Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

          Chát! Chát! Chát!

          Những nhát dao chém phập vào mấy thân luồng nhỏ.

          Lính mường Hạ đang chặt luồng làm cáng, để khiêng người bị thương về bản. Ai nấy đều làm cho nhanh, mong sớm trở về, mặc cho trời đã tối.

          Đáng lẽ chỉ cần một cái cho Đinh Cương là đủ. Nhưng quan Thuyết không muốn vậy. Hắn ra lệnh làm thêm một cái cho Ban, để lính cáng cậu về. Dù sao cậu cũng bị thương. Làm vậy, trong lòng hắn có lẽ cũng dễ chịu hơn đôi chút.

          Cách đó không xa, Ban đang ngồi bên Lưu Khải và Sơn Tiếu. Ba người quây quanh Đinh Cương. Lưu Khải kiểm tra xương sườn cho Ban. Sơn Tiếu dựa lưng vào tảng đá, ngủ thiếp đi từ lúc nào. Môi hắn trắng bệch, xem chừng vừa trải qua một ngày kiệt lực đến mức không còn buồn nói chuyện.

          Trong tiếng thở ùng ục như người bị nhúng mặt xuống nước của Đinh Cương, Lưu Khải ấn nhẹ dọc từng đoạn xương sườn Ban. Kiểm đi kiểm lại, ông chỉ thấy một chỗ khiến cậu đau nhất. Xương vẫn còn chắc, xem chừng chỉ bị rạn. Thằng nhỏ mạng lớn, coi như đã bước qua cửa tử.

          Nhìn xuống Đinh Cương, Lưu Khải thở dài, rồi quay sang hỏi Ban:

          - Cậu nói lúc con hổ vòng trắng lao ra, Đinh Cương hát à?

          Ban đáp ngay, như thể chuyện ấy vừa xảy ra cách đây chừng một khắc:

          - Vâng ạ! Chú ấy hát bài gì mà lên chùa, rồi sau đấy tay chân khua khoắng thế này.

          Vừa nói, Ban vừa làm lại động tác của Đinh Cương.

          Mặt Lưu Khải buồn rười rượi. Ông thừa biết đó là động tác gì, bèn chậm rãi nói:

          - Đó là chèo thuyền. Người ta dùng mái chèo khoắng xuống nước để đẩy thuyền đi.

          Ban ngơ ngác:

          - Con chưa hiểu ạ.

          - Ở chỗ cậu không có thuyền cũng phải. Chắc cậu biết bè chứ?

          - Con biết. Ghép nhiều cây luồng lại thì thành bè.

          Lưu Khải vuốt râu:

          - Thuyền cũng nổi trên nước như bè, nhưng làm khác hơn. Sau này có dịp xuống dưới xuôi, cậu sẽ thấy.

          Mặt Ban vẫn ngơ ra. Cậu gặng hỏi:

          - Thế sao lúc ấy chú Cương lại chèo thuyền, rồi còn hát, còn hò nữa ạ?

          Mặt Lưu Khải tối lại. Ông không biết phải nói với Ban thế nào. Chẳng lẽ bây giờ lại bảo Đinh Cương đã mon men đến cửa Địa phủ, nên mới nhớ về quê hương, nhớ mẹ. Suy cho cùng, thằng Ban chưa bao giờ ra khỏi bản San, cũng chưa thể hiểu nổi nỗi nhớ quê là thứ gì.

          Lưu Khải im lặng một lát, rồi đáp:

          - Ta cũng không rõ. Đợi Đinh Cương tỉnh lại, cậu tự hỏi hắn thì hơn.

          Nói rồi, lão bảo tiêu già vuốt râu, nhìn sang đám lính đang buộc gần xong hai chiếc cáng dưới ánh đuốc, rồi quay lại hỏi Ban:

          - Cậu giết được hổ. Về bản San, nếu được thưởng, cậu muốn gì?

          Ban không cần nghĩ, đáp ngay:

          - Con chẳng cần gì cả. Chỉ cần con hổ ấy chết, trả được thù cho thằng Pang là được.

          Lưu Khải trố mắt. Đã lâu lắm rồi ông mới gặp lại một người như thế.

          - Ờ… vậy là cậu không cần gì thật à?

