Chương X
If you gaze long enough into an abyss, the abyss will gaze back into you_Friedrich Nietzsche
“Ông nói gì cơ ạ?” Omen lắc lắc đầu, gã không phải không nghi ngờ Dạ Tước, nhưng lời ông Mortimer nói vượt xa mọi khả năng mà gã đã lường trước. “Cậu ta bảo cậu ta là em họ của Mganga, và đúng là cậu ta có nét giống em ấy mà?”
“Ừ, đó cũng là điều mà ông quan tâm.” Ông lão dí điện thoại vào sát mắt mình hơn nữa. “Đúng là hai đứa có vài phần tương tự, nhưng ông chưa từng nghe đến nhà thằng bé có họ hàng bao giờ. Trông hai người có vẻ sàn sàn tuổi nhau, nhưng ông nhớ rõ từng đứa trẻ một trong Noctem, và chắc chắn hồi đó không có gia đình người Hoa nào sống ở đây cả.”
Omen thở dài vuốt mặt, không biết mình phải tin vào ai. Chẳng lẽ đây là lý do Dạ Tước phải rào trước là đừng tin mọi điều mà ông Mortimer nói hay sao? Cậu ta biết ông ta sẽ phủ nhận sự tồn tại của mình? Bây giờ gã tin Dạ Tước cũng dở, mà tin ông Mortimer cũng dở, không tin ai cả lại càng dở hơn nữa. Omen cũng đã định tìm ông Mortimer để đối chiếu những thông tin mà cậu đưa cho mình, bởi vì đến giờ Dạ Tước là kẻ duy nhất nắm giữ đầu mối, mà đầu mối đó là giả hay thật cũng chỉ mình cậu ta biết được, gã đã nghĩ đến vô số lời nói dối mà cậu ta có thể đã nói ra, nhưng không thể nào nghĩ rằng đến ngay cả sự tồn tại, ngay cả vai trò “người trong cuộc” của Dạ Tước cũng chỉ là một cái cớ giả mạo. Nhưng ông Mortimer cũng chưa chắc đã nói thật hoàn toàn. Cuối cùng thì Omen cũng không cách nào kiểm chứng được lời họ nói ra cả, cái nào thật cái nào giả gã cũng đâu thể chui vào đầu họ mà biết được đây. Điều duy nhất gã có thể làm là mò mẫm trong biển thông tin mù mịt, lẫn lộn thật giả và cầu nguyện rằng bước tiếp theo sẽ không khiến mình rơi thẳng xuống đáy vực.
“Vậy sau khi gia đình Mganga chuyển đi, có ai còn sống ở đó không ạ?”
Ông trả điện thoại lại cho gã. “Có bà của thằng bé ở lại, nhưng bà ấy cũng mất lâu lắm rồi.”
Ít nhất thì Dạ Tước có vẻ cũng nói thật một điều. Gã bỏ lại điện thoại vào trong túi, lúng túng không biết có nên hỏi gì nữa không. Còn nhiều thứ gã muốn hỏi quá, nhưng gã không biết phải bắt đầu từ đâu.
“Thật sự…không còn cách nào cứu Mganga hả ông? Hay ông có nghĩ ra được em ấy đã đi đâu không?”
“Không.” Ông Mortimer thở dài. “Muốn cứu thì phải tìm cho ra đã, nhưng giờ chính ông còn không biết thằng bé đã làm gì để khiến vực sâu chuyển mục tiêu từ nó sang những người khác. Ông xin lỗi, ông cũng không giúp được.”
“Dạ cháu cảm ơn.”
Omen buồn bã gật đầu, đứng dậy khỏi ghế sofa. Từ lâu trước đó gã đã thấy hoàng hôn nhuộm đỏ cả chân trời phía xa, đến lúc ấy Omen mới giật mình nhận ra mình đã ở lại đây lâu đến thế nào. Trời sắp tối rồi…và gã thì không muốn qua đêm ở đây. Gã vội vàng khoác bao kiếm và túi đồ lên, chào tạm biệt ông Mortimer để ra về. Dù sao gã cũng biết đường, gã có thể đến gặp ông để hỏi thêm lúc nào cũng được, không cần phải vội, Omen tự an ủi thế, nhưng gã vẫn thấy bụng dạ mình nhộn nhạo phát ghê. Ông lão tiễn gã ra đến tận cửa, ánh cam vàng của buổi hoàng hôn chiếu nghiêng lên gò má xương xẩu, khiến trong một khoảnh khắc tự dưng gã cảm thấy ông hơi…đáng sợ.
“Về cẩn thận. À, buổi tối có sương, chớ đi lung tun.” Ông dặn dò trước khi đóng cửa.
Thế là Omen lại bị bỏ lại một mình.
“Hi hi hi hi hi…” Tiếng cười ken két vang lên sau lưng gã, đột ngột đến mức khiến Omen giật mình. Gã mất một giây mới nhận ra được cái điệu cười và chất giọng khàn khàn quen thuộc như của một kẻ đã la hét suốt đêm đó, không ngạc nhiên khi quay đầu lại thấy con quái vật của mình lại đang vắt vẻo trên cành.
“Mày muốn cái đéo gì nữa?” Tên thanh niên tóc trắng sẵng giọng. Đầu gã đang đau, lưng lẫn chân đều mỏi nhừ, điều cuối cùng trên đời mà gã muốn gặp phải bây giờ là thêm một con quái vật nữa đến để cười nhạo gã.
“Rõ là cả hai người họ đều nói dối.” Con quái vật trông không hơn một nhúm khói đen, nhưng to gấp rưỡi so với lần cuối cùng gã thấy nó - khi gã mới bước chân vào Noctem. Như thể nó được trở về nhà. Cái thị trấn quái quỷ này đã bắt đầu ảnh hưởng đến Omen trong khi gã thậm chí không còn hơi sức để để tâm. “Mày cũng biết thế mà.”
“Ừ, rồi biết thế, thế tao có làm được gì không?” Omen khục khặc trong họng, mồm gã tanh tanh mùi cá khiến gã giờ mới nhớ ra mình đã bỏ qua bữa trưa. Không biết gã có nên ăn ở nhà Dạ Tước trước khi về thành phố không nhỉ? “Đéo làm được gì. Tao chỉ còn cách ngồi xem chúng nó diễn kịch với nhau và cầu mong rằng vai của tao sẽ không có cờ tử vong thôi.”
Qua thời gian tìm hiểu và câu chuyện bắt đầu lộ ra từ dưới mặt nước, vai trò của những người liên quan đến toàn bộ việc này dần dần trở nên không còn giống ban đầu nữa. Mganga không thực sự là nạn nhân, động cơ của Mục Dạ Tước khi tìm kiếm “anh họ” cũng không rõ ràng, Zephys là người trong trấn, ông thầy đồng không thể cứu bất kỳ ai, những người trong trấn đang lặp lại bi kịch mười ba năm trước, và…Omen. Ông Mortimer bảo rằng có thể gã không ngẫu nhiên mà xuất hiện ở đây, nhưng rõ ràng việc gã đến đây là tự phát do gã tìm được manh mối trong điện thoại của Mganga cơ mà. Nếu cứ coi như là gã đã đến đây theo sự sắp xếp của ai đó, vậy thì vai trò của Omen là gì? Gã vốn là kẻ không có bất kỳ liên quan gì tới Noctem cơ mà? Vật tế thần? Con cừu hi sinh? Hay là còn mục đích gì khác?
“Mày có thể lựa chọn rời đi.” Con quái vật tiếp tục cười hihi, nhạo báng sự bất lực hằn học của Omen. “Như chúng đã nói ấy, rời đi và không bao giờ quay trở lại. Dù tao sẽ buồn lắm, tao thích nơi này.”
Đương nhiên là mày phải thích nơi này rồi, chỗ này rặt một đám khốn khiếp y hệt như mày mà.
