không ai có thể sống thay nên không ai có quyền ép tôi phải làm theo ý họ.” Tay nắm càng chặt, môi cười thêm tươi.

“Vả lại, đây không còn là thời xưa nữa, chúng ta sẽ không bị dìm chết trong nước bọt của người đời chỉ vì thích người cùng giới đâu.”

Phải rồi. Nơi đây là xã hội hiện đại, không phải làng quê nghèo trăm năm trước. Người nắm tay cậu là Thanh, một kẻ chẳng bao giờ đoái hoài đến mắt nhìn và miệng lưỡi người đời. Ý nghĩ ấy khiến cậu thêm vững dạ, song cũng hụt hẫng chơi vơi.

Bởi cậu không thuộc về thế giới này.

Đi dạo chán chê rồi, hai người dừng chân ở một quán cà phê nằm ở cuối phố. Khép cửa, dòng chảy vội vã của xã hội hiện đại như bị chặn lại bên ngoài, tổ hợp âm thanh hỗn loạn của cuộc sống xô bồ bay biến đâu mất. Không gian tuy nhỏ nhưng sạch sẽ, đượm mùi giấy mới và cà phê. Thầy Thanh gọi đồ uống, bánh ngọt rồi tìm cho mình khoảng trời quen thuộc.

“Quán ruột của tôi đấy.” Y bảo: “Tôi luôn tự nhủ với lòng rằng nếu có một ngày tìm thấy người ấy, tôi sẽ dẫn người ấy đến nơi này.”

Không khí yên ả trong quán nhỏ khiến cậu bất giác hạ giọng theo, lặp lại lời y nói trong vô thức: “Người ấy ư?” Thấy y cứ tủm tỉm nhìn mình mà không chịu trả lời, cậu bèn đánh bạo hỏi thêm câu nữa: “Vậy... hôm nay thầy hẹn gặp em ra đây để làm gì?”

“"Là để trao em lời nhắn trong cuốn sách này.”

Thanh đặt lên bàn, ngay trước mắt Hạo một cuốn sách. Cậu trai mới học chữ quốc ngữ chưa được bao lâu cũng đâm ra tò mò, cầm lên ngắm nghía. Cuốn sách khổ nhỏ, mỏng tanh, chưa đầy hai trăm trang, in các bài thơ của thi sĩ Xuân Diệu. Bìa sau trích vài câu trong tác phẩm nổi tiếng của ông ấy, Vội vàng. Nhưng nhìn biểu cảm giảng viên trẻ, Hạo biết điều đặc biệt không nằm ở đây. Không phải bìa thì chỉ có thể là phần ruột. Cậu mở sách, lật ngay trang bị đánh dấu. Chiếc kẹp bằng giấy vẽ bông sen xanh đặt ở trang in bài thơ có tựa đề Tình trai. Cậu nhìn Thanh, thấy ánh mắt y dịu dàng, chắc mẩm mình đã tìm đúng.

Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine,

Hai chàng thi sĩ choáng hơi men,

Say thơ xa lạ, mê tình bạn,

Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen.

 

Những bước song song xéo dặm trường,

Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương,

Họ đi, tay yếu trong tay mạnh,

Nghe hát ân tình giữa gió sương.

 

Kể chi chuyện trước với ngày sau;

Quên gió môi son với áo màu;

Thây kệ thiên đường và địa ngục!

Không hề mặc cả, họ yêu nhau.

Một bài thơ ngắn nhưng Hạo mới học chữ quốc ngữ chưa lâu, thành thử cậu tốn đến năm phút để đánh vần từng từ, năm phút để nghiền ngẫm ý nghĩa tác giả gửi gắm, thêm tám phút để phỏng đoán về mục đích của Thanh. Bài thơ viết về hai thi sĩ coi nhau như tri kỉ và rồi... họ yêu nhau.

Hạo ngơ ngẩn, đánh vần lại mấy lần câu cuối. 

Không hề mặc cả, họ yêu nhau.

Họ yêu nhau.

Yêu.

Hai người đàn ông yêu nhau. Bài thơ chẳng cần ẩn ý gì, cứ thẳng thắn mà bày tỏ qua con chữ. Chắc chắn Thanh đã đọc, thừa hiểu và cố tình đánh dấu ở đây rồi đưa cho cậu xem. Má Hạo nóng bừng, những ngón tay đặt trên trang sách khẽ run. Như chợt nhớ ra điều gì, cậu vớ lấy chiếc kẹp bằng giấy. Nó không giống kẹp sách tặng kèm in hàng loạt mà giống đồ tự làm hơn. Một mặt vẽ hình bông sen xanh, mặt còn lại thì... Hạo lật mặt còn lại, thấy đằng sau có dòng chữ viết tay. 

Kẻ hèn này chẳng ôm chí lớn, chỉ mong gặp được tri kỉ của đời mình. 

Bài thơ Tình trai... Lời cầu nguyện tìm tri âm tri kỉ... Tất cả đã quá rõ ràng, ý ngay trên mặt chữ.

“Đây cũng là điều tôi muốn nói với em.” Thanh nhoẻn cười, giọng chưa bao giờ dịu dàng đến thế: “Tôi đã tìm em từ rất lâu rồi.”

“Kể từ khi tôi sinh ra, nơi này đã tồn tại một khoảng trống.” Y trỏ vào lồng ngực mình mà bảo: “Đã lâu lắm rồi nó chưa rung động với ai, lâu đến độ tôi suýt quên mất cảm giác phải lòng ai đó là thế nào, cho đến khi gặp em.”

“Lần đầu hai ta chạm mặt ở giảng đường, tôi đã biết em là tri kỉ mà mình kiếm tìm suốt bấy lâu nay.”

“Tôi muốn chia sẻ cuộc đời này với em. Tôi không sợ người đời đàm tiếu, không sợ trời đất cản ngăn, chỉ cần em gật đầu ưng thuận. Bằng lòng ở bên tôi nhé, được không?”

Mọi thứ vỡ oà trong khoảnh khắc ấy. Một giọt nước mắt chảy xuống khoé môi nghe mằn mặn, Hạo gục đầu, nửa mừng nửa tủi đáp: “Em... không biết.”

Lòng đôi bên có nhau, gật đầu là chuyện quá dễ dàng, nhưng sau đó thì sao? Giữa họ còn một mẹ già, bao bí mật chôn chặt dưới đáy nước và mấy trăm năm luân hồi, tử sinh. Sao họ có thể bên nhau, nếu không làm chệch đường ray của bánh xe vận mệnh?

Nếu cậu không phải Hạo... Nếu cậu được sinh ra ở nơi đây... thì mọi chuyện có lẽ đã khác.

“Xin lỗi, tôi nôn nóng quá, không nghĩ cho em.” Y lau nước mắt cho cậu, những ngón tay nâng niu từng hạt ngọt trên khoé mi: “Chúng ta mới quen nhau được một tháng, em vẫn còn nhỏ, đáng lẽ tôi không nên để mọi chuyện chóng vánh như thế.”

“Đừng buồn. Tôi không ép em phải trả lời tôi ngay.”

“Tôi vẫn ở đây, sẵn lòng chờ đợi.”

Chờ em vượt qua trăm năm, đến bên tôi.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px