          Ban không đáp. Mắt cậu nhìn lên những ngôi sao đã bị ánh trăng làm cho mờ nhạt. Trong đầu cậu lúc này chỉ còn một ý nghĩ, làm sao nhanh được trở về căn nhà bé nhỏ của mình, được ngả lưng lên tấm sàn tre quen thuộc. Sống một đời ở bản San này, với cậu, như thế là đủ rồi.

          Lưu Khải im lặng một lát, rồi hỏi tiếp:

          - Thế nếu bây giờ có người nhận cái công diệt hổ ấy thay cậu thì sao?

          - Cũng không sao ạ. Vốn dĩ giết được con hổ đó đâu phải chỉ nhờ sức của mình con.

          Lưu Khải đi hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Chẳng lẽ trên đời này lại có một đứa trẻ có thể sống đơn giản đến vậy. Ông thở ra, nhắc Ban chợp mắt đi một chút, rồi đứng dậy đi ra chỗ khác.

          Đến dưới một gốc cây, thấy xung quanh không có ai, Lưu Khải ngồi phịch xuống, mắt hướng ra xa. Tay vừa buông xuống, ông đã chạm phải một lớp lông thô nhám.

          Là con chó Đen. Con vật xem ra chẳng chịu rời ông nửa bước.

          Lưu Khải vuốt ve đầu con chó, mắt lơ đãng nhìn lên bầu trời. Nghĩ đến vẻ mặt thản nhiên của Ban khi nói mình chẳng cần gì, ký ức hơn bốn mươi năm trước lại tràn về, đục ngầu như nước lũ.

          Những năm giặc còn cướp nước, sưu cao thuế nặng đè xuống từng mái nhà. Chúng không chỉ lấy thóc, lấy người, mà còn bắt dân bỏ luật nước, lệ làng, ép người ta sống theo một thứ lề thói xa lạ. Khi ấy, Lưu Khải mới mười ba, mười bốn tuổi. Ông chưa hiểu được chuyện lớn trong thiên hạ, chỉ thấy những thứ ấy trái tai, gai mắt, không giống bất cứ điều gì đã bám rễ trong mình từ thuở lọt lòng.

          Rồi một ngày, những lưỡi đao sắc lẻm tràn về làng. Máu chảy. Đầu rơi. Cha mẹ ông cũng không thoát khỏi kiếp nạn ấy. Ông sống sót nhờ cùng đám trai tráng ngụp lặn trong một đầm sen ngập bùn đen, nín thở đến tưởng phổi cũng muốn vỡ ra.

          Lúc ấy, trong đầu thằng bé Lưu Khải cũng chẳng khác Ban bây giờ. Không cần thưởng. Không cần tiền. Không cần ai ghi công. Chỉ có một lời thề cắm chặt trong lòng.

          Giết hết lũ cướp nước.

          Bởi những người bị giết kia, dẫu là bà cô chua ngoa, ông cụ khó tính thường xuyên dạy dỗ đến váng cả đầu, thì vẫn là người làng ông. Vẫn là một phần tuổi thơ ông. Kẻ nào dám cướp đi những thứ ấy, kẻ đó đáng phải bị quét khỏi mảnh đất này.

          Bao nhiêu năm lăn lộn qua chiến trường, kinh đô, rồi phường buôn, Lưu Khải đã gặp đủ hạng người. Người ham sống, kẻ ham tiền. Người vì công danh mà bán mạng, kẻ vì miếng ăn mà cúi đầu. Vậy mà những đứa trẻ chỉ biết cắm đầu làm điều mình tin là đúng, không ham công trạng, không đoái vật chất, vẫn luôn khiến ông phải lặng người.

          Đang chìm trong dòng suy nghĩ, một vật nhơn nhớt trườn qua đùi làm Lưu Khải tỉnh lại. Ông đưa tay chộp ngay lấy đầu nó. Là một con rắn, to bằng ba ngón tay. Dưới ánh trăng, chỉ thấy mờ mờ những sọc đen lẫn vệt trắng. Rắn sọc dưa. Không độc. Chẳng buồn giết, Lưu Khải mạnh tay quẳng con vật vào bãi lau phía sau lưng.