“Ồ đéo nhé tình yêu ơi, tao sẽ không rời đi cho tới chừng nào chưa tìm được Mganga. Sống thì phải thấy người, chết thì phải thấy xác có thế thôi.” Như mọi khi, mọi khi là kể từ khi còn bé và con quái vật lần đầu tiên thành hình ấy, Omen luôn có niềm thôi thúc mãnh liệt là làm ngược lại mọi điều nó gợi ý, lần này cũng vậy thôi, còn lâu gã mới để thứ thậm chí còn không tồn tại ấy điều khiển mình. Nói hẳn ra tiếng thế này có vẻ hơi ngu ngốc, nhất là khi không ai có thể nhìn thấy con quái vật ngoài Omen nên trông gã sẽ như đang tự nói chuyện một mình, nhưng gã cảm thấy mình cần phải tự nhắc nhở bản thân một lần nữa về lý do mà gã đến đây. Gã đến đây để tìm Mganga. Không phải đào xới bí mật của mảnh đất này. Con quái vật nói đúng, cả Dạ Tước lẫn Mortimer không ai đáng tin hoàn toàn cả, gã cũng chẳng ngây thơ đến mức tin hai kẻ lạ mặt lần đầu gặp, nhưng ngoài dò dẫm từng bước thì hiện tại Omen không thể làm gì cả. Có Chúa mới biết gã phải cố gắng thế nào mới không nổi khùng lên, khi mà kể từ khi bước vào cái trấn hắc ám này ai cũng chĩa mũi dùi ác cảm nhọn hoắt vào người gã, người sau nói dối nhiều hơn người trước, trong khi gã không có cách nào kiểm chứng thực hư, đó mới là điều bực mình nhất. Sẽ không có mẩu giấy hay quyển nhật ký nào đột nhiên nhảy ra và kể lể mọi thứ cho Omen nghe chuyện gì đã xảy ra, cũng không có chấm sáng nhấp nháy nào giúp gã phân biệt vật phẩm nào thật sự hữu ích và vật nào chỉ là đánh lạc hướng. Điều an ủi duy nhất là gã tự tin giá trị vũ lực của mình cao hơn bọn họ rất nhiều, hẳn là sẽ không thể rơi vào trường hợp nguy hiểm được, gã chỉ cần tránh trường hợp bị vây thôi.
Cụm khói đen lắc lư một chút, trông như một cái nhún vai trước khi tan biến vào nền trời đang tối dần. Omen thở dài vuốt mặt, đến tận lúc này mới hối hận vì mình đã lãng phí thêm mấy phút để hầu chuyện một con ma, trời thì đã sắp tối hẳn. Gã nhìn cánh cửa gỗ đóng im lìm của nhà ông Mortimer một lần cuối trước khi xốc lại túi và quay lưng đi ngược lại về phía con đường dẫn đến thị trấn. Thân làm phó câu lạc bộ kiếm thuật của trường đại học, thể lực của Omen vốn tốt hơn rất nhiều so với mức trung bình nhờ các bài tập và chế độ ăn uống, nhưng chạy đi chạy lại cả ngày bào mòn thể lực của gã một cách tệ hại, Omen chỉ có thể chạy trong khoảng hai mươi phút đầu, rồi chạy chậm dần, rồi chuyển sang bước nhanh, cuối cùng không còn cách nào khác ngoài tạm thời thỏa hiệp với cơ thể để đi bộ nhanh hơn vận tốc bình thường một chút thôi. Đi từ trung tâm Noctem tới rìa trấn thì chỉ mất hơn nửa tiếng một chút, nhưng nhà ông Mortimer lại ở góc chếch mãi phía trên, tốn thêm tận gần hai mươi phút, lúc mà Omen trở lại được địa phận hầu hết người dân sinh sống thì trời cũng đã sập tối hẳn rồi. Màn đêm trên núi còn mang theo cái lạnh, gã nhận thấy nhiệt độ giảm xuống rất nhanh sau khi ánh mặt trời tắt hẳn, đến mức gã phải tháo áo khoác khỏi eo để mặc vào, đến đêm có lẽ còn lạnh hơn thế này nữa. Cái trấn tồi tàn keo kiệt này chẳng có được đến năm cái đèn đường cho ra hồn, Omen đi đến gần tiệm tạp hóa mới thấy một cái đèn cổ lỗ sĩ có mũ chụp chớp tắt liên hồi như sắp ngỏm đến nơi, xa xa là dãy 3 cái đèn gần nhau còn sáng rõ một chút, rồi một loạt cột đèn chằng chịt dây điện như mạng nhện quấn đằng sau chúng thì hoàn toàn tối thui. Mà nói cũng lạ, ban ngày Omen còn thấy người qua lại, trời vừa chập tối cái là ngay cả đường lớn cũng vắng tanh vắng ngắt, yên tĩnh đến rợn người, thứ duy nhất không biến Noctem thành một thị trấn ma là ánh đèn vàng vọt hắt ra từ cửa sổ và khe cửa của những căn nhà lụp xụp đóng kín. Gã ngó nghiêng mãi mới túm được một ông lão ra ngoài đổ rác nhân tiện đứng ở hiên nhà hút điếu thuốc, đến gần rồi mới nhận ra đó chính là người dân Noctem đầu tiên mà mình gặp - ông lão ở quán cà phê.
“Ông ơi cho cháu hỏi…”
Ông lão rít một hơi thuốc dài, nheo mắt cười cái thằng con trai nhìn thở không ra hơi là gã. “Chào cậu bé, có việc gì à? Sao, sau một ngày đi thăm quê thấy thế nào?”
“Cũng…tốt ạ?” Gã gãi đầu, cảm thấy kỳ cục khi một ông lão tóc bạc phơ thấp hơn mình hẳn một cái đầu lại gọi mình là cậu bé. “Ông cho cháu hỏi…nhà Mục Dạ Tước ở đâu ạ?”
Tim gã gần như ngừng đập khi thấy vẻ trầm ngâm của ông lão. Nhưng rồi ngón trỏ khẳng khiu của ông gõ nhẹ vào thái dương mấy cái như thể chỉ cần làm vậy sẽ lôi được thông tin chính xác ra, và ông chỉ tay về bên phải, chính xác là ngôi nhà ba tầng của cậu trai tóc đen.
“Đó, con cứ đi thẳng hướng đó, ngôi nhà duy nhất có ba tầng là nhà của cậu ta đó.” Nhà to to, nằm ở trung tâm, ba tầng, hẳn chắc chắn là ngôi nhà mà gã đã vứt balo ở đó không sai vào đâu được rồi.
“Cháu cảm ơn ạ. Cho cháu hỏi nữa là cậu ta ở đó từ bao giờ ạ?”
“Trước đấy là nhà nó, rồi thằng bé mười sáu tuổi thì nó đã chuyển đi rồi, chỉ còn mỗi bà lão ở lại. Không biết tại sao hai tháng gần đây tự dưng thấy nó về ở. Mà con hỏi làm gì?”
“Dạ, cháu đang có vài việc cần tìm cậu ấy thôi ạ.” Omen lảng tránh ánh mắt của ông, mùi thuốc hăng hăng từ đầu tàn cháy đỏ khiến cơn cồn cào trong dạ dày gã càng mãnh liệt hơn. Tự dưng gã thèm thuốc khủng khiếp, dù gã đã lâu lắm rồi không còn hút. Gã cúi chào ông lão rồi gần như chạy trối chết, sợ rằng ông sẽ nhìn ra câu hỏi của mình có gì kỳ lạ. “Cháu cảm ơn, cháu chào ông ạ.”
Omen không dám nhìn lại cho tới khi có thể làm như vô tình đi khuất vào sau một cột đèn đường bị rất nhiều dây điện phủ kín đến tận mặt đường. Sau khi biết mình đã thoát khỏi tầm mắt của người kia, gã dừng lại, len lén thò đầu ra từ đằng sau búi dây lồng phồng cuộn vào nhau, trông thấy ông lão đã quay trở lại với điếu thuốc, khuôn mặt già nua ngước lên nhìn chăm chú vào nền trời thăm thẳm. Ông không nhìn theo hướng gã đi, hẳn là không để câu hỏi tọc mạch kỳ lạ của gã vào lòng. Một hai dài nhẹ nhõm thoát ra từ lồng ngực gã, Omen quay người, hướng về nhà của Dạ Tước mà đi. Gã vô thức bước nhanh vì ý thức được là trời đã tối, trong khi đầu vẫn miên man nghĩ mãi về lời của hai ông lão lớn tuổi. Ông Mortimer khẳng định trong trấn không có người nào tên Mục Dạ Tước, trong khi ông lão vừa nãy lại đáp nhà cậu ta sống ở đây từ xưa, thậm chí còn quen biết cậu ta. Hay là do ông thầy đồng đã cắt liên hệ với trấn quá lâu nên không quen cậu ta? Cũng không đúng, chục năm trước hẳn ông Mortimer vẫn còn qua lại với dân trấn, mà lúc đó Dạ Tước cũng chưa chuyển khỏi đây. Hay rồi đây, gã hỏi liên tục ba người, có ba câu trả lời khác nhau, và chúng đều mâu thuẫn. Quan trọng nhất là, gã không đủ tín nhiệm bất cứ ai trong số họ để tin rằng người đó nói thật.