          Ông chống tay lên đùi đứng dậy, mắt hướng về phía nhóm lính mường Hạ đã đóng xong cáng, chuẩn bị đưa người bị thương lên để về ngay trong đêm.

          - Đi thôi! Chia người ra, thay nhau khiêng cáng. Mệt thì đổi người, đi đến khi nào trời nắng thì tìm bóng cây nghỉ, rồi lại đi tiếp. Người bị thương không đợi được lâu đâu.

          Tiếng quan Thuyết hô lớn. Hắn vừa mới chặt xong cái đầu hổ, đang xâu lạt để đưa cho một anh lính mang về. Không thì về chẳng biết lấy cái gì để báo công. Chỉ hơi cực cái là đầu hổ quá to, anh lính nặng nhọc mãi mới đeo được vào sau lưng.

          Đám người lục tục sửa soạn trở về bản San. Nghĩ đến mâm thịt lợn béo ngậy, mấy vò rượu cần thơm nức ở nhà già Ết, ai nấy như cũng có thêm chút sức để lê chân về, trước khi xuống mường báo công với quan Tạo.

          Trong đêm trăng sáng, những ánh đuốc bập bùng rồng rắn nối nhau men theo lối mòn ven suối. Cả đoàn không hề ngơi nghỉ, cứ thay nhau khiêng cáng. Ban cũng được đặt lên, mặc dù cậu đã cố xin để được tự đi. Nhưng quan Thuyết cứ không ngừng quát, nên cậu sợ. Thôi thì đành nằm trên cáng cũng được, dù sao cũng đỡ mỏi chân.

          Chỉ vì không quen, Ban cứ thấy ngứa ngáy trong người. Hai tay cậu xoa vào nhau mãi, rồi ngủ quên lúc nào không hay. Cho đến khi mặt trăng đi ngủ, mặt trời thức dậy, đoàn người đã đến bờ suối hôm nọ từng nghỉ qua đêm.

          Quan Thuyết hô mọi người dừng lại, uống nước, bắt cá ăn rồi chợp mắt tạm. Sắp về đến bản San rồi. Cứ đi thế này thì trước khi mặt trời lặn là về đến nơi. Vì thằng Ban đi đến đâu đều đánh dấu vào các gốc cây lớn, cả đoàn không phải mò mẫm nhiều.

          Chỉ là mỗi khi nhìn những vết đánh dấu ấy, quan Thuyết lại cảm thấy không vui. Thằng nhỏ này chu đáo quá. Vậy mà người lớn, còn làm quan như hắn, lại đi nhận công của nó.

          Thôi thì đành vậy. Việc cũng đã quyết rồi. Đây là giúp nó, chứ đâu phải cướp công. Nhận thay cái vía hổ, đâu phải ai cũng đủ sức làm được. Vả lại, hắn còn cho làm cáng đưa nó về tận bản, coi như đã là chu đáo lắm rồi.

          Đoàn vừa nghỉ chưa được bao lâu, quan Thuyết đã gọi một anh lính khỏe nhất lại, dặn cứ men theo dấu Ban để lại mà chạy về bản trước báo tin. Bản còn phải chuẩn bị cơm nước, rượu thịt. Thầy mo cũng phải kiếm thuốc thang, lo chạy chữa cho người bị thương. Chứ đợi cả đoàn lếch thếch về tới nơi rồi mới nhóm bếp nấu nướng, e chưa ăn được miếng nào đã có người ngất trước.

          Đến khi mặt trời bị che khuất bởi những đám mây trắng lơ lửng, đoàn người lại tiếp tục trở về. Ban đã không còn chịu nổi nữa. Tuy ngực vẫn đau, nhưng không hẳn là cậu không đi được. Cậu nhìn sang chỗ Sơn Tiếu. Gã bảo tiêu mảnh khảnh đang túa mồ hôi như tắm, môi trắng bệch, bước chân mỗi lúc một xiêu vẹo.

          - Ông Lưu Khải! Chú Sơn không đi nổi nữa rồi.

          Nói xong, Ban lập tức nhảy xuống, mặc cho cơn đau vẫn đang âm ỉ trong ngực. Cậu khẩn khoản xin quan Thuyết:

          - Con thưa Quan thầy, con còn đi được. Quan thầy cho chú Sơn nằm cáng đi, chú ấy yếu lắm rồi.

          Quan Thuyết nhìn một lượt, ban đầu còn định không cho. Nhưng Ban nằn nì mãi, biện đủ lý do, lại còn lôi cả Lưu Khải vào nói cùng. Cuối cùng, quan Thuyết mới tặc lưỡi để Sơn Tiếu lên cáng.

          Dọc đường đi, Đinh Cương và Sơn Tiếu nằm trên hai cái cáng, mồ hôi không ngừng nhỏ xuống đất. Sờ vào người ai cũng thấy nóng ran. Lưu Khải lắc đầu quầy quậy, không ngừng tiếp nước cho họ, kẻo họ chết khát trước khi về đến nơi.

          Đoàn đi nhanh hơn dự tính. Mặt trời còn chưa kịp khuất sau dãy núi thì trước mặt đã hiện ra bụi cây gai, và ngôi nhà sàn đã cháy thành tro của cô Én. Nhìn kiểu này, bản San chắc đã đốt từ khi bắt đầu đi săn hổ.

          Nhìn căn nhà với bao lần đến đổi thú săn, Ban lại cảm thấy buồn. Cậu nhớ đến cảnh đuổi nhau với thằng Pang ở dưới gầm sàn, nghe tiếng cô Én nấu nướng ở trên nhà. Rồi tiếng cô Én rủ cậu ở lại ăn cơm. Quá nhiều thứ quen thuộc bây giờ đã trở thành nắm tro. Người từng quen biết cậu giờ đã nằm yên dưới nấm mồ.

          Nhưng dù sao, cậu đã làm được một điều. Đó là hoàn thành lời hứa với thằng Pang.

          Chỉ tiếc rằng, Ban chưa hề biết mẹ thằng Pang chết không phải vì hổ, mà là vì người.

          Đi thêm một đoạn nữa đã đến nhà già Ết. Dân bản tụ tập ở đây từ lúc nào. Người nấu nướng, người dọn dẹp, người chạy ra chạy vào để đón đoàn đi rừng trở về. Họ mang theo cái đầu hổ, cũng là mang về một tin lớn cho cả bản San.

          Căn nhà mấy hôm trước còn u ám vì tang sự, lúc này đã sáng đèn, rộn lên tiếng người. Trong gió có mùi rượu cần, mùi thịt lợn luộc, mùi mắc khén thơm nức mũi quện vào nhau.

          Dẫu sao thì người sống vẫn phải sống. Chẳng lẽ lại lấy nỗi buồn ra ăn thay cơm.

          Vừa gần đến cổng, đã thấy già Ết, anh Pẩu, thầy mo cùng mấy trai tráng đứng đợi sẵn. Già Ết không vội hỏi han, cũng chưa kịp cười. Ông lập tức sai người khiêng Sơn Tiếu và Đinh Cương lên nhà. Hai gã bảo tiêu đã mê man vì vết thương quá nặng.

          - Rồi! Thằng Ban cũng lên nhà ngay đi. Để thầy mo xem qua. Phải làm vía trước đã, rồi mới đắp thuốc được.

          Ban cũng lên theo, mắt đảo quanh mà chưa thấy thằng Pang đâu. Chỉ nghe tiếng già Ết vọng lại từ phía sau lưng:

          - Quan thầy quả là sức vóc hơn người! Con hổ to bằng đấy mà ngài cũng hạ được.

          Quan Thuyết xua xua tay, gắt nhẹ:

          - Thôi không nói nữa. Tìm chỗ cho lính ta tắm rửa, rồi lo cơm nước mà nghỉ ngơi. Đi một ngày một đêm không ngủ rồi, mệt lắm.

          Già Ết cũng không hiểu ra sao mà quan Thuyết lại không vui mấy. Nhưng chắc do mệt nên ông cũng không hỏi nhiều, chỉ sai anh Pẩu dẫn mấy anh lính cùng quan Thuyết ra bờ suối tắm táp, rồi kiếm chỗ chợp mắt một chút, lấy sức để tối còn uống rượu cần.

          Thấy bóng lính mường Hạ đi khỏi, già Ết mới quay sang nói với Lưu Khải:

          - Lão Lưu, bản San tiếp không chu đáo à? Sao Quan thầy gắt gỏng thế?