Thôi bỏ đi, binh đến tướng chặn, nước đến đất ngăn, đi một bước tính một bước vậy.
Mải ngẫm nghĩ, Omen đã về đến nhà từ bao giờ. Mùi đồ ăn xào nấu bay ra trước cả khi gã kịp đẩy cánh cửa gỗ, khiến cái bụng rỗng không từ trưa của gã càng được dịp lên tiếng mạnh mẽ.
“Anh về rồi đó hả? Qua ăn cơm kẻo nguội.” Dạ Tước đang bưng đĩa đồ xào đặt xuống bàn, bên cạnh còn một món rau và một bát canh lớn nữa.
Omen cảm thấy nước bọt mình vô thức tiết ra vì bị mùi đồ ăn kích thích, nhưng gã lắc đầu, cố không để bản thân mềm lòng. “Chắc là tôi thôi, tôi tạt qua lấy đồ trước khi về thôi. Xe bus mấy giờ rời bến vậy?” Gã nhớ tay tài xế taxi bảo xe sẽ đi qua Kazell vào khoảng mười giờ đêm, vậy hẳn nó sẽ phải xuất phát đâu đó sáu bảy giờ, cả ngày nay chạy qua chạy lại muốn hụt hơi, nên gã quên mất hỏi giờ chính xác.
“Cái này…” Cậu thanh niên tóc đen đan tay vào nhau, khuôn mặt lộ vẻ khổ sở. “Bình thường xe bus sẽ rời đi vào khoảng bảy giờ mười lăm, nhưng không rõ tại sao lúc sáu giờ em đã thấy tay lái xe cầm chìa khóa đi mất rồi. Em đã ra bến xe xem thử, đúng là xe không còn ở đó nữa.”
“Cái gì?” Máu gã lạnh ngắt. Gã không muốn ngủ lại ở đây đâu. “Vậy có còn phương tiện nào để rời đi không?”
Dạ Tước lắc đầu. “Không có ạ, có vài nhà có xe, nhưng động cơ của chúng quá yếu để đi đường núi dài như thế, và họ cũng không cho mượn đâu.”
“Vậy tối nay tôi sẽ phải ngủ lại đây?”
“Em rất tiếc.”
Chúa ơi. Omen suýt thốt lên thành tiếng, gã thở dài ngồi phịch xuống ghế. Lúc này gã mới nhận ra mình đã mệt mỏi nhường nào, người gã gần như mềm oặt đikhoảnh khắc dựa vào lưng ghế, lưng ghế gỗ chẳng dễ chịu gì, nhưng dáng nửa nằm nửa ngồi là thứ duy nhất cơ thể lẫn tâm trí kiệt quệ của Omen có thể chấp nhận. Dạ Tước đưa cho gã một cốc nước đá, nhún nhún vai vẻ bất lực.
“Em xin lỗi, tối nay anh sẽ phải ngủ lại đây thôi.” Gã không muốn ở lại đây chút nào hết, nhưng Omen kiềm được câu nói hằn học ngay trên đầu lưỡi.
Đến khi gắp đũa thức ăn đầu tiên vào miệng, gã mới nhận ra mình đã đói đến mức nào. Dạ dày gã cuộn lên, đòi được quan tâm, đòi được lấp đầy, thúc giục gã nhét hết miếng này đến miếng khác vào miệng. Ừ thì buổi gặp ông Mortimer đã khiến gã dâng lên đôi chút cảnh giác với cậu, nhưng hiện tại chưa biết bên nào mới là bên nói thật, thêm việc cậu cũng chưa từng lần nào có vẻ muốn hại gã nên Omen tạm thời thả lỏng. Với cả, giờ mà không ăn cơm thì gã cũng chết đói thôi, lấy đâu ra sức mà chạy nữa, kiểu gì chẳng phải ăn thì mình ăn nhiều một chút. Dạ Tước nhướn mày khi thấy tướng ăn hùng hục của gã, cảm thấy may mắn vì mình đã nấu nhiều, nhưng không nói gì, cũng thong thả cầm đũa lên ăn cơm, cho đến tận lúc tốc độ và cơm vào miệng của Omen chậm dần lại cậu mới lên tiếng hỏi gã về kết quả cuộc viếng thăm hôm nay. Gã kể lại những gì ông Mortimer đã nói, tránh nhắc đến chuyện mình hỏi về thân phận của Mục Dạ Tước và hai con rối gỗ, thấy hàng lông mày thanh mảnh của người đối diện khẽ nhăn lại khi nghe đến việc đến ông thầy đồng cũng không có cách nào tìm được hay cứu sống Mganga.
“Càng lúc càng khó rồi…” Cậu trân trối nhìn vào cái bát trên tay mình, nhỏ giọng lẩm bẩm. Dạ Tước giống Mganga, đều thích đồ ăn có nhiều nước, gã đếm nãy giờ cậu húp ba bát canh rồi, đến cái tính ăn ít cũng giống hệt nhau, đồ ăn chẳng ăn mấy toàn húp nước không, bảo sao vừa gầy vừa thấp.
“Mà tôi hỏi, sao ngoài đường không có ai vậy?” Omen nhớ ra vấn đề mình vẫn thắc mắc từ khi về nhà. “Mới vừa sập tối mà nhà nào cũng đóng cửa im ỉm.”
“Do những vụ mất tích ấy anh. Toàn biến mất vào buổi tối, nên tụi em rất sợ, vừa hết hoàng hôn là mọi người về nhà đóng cửa hết, nghĩ vậy thì có thể an toàn thêm một tý.”
Cũng dễ hiểu, gã gật gù.
Dạ Tước nấu nhiều, thế nhưng dưới sự càn quét của Omen mấy cái bát cũng nhanh chóng thấy đáy, cả mâm cơm chắc gã phải xử hết hai phần ba, no muốn nứt cả bụng. Đã ăn nhờ ở đậu rồi nên gã tự giác bưng chồng bát đĩa đi rửa, cậu trai không cản, còn híp mắt cười cười chỉ cho gã xà phòng và giẻ để ở đâu, mình thì bật quạt cho thoáng rồi quay lại với quyển sách đang dở. Rửa nhoáng một tý là xong, chưa đến mười lăm phút là gã đã vừa lau tay vào gấu áo vừa bước ra khỏi bếp rồi. Omen ngồi phịch xuống ghế, cơ thể rệu rã quyết định là dáng nửa nằm nửa ngồi sẽ dễ chịu hơn và quan trọng hơn là phép lịch sự. Màn hình điện thoại vẫn hiển thị là không có sóng, không, thật ra là có đúng duy nhất một vạch, nhưng nó chớp tắt chẳng thua gì cái đèn đường ba mươi phút trước gã vừa đi qua, và hoàn toàn không có tý tẹo gì hy vọng là có thể nhắn tin hay gọi điện. Gã đã thử nhắn cho Aleister, nhưng đến giờ vẫn chỉ có dấu chấm than đỏ báo hiệu không gửi được vì không có sóng, hẳn phải trở lại thành phố thì may ra. Đã sống trong thế giới bao phủ bởi sóng 4G mọi nơi mọi lúc quá lâu, cảm giác bị cắt đứt liên lạc với nền văn mình loài người đúng là khó chịu thật, cái nơi khỉ ho cò gáy này hoặc là lạc hậu vài trăm năm, hoặc là quá căm ghét thế giới bên ngoài mới vậy được, mà gã ngờ lý do là vế sau.
“Đừng cố anh ạ, không có sóng đâu.”
Omen quay sang, thấy Dạ Tước cũng đang trong tư thế nửa nằm nửa ngồi biếng nhác như mình, cuốn sách để ở úp lên trên mặt ra chiều chán nản, giọng đều đều vọng lên từ dưới lớp giấy. “Hai tháng nay em cũng cố rồi, nhưng làn sương bao quanh trấn có tác dụng gây nhiễu rất mạnh, mấy bộ phát em mang tới coi như thành đống sắt vụn luôn.”
Rồi cậu ta còn giấu gã bao nhiêu điều nữa vậy? “Sương gì cơ?”
“Ủa, lúc anh về không thấy hả? Khi mặt trời lặn là sẽ bắt đầu có sương, đến đêm là sương dày lắm, nhiều khi còn nhìn không nổi đường, nó bao quanh rìa trấn và kéo rất sâu vào trong rừng. Mấy cụ già bảo sương đó do cái vực làm, tốt nhất là không nên chạm vào làm gì cả.”
“À, có nhớ.” Đúng rồi, trên đường trở về từ nhà ông Mortimer đúng là gã có thấy bìa rừng bắt đầu tản tản sương, Zephys cũng bảo là thiết bị của cảnh sát cũng bị khói sương dày làm nhiễu không sử dụng được.
“Nó đó. Em cũng không dám đi quá xa vào buổi tối, sương dày quá chắn hết tầm nhìn, lỡ chân hụt xuống đâu thì không ai biết mà cứu.”
Rồi câu chuyện cắt đứt tại đó, Dạ Tước quay lại với quyển sách, gã đọc được tên sách trên bìa là “Alice in wonderland” - không phải là một lựa chọn thường thấy với con trai ở độ tuổi này, có lẽ đằng sau khuôn mặt lạnh nhạt đó là cũng là một tâm hồn bay bổng ra trò chứ. Về phần mình, gã chúi mũi vào điện thoại, hí hoáy cái gì đó liên hồi.
“Tôi hỏi một câu này được không?” Omen từ nãy giờ đã ngồi gõ hết những thông tin hôm nay mình kiếm được vào mục ghi nhớ.
“Được chứ.”
“Tại sao cậu lại để móng mỗi ngón cái vậy? Thường thì người ta một là để hết, hai là cắt hết.”
“À cái này ấy hả?” Dạ Tước vui vẻ giơ tay lên, tay y có đốt ngón tay dài, thon, các ngón tay đều được cắt ngắn khá sát, trừ ngón cái. “Anh biết không, móng tay cũng nằm trong top những bộ phận cứng nhất trên cơ thể người. Để ngón cái có thể làm khá nhiều việc, mở nắp lon này, rạch hộp này, cà thể bạc này. Em bị ảnh hưởng cái này từ anh Mganga, nhưng anh ấy để cả bàn, còn em để mỗi ngón cái thôi.”
Omen đã chờ đợi câu trả lời này.
Vì sao á? Vì Mganga cũng đã trả lời y hệt như thế, khi bọn họ mới quen nhau. Y bảo y vốn chỉ định để mỗi ngón cái thôi, nhưng lười cắt ngón khác nên cứ để chúng dài như vậy. Cho tới khi học các năm tiếp theo, do đặc thù của ngành học nên Mganga buộc lòng phải cắt gọn hết chúng đi, dấu vết còn lại duy nhất của việc đó là cách y gõ phím rất khác với người bình thường, người khác dùng đầu ngón tay, còn y dùng phần đệm thịt mềm để tránh móng tay chạm với màn hình điện thoại phát ra tiếng cạch cạch. Dạ Tước có cách gõ phím y hệt như thế.
Không rõ tại sao cậu ta lại biết việc mà có khi Aleister cũng đã quên, nhưng ít ra có vẻ việc cậu quen biết y là thật. Hai người chưa chắc đã là anh em họ, và lý do cậu đi tìm y khi trước có vẻ cũng không hoàn toàn đầy đủ.
“Cũng muộn rồi, để em chỉ anh chỗ nhà tắm nhé? Anh có mang quần áo không?”
Omen gật đầu, theo Dạ Tước sang một căn phòng khác. Dù sao gã cũng đã trượt môn logic học vào năm hai, nên thay vì ở đây chơi tung hứng với những câu hỏi đúng và sai, gã sẽ lựa chọn hành động hơn, Omen luôn là thế mà.
Gã sẽ sống sót.
“Vòi nước ở đây, nhớ khóa nước lại sau khi dùng nếu không nó sẽ bị rò. Em rất tiếc, nhưng ở đây chỉ có nước lạnh thôi.”
“Không sao, tôi cũng quen tắm nước lạnh rồi.”
Phòng tắm cũng giống như phần còn lại của căn nhà, cũ kỹ và nghèo nàn kinh khủng, tường thậm chí không được ốp gạch, tuy vậy có vẻ khá sạch sẽ và được cọ rửa thường xuyên. Gã hơi ngại việc để lại bao kiếm ở ngoài phòng khách, nhưng nếu đi tắm cũng mang theo thì lại trông hơi kỳ quặc, và có thể khiến cậu ta nghi ngờ nữa. Gã kiểm tra một lượt phòng tắm, thấy không có vấn đề gì mới bắt đầu cởi đồ, dù sao lúc tắm cũng là lúc trạng thái phòng vệ xuống thấp nhất. Tắm nhanh là đặc quyền của bọn con trai, chỉ khoảng nửa tiếng sau là gã đã bước trở lại phòng khách, vừa đi vừa lau mái tóc dài ướt đẫm của mình bằng khăn tắm.
“Tỉnh cả người.”
“Như được sống lại ha?” Dạ Tước hơi nhếch môi, phụ họa. “Nhân tiện, anh muốn ngủ trên tầng hay dưới này?”
“Có gì khác nhau không?”
“Không khắc nhau lắm, cả hai phòng đều đầy đủ giường, chăn ga gối, phòng dưới em đang nằm nhưng nếu anh muốn thì em lên trên ngủ cũng được.”
“Vậy phòng trên thì ai nằm? Một căn nhà như thế này không tự dưng mọc ra phòng ngủ trong khách luôn trong tình trạng có thể sử dụng đâu chứ?”
“Sắc sảo đó. Phòng đó trước là anh Mganga nằm, chiều nay em mới quét dọn lại.”
Omen nhíu mày, một ý nghĩ xẹt qua đầu hắn. “Vậy phòng trên tầng đi.”
Nhìn chung, căn phòng cũng không có gì đặc biệt. Khá là điển hình cho dạng nhà đã bị khoét sạch một lần, giấy dán tường đã bị bóc hết, gỗ lát sàn phồng cả lên, chỗ còn bị thiếu mấy miếng, cả không gian thênh thang chỉ kê có đúng mỗi chiếc giường, càng tăng thêm vẻ trống trải. Gã lén lút nhìn về phía cửa sổ, cửa là dạng cửa sổ gỗ hay thấy ở quê, không bị chặn, một bên cửa đang mở có thể nhìn ra bầu trời tối đen bên ngoài, cái chốt kiểu then cài lủng lẳng ở một bên. Omen nhớ phía này của căn nhà có một cây sồi khá to, nếu may mắn gã có thể nhảy sang phía đó để tụt xuống đất trong trường hợp bất khả kháng, gã sẽ xem xét tính khả thi của việc đó sau khi Dạ Tước rời đi. Cái giường không lớn lắm, gã ném ba lô với túi xách lên là cũng chiếm mất gần một nửa diện tích bề ngang, chăn ga đều màu xanh sẫm, cũng không có hoa văn, giống phong cách thường thấy của Mganga.
“Đợi em một tý, có mấy thứ này cho anh.” Cậu trai tóc đen búng tay như thể vừa mới nhớ ra điều gì đó, quay lưng ra khỏi phòng.
Omen tiến lại gần cửa sổ đang mở, ngó ra ngoài. Cây sồi rất gần căn nhà, tuyệt, gã hoàn toàn có thể trèo lên bậu cửa và nhảy qua đó mà không gặp chút vấn đề nào. Gã biết cứ suy nghĩ mãi về những mối nguy không có vẻ gì là tồn tại trông hơi ngu ngốc, nhưng cẩn tắc vô áy náy, nhất là trong một môi trường mà gã không thể tin bất kỳ một ai. Gã luôn phải có một đường lùi.
Omen đã ngồi trở lại trên giường khi Dạ Tước quay lại. Một tay y cầm hai cây nến trắng to, tay còn lại cầm một cái đèn bão. Có thể là vì vẻ khó hiểu trên mặt gã rõ ràng quá, khóe miệng cậu chàng khẽ nhếch lên khi ném cho gã chiếc đèn, còn hai ngọn nến thì được cậu lắp vào đế nến, để thẳng lên sàn.
“Trước khi đi ngủ nhớ thắp chúng lên, và tuyệt đối không được để tắt.”
“Tại sao?”
“Thì…mấy cái trấn lạc hậu kiểu này bao giờ chẳng có mấy tập tục kỳ lạ đúng không? Cứ coi cái này là vậy đi.”
Gã gật gật đầu. Sao cũng được.
“Còn cái đèn bão này là do buổi đêm ở đây không có điện đâu, anh cần đi vệ sinh hay uống nước gì thì cứ cầm nó theo, đèn đi đường nên công suất lớn lắm.”