          Lưu Khải tặc lưỡi, chưa nói gì, chỉ tay ra hiệu cho già Ết lên nhà nói chuyện cho tiện. Ở đây đông người, sợ có ai nghe được lại thành ra rách việc.

          Hai người vừa lên nhà trên, chiêng trống đã nổi lên từng hồi. Thầy mo đang khấn, tay không ngừng giã những nắm thuốc rừng nồng nặc mùi để chuẩn bị đắp lên vết thương cho hai gã bảo tiêu đang nằm thẳng tuột giữa nhà.

          - Anh Ết! Hai người của tôi không quen rừng rú nên bị hổ vồ, một người thì mất tay. Không biết thầy mo có chữa được không?

          Già Ết rít một hơi thuốc lào, thở ra thật chậm. Khói trắng lơ lửng trước mặt ông. Đến khi trong ngực không còn hơi, ông mới lấy tay tạt đám khói đi, rót cho Lưu Khải một chén trà.

          - Uống chè đi. Sống chết thì ta chưa biết được. Nhưng thầy mo bản San này cũng từng cứu nhiều người ốm nặng rồi. Chỉ lo cái tốn lợn, tốn gà cúng thôi.

          - Cái đó thì không lo lắm. Nhờ anh Ết xem tốn bao nhiêu, tôi sẽ lo đủ. Chỉ mong giữ được cái mạng cho hai người này thôi.

          Già Ết nhấp một ngụm chè, khà một tiếng rồi thủng thẳng đáp:

          - Cái đó còn phải xem rừng, xem núi có giúp được không nữa.

          Nói xong, ông lại hướng mắt về phía cuối nhà, nơi Ban đang ngồi cạnh thằng Pang. Hai thằng nhỏ xem ra đã nói chuyện với nhau nhiều hơn hôm trước.

          Nhìn theo già Ết, Lưu Khải nói:

          - Thằng cu con mới mất mẹ, mấy hôm nay sao rồi?

          - Đỡ hơn rồi. Cái nhà cũ cũng chính tay nó châm lửa đốt. Xem ra nó đã hiểu không thể mang mẹ nó về được nữa.

          Lưu Khải nghe xong thoáng bất ngờ, nhưng cũng không dám biểu lộ ra. Trong lòng đang nghĩ chắc có lẽ người ở vùng này là vậy, ông uống vội chén trà rồi đứng dậy đi về phía thầy mo đang khấn, để lại phía sau già Ết đang đặt tay lên bậu cửa sổ, nhìn xuống dưới sân.

          Mùi thuốc rừng hăng hắc tỏa khắp căn nhà. Thằng Pang khịt khịt mũi, quay sang hỏi Ban:

          - Anh Ban, anh đi rừng có mệt lắm không?

- Anh không! Đi quen rồi mà.

          Pang cúi đầu, hai bàn tay vân vê mép áo:

          - Em ở nhà cũng mạnh lắm. Em cố không khóc vì mẹ nữa. Thầy mo bảo phải đốt cái nhà cũ đi, em cũng tự tay châm lửa đấy.

          Ban ngẩn người. Cậu không dám tin thằng Pang lại đủ sức làm việc ấy. Chưa biết nên nói gì, Pang đã nhỏ giọng nói tiếp:

          - Thầy mo bảo vía hổ nặng lắm. Cái nhà bị nó ám rồi, phải đốt đi mới sạch.

          Nó ngập ngừng một lát, rồi ngước lên nhìn Ban:

          - À… anh Ban cho em xin lỗi.

          Ban càng ngơ ra:

          - Sao lại xin lỗi?

          - Vì hôm trước em bắt anh đi giết nó. Thầy mo bảo vía hổ cũng ám vào người giết hổ. Em không biết… nên mới bắt anh trả thù cho mẹ em.

          Ban rồi cố cười, át đi sự khó hiểu trong lòng:

          - Không sao đâu. Vía nặng hay nhẹ thì anh vẫn ngồi sờ sờ ở đây còn gì.

          Pang thở phào, như vừa trút được hòn đá trong bụng:

          - May mà mọi người bảo không phải anh Ban giết hổ.