“Cảm ơn. Tôi có thể hỏi trên tầng ba có gì không?”
“Tầng ba á…Ngày xưa nó là gác xép chứa đồ do lúc xây trần hơi bị thấp, giờ thì cũng rỗng không rồi ấy mà, anh thích cứ lên xem thử.”
Chắc chắn là gã sẽ lên xem thử rồi, nhưng Omen không nói điều đó ra ngoài miệng. Dạ Tước ném cho gã một cái bật lửa trước khi ra ngoài, lúc sắp khép cửa lại thì đổi ý ngó vào lần cuối, nói.
“Em ở căn phòng ngay sát phòng khách về hướng ngược lại so với bếp ấy, nếu cần gì anh cứ gọi em.”
Gã gật đầu. “Ngủ ngon.”
“Ngủ ngon.”
Và rồi Omen bị bỏ lại một mình, như ý nguyện. Để phòng vạn nhất, gã lôi từ balo ra ít dây dợ, cạy dưới sàn ra một mảnh gỗ, rồi làm một cái bẫy đơn giản để bất cứ ai mở cửa sẽ khiến miếng gỗ rơi xuống, âm thanh không lớn, nhưng đủ để đánh thức một kẻ thính ngủ như Omen. Xong xuôi tất cả cũng là lúc gã ngã ra chiếc giường nhỏ, để mùi bụi thoang thoảng vây lấy cánh mũi mình. Chăn gối không còn mùi của Mganga.
Omen sợ mình sẽ ngủ quên, nhưng gã vẫn ngủ.
Omen sợ mình sẽ gặp ác mộng, nhưng bóng tối vẫn vây lấy gã ngay cả trong giấc mơ.
Ban đầu, gã và y vốn không ngủ chung giường.
Bọn họ nhanh chóng hẹn hò vào năm đầu tiên Mganga học đại học, rồi chuyển đến sống cùng nhau vài tháng sau đó. Nhưng mãi đến cuối năm thứ hai, hai người vẫn ở hai phòng khác nhau, gã cũng nghĩ đó là điều bình thường nếu y muốn có chút thời gian riêng vào buổi tối, nhất là sau khi bọn họ đã dính cứng với nhau gần như cả ngày.
Rồi một hôm Omen thức giấc giữa đêm, gã thấy Mganga ngồi ngay bên cạnh mình, đang nhìn chằm chằm vào khuôn mặt ngái ngủ của gã.
“Sao vậy?”
Y chớp mắt ba lần trước khi nhẹ nhàng trả lời. “Em gặp ác mộng.”
Trong ánh đèn lờ nhờ từ chiếc đèn bàn ở đầu giường, trông y xanh xao và nhợt nhạt đến sợ, và trắng nữa, mà da y vốn đã trắng rồi, nhưng lúc này nó gần như một tờ giấy mỏng dùng quá nhiều bột tẩy vậy, đến nỗi gã có thể nhìn thấy những mạch máu xanh ẩn hiện dưới da. Lúc ôm Mganga gã mới biết người y rất lạnh dù đêm đó đang là giữa mùa hè, y cuộn tròn lại trong vòng ôm của gã, chiều cao một mét sáu mươi tròn khiến y trông như con mèo nhỏ núp vào trong đống len ưa thích nhất của mình.
“Em mơ thấy gì?”
“Em mơ thấy anh quên mất em rồi.”
Lúc đó ba mẹ Mganga đều đã chết, y cũng không có họ hàng, mà Omen là người thân cận nhất với y, nên cái viễn cảnh đến gã cũng bỏ y lại đằng sau trở thành nỗi sợ hãi của Mganga là điều dễ hiểu. Gã chỉ đành an ủi y, việc mất trí nhớ là việc rất khó xảy ra, mà kể cả có đi chăng nữa, thì vẫn còn rất nhiều dấu vết chứng minh sự tồn tại của mối quan hệ giữa bọn họ.
“Thế lỡ anh hết yêu em thì sao?” Mganga vốn không phải tuýp người sẽ hỏi một câu như vậy.
“Hiện tại thì em không phải lo việc đó.” Chính Omen là kẻ theo đuổi y trước, vất vả mãi mới ôm được người về. Gã vốn cũng không phải loại người cả thèm chóng chán, nội việc mỗi bữa sáng đều ăn cùng một món suốt hai mươi năm trời cũng đủ để thấy rồi. Mối quan hệ đối với gã cũng chỉ là một món ăn lớn hơn mà thôi. “Kể cả nếu có chia tay thật, anh cũng không khốn nạn đến mức sẽ để em một mình.”
Nghe được mấy câu an ủi sứt sẹo như vậy của Omen, Mganga mới hài lòng nhắm mắt lại ngủ.
Nhưng hôm sau, gã tiếp tục giật mình thức giấc, và lại thấy y nằm bò trên giường nhìn mình ngủ, eo áp vào tay gã, chân đụng vào chân gã.
“Lại gặp ác mộng à?”
Y lắc đầu. “Em chỉ muốn chắc chắn rằng anh sẽ không quên mất em.”
“Anh sẽ không quên mất em.”
“Anh đã làm rồi. Từng.”
Rồi đêm sau y tiếp tục đến. Và lại đêm sau nữa. Đêm sau nữa nữa. Đêm sau nữa nữa nữa.
Cuối cùng, Omen ngỏ lời mời y ngủ chung giường với mình, và Mganga đồng ý. Y không bao giờ ngủ một mình nữa, kể cả khi hai người cãi vã. Cho dù bọn họ đang chiến tranh lạnh, gã cũng tuyệt đối không được ra sofa ngủ hoặc bỏ ra khỏi nhà. Đó là ranh giới cuối cùng của y.
Đêm nay, gã mơ thấy rất nhiều khuôn mặt. Aleister, Natalya, Zephys, Mục Dạ Tước, Wyatt, Mortimer, Mganga, vô số người trong trấn Noctem mà gã thậm chí còn chẳng biết tên.
Bọn họ đều là con rối trong một vở kịch, còn gã thì không tìm được vai của mình trong vở kịch ấy.
Omen không phải một kẻ có trí tưởng tượng tốt, nhưng khi gã nghe Dạ Tước kể về tai nạn của Mganga, gã có thể hình dung được nó rất dễ dàng. Một câu chuyện xưa mà gã không bao giờ nghĩ rằng mình lại cảm thấy quen thuộc.
Trong giấc mơ của gã, Omen thấy mình quay trở lại năm thứ hai đại học, vào ngày thứ hai Mganga đến phòng gã giữa đêm. Y nằm bò trên giường nhìn gã ngủ, eo áp vào tay gã, chân đụng vào chân gã.
“Anh quên mất em rồi.”
Y thở dài buồn bã, rồi đứng dậy. Trong lúc Mganga rời khỏi giường, bộ đồ trên người y thay đổi, biến từ bộ quần áo ngủ bằng vải mềm màu đen sang chiếc áo gió xanh sẫm, quần jeans đen, và đôi giày màu đỏ, trên lưng là cặp sách. Y biến thành bộ dáng vào ngày y mất tích.
“Em phải đi thôi.”
Cánh cửa phòng ngủ mở toang, bóng tối cuộn xoáy trên khung cửa nuốt chửng người gã yêu như thinh không im lặng đã làm hơn sáu mươi ngày trước. Nó đã nuốt mất Mganga, rồi thế chỗ y trong căn nhà của hai người, không ngừng ngấu nghiến và tàn phá không gian thuộc về bọn họ, chỉ vì gã đã lỡ để nó tiến vào, vì gã đã lắng nghe lời thì thầm của nó.
Omen đã đuổi theo bóng lưng y, nhưng khoảnh khắc gã xông qua cánh cửa, cũng là lúc gã mở mắt tỉnh dậy.
Nhà của Dạ Tước. Trời vẫn còn tối. Đồng hồ hiển thị một giờ bảy phút sáng. Then cài cửa vẫn khóa chặt, không có bất kỳ một ai cả.
Gã ngồi dậy, cái chăn tuột khỏi người gã nhắc nhở buổi đêm trên núi có thể lạnh đến mức nào, nhưng Omen vẫn thấy lưng mình ướt đẫm mồ hôi lạnh. Tệ thật, gã đã ngủ quên quá lâu, trong khi gã đã định buổi đêm nay sẽ tiếp tục ra ngoài. Đó là lý do gã không gặng hỏi về chuyến xe bus hay tự mình ra bến xe kiểm tra, nếu Dạ Tước đã muốn gã ở lại, vậy Omen sẽ tận dụng nó để sục sạo thêm một chút, dù sao có rất nhiều thứ phải đến đêm mới nhìn thấy.
Omen lật chăn ra, trèo khỏi giường. Trong cặp gã có một cái đèn pin cầm tay công suất lớn, vừa bật lên là cả căn phòng đã sáng bừng. Gã khoác lại cái áo gió vào người cho khỏi lạnh, buộc gọn tóc, rồi bắt đầu lần mò khung giường. Nếu Mganga từng ngủ ở đây thật, hẳn phải có manh mối gì đó. Ở đầu giường không có gì, gã lật đệm ra, khung giường cũng trống không, gầm giường toàn là bụi, cuối cùng gã quỳ xuống, đưa tay lần sờ ván gỗ ở đáy giường. Nếu gã nhớ không nhầm, y ngày xưa cũng thích giấu mấy thứ linh tinh ở chỗ này. Omen không sờ dược bất cứ bọc đồ nào, nhưng tay gã chạm phải những vạch khắc gỗ, những vạch khắc chắn chắn không phải vô tình. Tim Omen đập thình thịch khi lần theo từng đường nét xiêu vẹo, những con chữ dần dần hiện lên trong đầu gã.
Số vụ mất tích là sáu.
Đi theo lũ chim.
Cứu em với.
Tầng 3.
Mặt gã nhợt nhạt dần khi luận ra được ý nghĩa của những con chữ xiên vẹo. Số vụ mất tích là sáu? Trong sáu vụ này có tính cả Mganga không? Nếu không, vậy ý y là sẽ có thêm một người nữa biến mất? Nhưng tại sao y lại chắc chắn về việc đó như thế, chẳng lẽ những vụ mất tích đó đúng là có liên quan đến Mganga? Còn lũ chim là sao? Trấn Noctem vốn không có chim ác là, và chúng là những kẻ duy nhất mà không ai điều khiển nổi. Lũ chim đóng vai trò gì trong vụ này?
Đúng lúc này, cái đèn pin cầm tay gã để trên giường nhấp nháy hai cái rồi tắt hẳn, đẩy căn phòng trở lại bóng tối. Omen buột mồm chửi tục, quay lại vớ lấy cái đèn, nhưng khi bấm công tắc thì nó chỉ nháng lên một giây rồi lại lăn ra chết. Lạ thật, gã trước khi rời nhà đã thay hẳn pin mới cho chắc ăn rồi cơ mà. Chắc là cháy bóng rồi. Không còn cách nào khác, gã phải viện tới cái đèn bão mà Dạ Tước cho mượn khi nãy, nói là đèn bão chứ chỉ có hình dáng bên ngoài là giống, còn đèn bên trong không phải nến hay dầu mà là đèn điện thông thường, bật lên cũng khá sáng, chỉ là không chiếu được xa.
Manh mối cuối thì khá rõ ràng rồi, chắc là gã sẽ phải lên gác xép một chuyến thôi.
Omen vớ lấy bao đựng kiếm, đi giày vào. Cửa kêu kẽo kẹt khi gã mở cửa, Omen ngó ra, lo sợ Dạ Tước sẽ nghe thấy, đợi một lúc lâu chắc chắn không có ai mới dám ra khỏi phòng, đóng cánh cửa lại sau lưng.
Từ lúc thức giấc cho đến khi rời đi, Omen hoàn toàn không nhận ra cặp nến đã tắt từ lúc nào.
Căn gác xép đúng như Dạ Tước nói khi trước, nó trống rỗng. Trần thấp bằng một nửa các tầng dưới, có một khung cửa sổ trổ là là mặt đất được lắp kính thay vì gỗ, sàn lát gỗ đã bung gần phân nửa, giấy dán tường rách nát. Mũi gã ngứa ran vì bụi, một lớp bụi mỏng phủ trên sàn, chứng tỏ đã lâu rồi không có người lên.
Vấn đề là thế này, Omen không biết thứ mình mong đợi trên này là gì. Nó có thể tiếp tục là những vết khắc, tỷ lệ thấp nhưng không phải là không thể, có thể là những đồ vật bé xíu xiu chứa đựng manh mối, thậm chí là một biểu tượng, hoặc một mảnh giấy, không có điều gì chắc chắn cả. Gã cũng không biết mình phải tìm ở đâu nữa, nó có thể trên sàn, trên tường, hoặc thậm chí trên trần nhà.
Lũ chim. Lũ chim. Có thể lũ chim trong lời nhắn của Mganga không thể hiểu theo nghĩa đen.
Ôm tâm lý may mắn, gã mở điện thoại lên, gõ vào mục tìm kiếm trong khung chat của mình và y chữ “chim”. Nếu không được thì gã không còn cách nào khác là phải mò mẫm từng phân trong căn phòng này thôi. Không phụ lòng mong đời, một tháng trước khi mất tích, y có nhắn một tin thế này.
“Anh biết không, xương cụt của con người được đặt tên theo từ ‘chim cúc cu’ trong tiếng Hy Lạp, vì nó có hình dạng giống như mỏ chim.”
Chuyên ngành của Mganga là y học, vậy nên gã chỉ nghĩ đó là một mẩu chuyện lông gà vỏ tỏi y kể trong lúc rảnh rỗi. Nhưng nó có thật chỉ là trùng hợp không?
Omen vội vàng quỳ sụp xuống, lần mò trên sàn. Nếu lũ chim là một lời gợi ý thì hẳn phải có ký hiệu nào đó, nhưng căn phòng này không có bất kỳ đồ vật nào để làm mốc, khả năng duy nhất còn lại là nó cũng được khắc trên sàn, hẳn phải ở chỗ mà tất cả mọi người sẽ bước qua khi trèo lên gác xép.
“Đây rồi.”
Cuối cùng, trong ánh sáng tù mù của cây đèn bão, Omen cũng sờ được một vết khắc không hợp lý trên sàn nhà toàn vết gạch dọc ngang. Nó bị những vết chém nông che đi, nhưng rõ ràng đó là hình một người que đang cuộn tròn lại, và phần hẳn là xương cụt trong thực tế của hắn chỉ về…chỗ khung cửa sổ.
Omen lao vội tới khung cửa sổ rạp sát sàn, tinh mắt thấy được ngay phía dưới khung cửa có một chỗ mà ván gỗ bị lồi lên như thể gỗ bị phồng. Trong phòng cũng có rất nhiều chỗ khác bị phồng như thế, đây là hiện tượng bình thường khi gỗ bị ngấm nước, nhưng nếu manh mối đã chỉ đích danh thì hẳn chỗ này phải che giấu gì đó. Gã quỳ xuống, bắt đầu cậy ván sàn. Có một khe hở giữa hai thanh gỗ, ngay khi gã luồn ngón tay vào đó Omen đã cảm nhận được mình sờ phải một góc của một tờ giấy. Gã khấp khởi mừng thấm, cố gắng moi mảnh giấy ra, đến mức đầu ngón tay bị xước rớm máu cũng không để ý. Cuối cùng sau bao nỗ lực, gãy mất một cái móng tay và xước hai ngón khác gã cũng thành công, một tờ giấy bé xíu, nham nhở, được gấp làm tư nằm gọn trong tay gã như một kho báu chờ được mở. Omen đứng dậy, dùng hai bàn tay run rẩy giở tờ giấy ra, đồng thời vừa háo hức vừa sợ hãi những gì mình sắp được đọc.
Trấn Noctem chỉ có một người từng rơi xuống vực.
Cẩn thận Dạ Tước.
Trong lúc Omen còn đang bận suy ngẫm về nội dung của mảnh giấy, một tiếng “thình” thật lớn vang lên. Gã giật mình quay lại, trông thấy một con chim ác là đang dần trượt xuống khỏi lớp kính trong suốt, tiếng động vừa nãy hẳn là do nó đâm vào cửa sổ. Gã chớp mắt, tiếp tục thấy thêm một bóng đen nữa lao về phía mình như con thiêu thân.
Thình.
Thình.
Ba con chim dần trượt xuống vì trọng lực, nằm ngay đơ trên bệ cửa sổ. Trăng đêm nay sáng, lúc gã ngó ra có thể thấy lũ chim ác là đang dần tụ tập lại trên cây sồi cạnh ngôi nhà và những cái cây xung quanh, một hai ba bốn năm sáu bảy tám, nhiều quá gã không đếm hết được. Dù cách một lớp kính, Omen vẫn nghe được tiếng hót khào khào như giấy nhám chà lên bảng gỗ của chúng xuyên thẳng vào trong tai mình. Vô số đôi mắt tròn, bé xíu như những hạt cườm chiếu thẳng vào gã, im lìm và áp lực như một đoàn quân. Như đang chờ đợi.