          Ban giật mình thot thót. Rõ ràng chính tay cậu đã đâm dao vào cổ con hổ ấy. Vậy mà bây giờ Pang lại nói không phải. Lại còn chuyện vía hổ không được ở gần người chịu tang. Chẳng lẽ nếu mọi người biết thật, từ nay cậu sẽ không được ngồi cạnh Pang nữa?

          Ban lúng túng chưa biết đáp sao, Pang đã nói tiếp, giọng nhẹ đi hẳn:

          - Cả bản bảo Quan thầy giết được hổ. Thế là tốt rồi. Không thì… em cũng không dám gần anh Ban nữa đâu.

          Lòng Ban đột nhiên dậy sóng. Đầu cậu như bị ai kéo căng về hai phía, không biết nghiêng về bên nào cho đỡ đau.

          Đúng lúc ấy, tiếng chiêng của thầy mo đột ngột dừng lại. Thay vào đó là tiếng người hô lớn dưới sân:

          - Cả bản lại đây!

          Là tiếng của anh Pẩu. Anh đang hô thay cho già Ết, vì bây giờ ông có cố nói to đến mấy chắc cũng chỉ đủ cho người ở cách chục bước chân nghe được.

          Dân bản San lục tục tụ lại. Già trẻ, gái trai, ngót nghét bảy chục người. Thêm gần hai chục lính mường Hạ vừa tắm rửa xong cũng đứng chen vào. Ai nấy đều im phăng phắc, chờ anh Pẩu mở lời:

          - Quan thầy…

          Nói đến đó, anh Pẩu phải ngó sang đám lính hỏi lại tên. Xì xào một lúc, anh mới nói tiếp:

          - Quan thầy Ngân Ngọc Thuyết của mường Hạ đã dẫn lính đi vây con hổ một mắt. Chính ngài chém đầu nó, đem xác về đây cho cả bản thấy. Từ nay bản San phải nhớ cái công ấy, không được quên.

          Dân bản không ai nói gì, nhưng trong ánh mắt đã hiện rõ sự khâm phục. Từng người, từng người một tiến đến, cúi mình trước bàn tay của quan Thuyết đang đưa ra.

          Cả Ban cũng làm như vậy. Nhưng cổ họng cậu nghẹn cứng, vì không biết nói sao cho phải. Chẳng lẽ lại nhận, ngoác mồm lên nói là chính cậu giết hổ. Hay ngậm hột thị, để cái việc này qua cho nhanh.

          Ban hướng ánh mắt về phía những người lính. Không ai nói gì, nét mặt họ lạnh tanh như những đồng tiền đang nằm lù lù trong túi. Cậu lại nhìn về phía Lưu Khải, chỉ thấy cái lắc đầu rất nhẹ của lão bảo tiêu già.

          Hóa ra có một việc ai cũng biết, nhưng tất cả đều đang cố tình không biết. Tình thế bây giờ, chỉ có kẻ ngu mới dám lên tiếng. Một cái mồm thì làm sao bằng được mấy chục cái mồm đã có sẵn câu trả lời. Nên lựa chọn đúng nhất lúc này, cũng là việc dễ làm nhất.

          Đó là không nói gì.

          Mà có khi như vậy cũng tốt. Xem ra cậu vẫn còn được chơi với thằng Pang, vẫn yên ổn ở bản San này, vì cái vía hổ không phải ai cũng đủ sức gánh cho được. Thôi thì cứ để xem quan Thuyết nói gì đã. Để xem thế nào.

          - Bản San không cần nhớ quá làm gì, đấy là việc mà ta phải làm. Chỉ cần nhớ, bây giờ đã an toàn, không còn hổ vào nhà vồ người nữa. Cứ thế lo mà làm ăn, đóng tô, đóng thuế cho quan Tạo đầy đủ là được.

          Nói xong, Quan thầy khoát tay cho mọi người giải tán.

          Mọi người nghe xong thì tản ra, đến chỗ chị Hôn, vợ anh Pẩu, để nhận phần mang về. Nhà già Ết rộng, nhưng cũng không chứa hết cả bản cùng ăn được. Phần nhà nào, nhà nấy đem về tự ăn, hoặc thích ăn cùng nhau thì mấy nhà túm lại với nhau cũng được. Đằng nào lợn gà cũng là của góp chung.