Đi theo lũ chim. Có vẻ lời nhắn này cần được hiểu theo cả hai nghĩa.
Omen bỏ tờ giấy gấp tư trở lại vào túi. Gã có thể thề rằng đây là chữ viết tay của Mganga, và nếu những gì được viết trong này là thật, nó sẽ thay đổi mọi chuyện.
Gã lần mò đi xuống tầng một, tim hẫng một nhịp khi thấy phòng ngủ của Dạ Tước hé mở. Nhưng không phải là cậu ta đã thức dậy, mà cánh cửa vô tình trượt ra thôi, không hiểu sao cậu lại có thể yên tâm ngủ khi không khóa cửa phòng. Điều này không hợp lý lắm so với những gì mà cậu kể, thân là một kẻ từng bị dân trấn xộc vào nhà khống chế lúc rạng đông, tính cảnh giác của Dạ Tước theo lý phải rất cao. Omen phải đi ngang qua phòng cậu ta nếu muốn ra cửa, nhờ ánh đèn trắng nhợt nhạt của chiếc đèn bão, gã thoáng thấy qua khe cửa hẹp cậu trai tóc đen cuộn tròn trên giường, mặt quay vào tường, lồng ngực khẽ phập phồng theo mỗi hơi thở. Cậu ta vẫn còn ngủ rất say, may quá.
Nhìn mới nhớ, Omen ghét để cửa mở khi ngủ lắm. Hầu như suốt thời thơ ấu, gã phải kiểm tra chắc chắn mình đã bấm chốt trước khi trèo lên giường đi ngủ. Bởi vì con quái vật của gã giống như lũ ma cà rồng, nó không thể đi vào một khi chưa được mời, nó không thể theo gã vào phòng ngủ, đó là quãng thời gian duy nhất gã có thể được yên, cảm giác hả hê khi nhìn nó bồng bềnh một cách căm tức ngoài cửa phòng cũng vui lắm. Thay vào đó, nó chui tọt vào giấc mơ của Omen.
Rồi một ngày, gã để hé cửa phòng trước khi đi ngủ. Con quái vật coi đó như một lời mời và bước vào, đêm đó gã giật mình thức giấc, thấy một bóng đen mờ mờ ảo ảo ở chân giường mình.
Nó không bao giờ rời đi nữa.
Gã hy vọng không có con quái vật nào sẽ mò vào phòng của Mục Dạ Tước.
“Kêu đéo gì sợ quá vậy?” Omen lẩm bẩm khi mắm môi mắm lợi mở cái chốt cửa nhà. Chốt kiểu cũ nên không cần chìa khóa, nhưng nó rít kinh khủng, gã chỉ sợ tiếng ken két của nó sẽ đánh thức Dạ Tước. Nhưng cuối cùng thì gã vẫn suôn sẻ mở được nó ra mà không làm phiền chủ nhà ngủ.
Vừa mở cửa là gã sâu sắc cảm nhận được nửa đêm trên núi có thể lạnh đến mức nào. Gió mạnh cắt da cắt thịt thổi thông thốc vào người gã, hất tung lọn tóc mái dài, may mà gã chuẩn bị kỹ mang cả áo khoác theo nên vẫn trong phạm vi chịu đựng được. Cửa ngoài thì Omen không có chìa khóa, nên gã quyết định sẽ trèo tường thôi, một công việc rất dễ dàng với thể hình của gã. Gã lùi lại một chút lấy đà, chạy tới rồi đạp vào tường để đẩy người lên, suôn sẻ bám vào tường rào, cuối cùng nhún thêm cái nữa là qua được bên ngoài, lúc buông mình xuống đất thậm chí gã còn không gây ra tiếng động nào.
Chào đón gã là rất nhiều đôi mắt đen bóng, nhỏ như hạt cườm, một binh đoàn lông vũ đã chờ đợi Omen từ lâu trên tất cả các cành cây và cột điện quanh nhà Dạ Tước.
Bốn con trên cành cây thấp nhất của cây sồi, năm con trên cái cây chết khô trước cửa nhà, bảy con trên dây điện cao thế, và rất, rất nhiều nhưng con chim ác là nữa đậu khắp nơi, chúng im lặng đến bất bình thường, không một cái mỏ nào hé mở, không một tiếng chim kêu khào khào. Omen giật mình khi thấy một con rời khỏi bầy đàn, bay đến trước mặt mình. Gã theo phản xạ giơ tay lên, rồi ngạc nhiên khi con chim nọ nhẹ nhàng đậu lên mu bàn tay mình.
Nó có vẻ thích gã.
Không biết con ác là nào đã kêu ré lên, nhưng nó dường như là một tín hiệu, cả đàn chim xòe cánh, lần lượt bay lên cao, gã để ý thấy chúng xoay tròn lại thành một cơn lốc chim khi rời cành, rồi cùng bay về một hướng rất rõ ràng, cùng chung một đích đến. Con chim đậu trên tay gã cũng nhanh chóng nhập bầy với một cú nhún người, hàng trăm tiếng vỗ cánh hợp lại như một làn sóng dập dềnh hữu hình, đập vào tường của các ngôi nhà giữa đêm khuya thanh vắng. Omen cũng chỉnh lại quai đeo túi xách, kéo khóa áo gió lên đến tận cổ, tay cầm chắc chiếc đèn bão.
Và đuổi theo hướng lũ chim rời đi.
Lũ chim rõ ràng là có ý định đợi gã. Omen nhận thấy thế khi đi theo những con ác là, khoảng phân nửa trong đàn sẽ đậu lên cành cây hoặc dây điện bên đường để làm dấu mốc cho gã, rồi bay đi ngay khi Omen đi qua, nhịp nhàng đến đáng ngạc nhiên, như thể chúng đã tập luyện điều này từ lâu. Nhờ vậy, gã vẫn dễ dàng bám theo dù đang là giữa đêm, trăng sáng cộng thêm cái đèn bão cũng chỉ chiếu sáng được một khoảng lờ nhờ xung quanh người. Gã lờ mờ cảm thấy chúng đang dẫn mình rời khỏi thị trấn, nếu đúng cả hướng nữa thì có khi là đang thẳng tiến về cái vực. Điều ấy là Omen thoáng lo ngại, vì gã không chắc là mình muốn đến gần cái khe nứt ấy giữa đêm hôm khuya khoắt thế này, buổi trưa muộn gã đến cùng Dạ Tước là ban ngày mà cũng đã thấy rất áp lực rồi, nhưng sự nỗi tò mò về thứ mà lũ chim giấu giếm thôi thúc gã bước tiếp. Khi đi hết nửa trái đổ nát của thị trấn thì một màn sương lờ mờ hiện lên, lảng vảng trong rừng như mây sà xuống mặt đất, đúng như lời của Dạ Tước nói. Gã là dân tự nhiên thuần, chữ nghĩa trả cô giáo Địa hết rồi nhưng gã chắc chắn với cấu trúc địa lý ở đây thì sương không thể dày đến thế này được, có thể có sương, nhưng không thể mờ nhìn không rõ nổi đường thế này được. Đang đêm nên tầm nhìn vốn đã hạn chế, giờ thêm lớp sương thì Omen căng mắt ra cũng chỉ nhìn được cảnh vật lờ mờ trong phạm vi năm mét xung quanh bản thân, nếu không nhờ những bóng đen xòe cánh cứ liên tục bay vào màn sương xung quanh gã và tiếng chim kêu lào khào hẳn Omen cũng mất dấu lũ ác là từ lâu. Gã chỉ hy vọng vòng tay trắng bệch của sương đêm vây xung quanh mình sẽ không khiến gã hụt chân ngã xuống đâu đó, như cậu trai tóc đen đã nói ấy, giờ này đâu có ai biết mà cứu. Đi di lại lại cái lối này mấy lần, gã cảm thấy mình cũng sắp thuộc đường đến nơi rồi. Không rõ có phải do căng thẳng vì không nhìn rõ đường hay không, Omen thấy mệt hơn lần đầu Dạ Tước dẫn gã đi nhiều, cả tâm trí lẫn cơ thể đều mệt mỏi và rệu rã, đã mấy lần gã phải đứng lại thở vì quá mệt, hay trượt chân trên thảm thực vật ướt đẫm sương đêm. Có vẻ quãng nghỉ ngơi ở nhà chỉ vậy là chưa đủ, gã gần như phải thúc ép bản thân mình để có thể bước tiếp.
Tổ của bọn chim ác là ngay cạnh cái vực, gã đã đoán trước được điều này rồi, nhưng đến lúc thấy tận mắt thì vẫn cảm thấy sợ hãi. Mganga chuyên y - sinh - hóa nên gã cũng học mót được một tý, về lý thuyết chim ác là sẽ tụ tập thành bầy lớn để kết đôi và sinh sản, nhưng chỉ trong khoảng thời gian đầu năm, từ cuối đông đến đầu xuân, nhưng cái kiểu này…những hàng cây quanh vực gần như bị chim ác là phủ kín, đông đến mức phi lý, dàn đồng ca khàn khàn của chúng được xướng lên từ hàng trăm cái mỏ đinh tai khủng khiếp, Omen có thể thấy rất rõ bóng chim in hằn lên nền trời đêm, con nọ chồng con kia, giống như sào huyệt của lũ chim hơn là lãnh thổ thông thường.
Tiếng chim kêu dường như to hơn khi Omen đến gần miệng vực.
Gã giương cao cái đèn bão, cố sức nhìn xuyên xuống cái miệng đen ngòm trước mặt qua làn sương trắng xóa. Vực thẳm buổi đêm thậm chí còn đáng sợ hơn cả khi nhìn nó vào ban ngày, thăm thẳm và hun hút, tưởng như đến ánh sáng cũng không thể thoát được cái bụng đói khát của nó một khi đã lỡ chân ngã vào. Gã có thể cảm nhận thấy mồ hôi lạnh chảy đầy sau lưng mình, cũng như bản năng đang không ngừng cảnh báo mình phái chạy thật xa khỏi chỗ này.
Một con ác là sà xuống ngay rìa vực, cái đuôi nó dựng lên trông như một cây bút, mỏ nó cắp theo một thứ gì đó. Gã không nhìn rõ được nó ngậm cái gì vì sương và vì tối, nhưng gã có thể chắc chắn thứ đó sáng lấp lánh. Tập tính của loài ác là là thích những thứ lấp lánh.
Omen tiến về phía trước một bước, nhẹ nhàng để không kinh động đến con chim. Rồi một bước nữa.
Một bước nữa.
Có tiếng gỗ gãy răng rắc vang lên bên tai gã, nhưng gã không để ý.
Gã thở ra một hơi dài,
Và chân bước hụt vào khoảng không.
Omen tỉnh dậy đúng khoảnh khắc mất thăng bằng, tay gã quơ loạn ra sau theo phản xạ, may sao níu được một cành cây chìa ra ngay đó, kịp thời kéo người lại khỏi ngã thẳng xuống vực. Mồ hôi lạnh chảy xuống thái dương gã khi Omen nhìn chăm chăm vào bóng tối hun hút ngay dưới chân mình, này nhé, gã không bò ra từ một cái trấn ma quái chết tiệt và tuổi ấu thơ đầy ác mộng để chết vì ngã lộn cổ xuống vực đâu đấy. Omen ngồi thụp xuống đất khi nhận ra mình vừa thoát chết, mặt gã trắng bệch và quai hàm run lấy bẩy, răng khẽ đánh vào nhau phát ra tiếng lạch cạch. Gã không hiểu nổi, rõ ràng giây trước gã vẫn còn cách miệng vực cả chục mét, gã có thể chắc chắn về điều đó, nhưng chớp mắt một cái, Omen xuất hiện lại ở ngay rìa vực, chỉ thêm một bước nữa thôi là sẽ rơi xuống. Con chim kia đã bay mất từ lâu, tha theo luôn cả cái thứ bí ẩn đã khiến gã suýt mất mạng vì nó. Omen nhớ là mình đã nghe tiếng gãy vụn của thứ gì đó, đó chính là nguyên nhân khiến gã tỉnh lại giữa chừng thay vì nhảy thẳng xuống vực, gã lần sờ thử vào túi, lấy ra một con rối gỗ.
Nhớ rồi, đây là thứ ông Mortimer cho gã, vậy ra ý ông “thế mạng” là thế này đây, Omen nghĩ khi nhìn vào vị trí trái tim của hình nhân trên tay. Con rối như bị ai đó đóng đinh một cách đầy bạo lực, một cái hố tròn to nứt ra ở vị trí trái tim sơn màu đỏ, vết nứt lan tới tận trên đầu, gằn như chẻ hình cầu ra làm đôi. Chắc chắn là nó không thể dùng lần hai nữa rồi.
Omen ngửa cổ ra sau, hít thở sâu mấy lần mới lấy lại được bình tĩnh. Chơi ngu có thưởng quen rồi nên gã quên mất các cụ đã dạy đi đêm lắm có ngày gặp ma, nghĩa đen lẫn nghĩa bóng luôn, chưa bao giờ gã thấy lưỡi hái của Thần Chết lại kề sát cổ mình đến vậy. Có lẽ năm người trước cũng mất tích vì đã dại dột như gã nhỉ, cái vực mạnh khủng khiếp, tâm trí gã hoàn toàn bị cướp đi trong một khoảng thời gian ngắn. Nhưng nếu Omen suýt soát thoát được, vậy số vụ biến mất không còn là sáu nữa đúng không? Tiên đoán của Mganga sai rồi, hay nó sẽ gây ra phản ứng dây chuyền dẫn tới những điều kinh khủng?
Điện thoại của Omen đổ chuông.
Gã bị tiếng chuông thô lỗ giật ra khỏi dòng suy nghĩ, lúc lôi điện thoại ra khỏi túi bằng bàn tay run rẩy còn suýt đánh rơi mấy lần. Gã tưởng mình nghe nhầm, nhưng không, hình hộp bằng kim loại trên tay gã đúng là đang rung lên từng hồi, trên màn hình hiển thị kẻ gọi đến là Aleister. Thật vô lý, trong trấn Noctem vốn đâu có sóng. Gã còn đang đi sâu vào rừng nữa, đáng lẽ sóng phải càng yếu hơn mới đúng, nhưng hiện tại vạch sóng trên màn hình lại hiện lên ở mức vừa đủ để gọi điện. Sự sợ hãi và nghi ngờ vây chặt lấy trái tim gã, nhưng cuối cùng Omen vẫn gạt sang phải, đưa điện thoại lên ngang tai.
“Alo, Aleister đấy hả? Sao mày gọi tao giữa đêm thế?”
“Tao có người quen bên cảnh sát, có xin được file ghi âm báo án này.” Giọng hắn nghe gấp gáp, như đang rất vội vậy. “Nó thuộc dạng thông tin mật, xin mãi mới được đấy. Tao gửi qua đám mây nhé, nhanh lên, không còn thời gian đâu.”
“Cái gì cơ, không còn thời gian cái gì?”
“Nhanh…nó đã…kiểm soát…nhắm vào…Chạy đi!”
Tiếng xẹt xẹt vì nhiễu tín hiệu che mất hầu hết lời nói của Aleister, và cuộc gọi kết thúc tại đó. Omen cố gắng gọi lại, nhưng vạch sóng lại trở về xám xịt trống rỗng. Cái gì kiểm soát cái gì cơ? Nó nhắm vào ai? Quan trọng hơn, “nó” ở đây cụ thể là cái gì? Không có đáp án cho những câu hỏi đó, nên Omen phải tạm thời đặt chúng qua một bên, quay về với manh mối mà Aleister vừa đưa cho mình. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi mà điện thoại kết nối được mạng, đám mây của gã đã kịp thời tải xuống được file âm thanh mà hắn gửi. Omen hít một hơi sâu trước khi bật lên.
“Đường dây nóng khẩn cấp của Sở Cảnh Sát thành phố Lokheim xin nghe, tình huống khẩn cấp của bạn là gì?”
“Tôi muốn báo cáo…”
Mặt Omen càng lúc càng nhợt nhạt theo mỗi âm thanh vang lên từ đoạn ghi âm, thậm chí còn trắng hơn cả khoảnh khắc gã thoát được bàn tay chết chóc của Tử Thần. Gã biết giọng nói của kẻ báo án, đó là giọng của kẻ mà gã yêu thương nhất trên thế gian này.
Kẻ báo cáo về vụ mất tích của Mganga, chính là bản thân y.