          Còn lính tráng thì lên nhà già Ết ăn. Mâm bát cũng đã chuẩn bị xong, rượu cần cũng đã mở nắp, chỉ đợi người lên ăn nữa là xong.

          Chiêng trống lại nổi lên. Đuốc trên nhà già Ết hôm nay được thắp sáng choang, để lính mường Hạ tiện ăn uống. Cả Lưu Khải, già Ết cũng cùng ăn. Họ được cho ngồi cùng quan Thuyết. Nhưng đây là mâm ít nói nhất, chẳng ai nói với ai câu nào. Không khí quá nặng, Lưu Khải đành mời già Ết cùng quan Thuyết mấy lượt rượu cần cho phải phép.

          Xong, ông bốc mấy nắm xôi ăn tạm rồi đến chỗ thầy mo, người vẫn đang lầm rầm khấn từ lúc cả đoàn về đến. Trước mặt ông là mâm cơm cúng vẫn còn nguyên. Thấy vậy, Lưu Khải định mở miệng hỏi thì thầy mo đã trừng mắt, miệng vẫn khấn. Xem ra bài cúng này không cắt ngang được.

          Lưu Khải nhìn sang hai người đồng bạn, thấy mồ hôi vẫn đang túa ra, nhưng chỗ vết thương xem chừng đã se lại, bớt sưng nên cũng vơi đi vài phần lo lắng. Nhìn xuống dưới bếp, thấy hai thằng nhỏ đang ngồi ăn cùng chị Hôn, Lưu Khải lại đi xuống.

          Lúc này, hơi rượu cần đã ngấm lên đầu, khiến ông hơi chếnh choáng. Lưu Khải tiến lại gần Ban, định nói thì cậu đã mở lời trước:

          - Không sao đâu ạ! Ông đừng lo. Con biết rồi.

          Lưu Khải nghe xong câu này, không biết nên mừng hay nên tự thấy ngại. Vì cái trò này là do ông bày ra. Thằng nhỏ không thân không thích, chẳng lý gì mà ông lại phải nghĩ cách để cứu nó cả. Nhưng trong tình thế như vậy, ông chỉ đang cố làm việc mà ông cho là đúng nhất.

          Chẳng biết nói gì cho phải. Ánh mắt Ban nhìn ông lúc ấy thật khó phân rõ là hận, là hiểu, hay là biết ơn. Lưu Khải chỉ chào qua loa, rồi lập tức đi xuống cầu thang, ra sân hóng gió cho bớt nặng đầu.

          Vừa đặt chân xuống sân, ông đã nhìn thấy dưới dốc có chừng bốn ngọn đuốc đang chậm rãi tiến tới. Rõ ràng không phải người bản, vì ánh lửa còn ở xa lắm, lại đi theo lối của khách từ ngoài mường vào. Thôi thì đi xem là ai, nhỡ đâu đoàn buôn thấy đi lâu, cho người lên tìm cũng nên.

          Lưu Khải quay sang gầm sàn. Con Đen đang nằm kễnh bụng sau một bữa no nê, bốn chân duỗi thẳng, cái mõm còn dính mỡ. Ông tặc lưỡi một tiếng.

          Một chủ một chó lập tức lao vào đêm.

          Vừa đến gần, Lưu Khải còn chưa kịp nhìn rõ người thì con Đen đã mừng quýnh, quẫy đuôi lia lịa, miệng rên ư ử như làm nũng. Ngay sau đó, một giọng con gái êm dịu vang lên:

          - Ông! Sao ông đi lâu thế? Hàng đã đổi xong rồi mà vẫn chưa thấy ông về. Con phải thuê người lên tận đây tìm đấy.

          Lưu Khải lập tức trưng ra bộ mặt nghiêm nghị, giọng vừa trách vừa thương:

          - Sao cháu lại lên tận đây? Sơn với Cương đang bị thương, ông chưa về được.

          Cô gái giật mình:

          - Họ bị thương nặng không ông? Đang ở đâu rồi?

          - Ở ngôi nhà sàn lớn đằng kia.

          Lưu Khải vừa dứt lời, cô gái đã lập tức chạy vụt đi, bỏ mặc ông đứng phía sau lắc đầu quầy quậy.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px