Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

          Tiếng đập quần áo vào nước nghe: “Bộp! Bộp!”

          Ban đang trần truồng, vừa đập quần áo, vừa ngụp lặn để rửa sạch đi đống bùn đất đang bám trên người. Khe nước này bình thường rất trong, lại còn mát lạnh, trời đang nóng nực mà uống một hơi thì vô cùng sảng khoái. Nhưng nước mưa chưa rút hết, màu vàng nhạt vẫn còn. Nhìn kĩ sẽ thấy ngọ nguậy trong đó vài con đỉa đói đang ra sức bơi đến chỗ có hơi người.

          Tắm xong, Ban vào nhà khoác lên người bộ đồ khác, tiện tay túm lấy con đỉa đang bám lấy gót chân quẳng vào trong bếp đang cháy.

          “Bụp!”. Con vật căng phồng lên rồi vỡ tung trong đốm lửa, làm tro bếp bay lên. Lúc này, mùi nồm ẩm của quần áo, cộng với thứ mùi vừa rồi quyện lại với nhau tạo nên một cảm giác quen thuộc.

          Là mùi của nhà.

          “Ai chà…! Cảm giác ở đây vẫn là thoải mái nhất.”

          Ban vừa nói vừa nằm lăn lên sàn nhà. Gió thổi hiu hiu khẽ lướt qua mặt, cảm giác mơ màng khiến đôi mắt nặng trĩu. Mọi thứ từ từ mờ đi, rồi tối đen lại.

          Trong cơn mơ, Ban thấy bố.

          Người đàn ông ấy trẻ trung, vạm vỡ, nụ cười rạng rỡ bung nở trên khuôn mặt sạm nắng. Ông đứng dưới sân nhà, đang đội lên đầu vợ một chiếc khăn piêu thêu bằng chỉ ngũ sắc, có đính thêm vàng, thêm bạc. Già Ết cùng dân bản rộn rã gõ chiêng, gõ trống, thổi kèn pí chúc mừng ngày hai người được thành đôi.

          Rồi hai người cúi lạy dân bản. Dưới ánh nắng, chiếc khăn piêu ánh lên một hình thù kì lạ.

          Rồi như bị ai lôi đi, cậu thấy ngày mẹ sinh cậu ra, giữa đêm tối tĩnh mịch, tiếng khóc như xé toang không khí. Rừng núi dường như cũng rùng mình đáp lại. Một tiếng gầm đục ngầu, uy dũng rung chuyển cả tán lá, đè bẹp cả tiếng khóc nhè nhỏ xíu của đứa trẻ đỏ hỏn.

          Mẹ cậu ngất lịm đi ngay sau đó. Đến ngày thứ hai bà mới tỉnh lại. Từ đó trở đi bà yếu hẳn. Sữa cũng ít, nên bố cậu phải đưa bà xuống dưới bản ở nhờ, vừa chăm sóc vừa để cậu đi bú nhờ. Còn ông vẫn ở lại ngôi nhà trên núi, để tiện cho việc đi săn bắn.

          Đến ngày tròn tuổi, cha cậu bế thốc con trai nâng lên quá đầu, đối diện với đại ngàn mà la lớn:

          “Thưa rừng, thưa núi, thưa tổ tiên bản mường! Con trai con nay đã tròn tuổi, con xin đặt tên cho nó là... Lương Ban!”

          Dòng hồi ức bị giật mạnh, thời gian trôi tuột đi.

          Cậu đã lớn, biết chạy nhảy, biết cầm dao. Cha lại đón hai mẹ con về túp lều cũ để tiện đường săn bắn. Mẹ yếu lắm, chỉ quanh quẩn xó bếp, nhặt nhạnh mớ rau. Mọi gánh nặng dồn cả lên đôi vai vạm vỡ của cha.

          Cho đến một ngày... bóng đen ập xuống. Cha đi săn hai ngày không về. Dân bản đi giăng lưới dọc suối, hoảng hồn khi nhặt được một cánh tay đầm đìa máu tươi. Chẳng còn thân xác, chỉ có chiếc nỏ, con dao và chiếc vòng bạc quen thuộc đeo chặt trên cổ tay mới giúp người ta biết được đó là người thợ săn khốn khổ.

          Không có tiền làm đám ma. Người bản ái ngại bảo nhau đành quấn tạm cánh tay vào manh chiếu rách rồi vùi sau nhà.

          Nhưng mẹ Ban còn của, bà lấy kỉ vật đám cưới là chiếc khăn piêu bố cậu tặng mang ra. Bàn tay gầy guộc, run rẩy cẩn thận tháo từng miếng bạc, miếng vàng đính trên khăn.

          Nhưng bản San làm sao đủ tiền mua những thứ đó, bà lết tấm thân tàn xuống tận mường, đổi mớ vàng bạc được ba con lợn và một nắm bạc vụn. Bà bảo lợn để lo tang ma cho chồng, còn bạc thì để dành đến lượt của bà.

          Ký ức nhòe đi như mặt hồ bị ném đá. Khi mặt nước vừa yên, hình ảnh mẹ cậu nằm liệt trên giường lại hiện ra. Cả ngày bà chỉ khóc. Khóc thút thít, đến khi nước mắt cạn khô, người cũng héo đi.

          Vừa lo cho mẹ, vừa lo cho chính mình. Cậu nhóc Lương Ban mười tuổi đầu phải bấu víu vào cuộc sống bằng nghề xin ăn.

          Nhưng mà xin mãi người ta cũng không còn thương nữa.

          “Lớn rồi, vác dao đi mà kiếm ăn, ai rảnh hầu mãi?”

          Những lời đay nghiến, nặng nhẹ cào vào lòng tự trọng của thằng bé. Lúc đầu Ban còn cười trừ, nhưng càng ngày cậu càng ghét cái cảm giác người khác vừa cho vừa nói nặng, nói nhẹ.

          Vì nó nhám nhúa trong người như có ai đang thở thay mình vậy.

          Nên cậu cắn răng vác nỏ của cha vào rừng. Những ngày đói lả, những vết sẹo tứa máu... rồi cậu cũng tự hạ được con thú đầu tiên. Cậu đem thịt đi trả nợ những nhà từng bố thí cho mình. Phải trả sạch, cho đàng hoàng, cho thanh thản.

          Rồi mẹ cậu cũng chết. Lại một đám ma nữa. Họ chôn mẹ cạnh cánh tay của bố trong nghĩa trang của bản.

          Những ngày sau đó, Ban ở một mình. Có người rủ Ban đi cùng khỏi bản để kiếm ăn. Nhưng cậu không muốn, lúc đó cậu nghĩ cuộc sống chỉ cần như vậy là đủ rồi. Không cần thiết phải đi đâu nữa. Vì dù sao, cậu cũng đã tự lo được cho cái mồm của mình.

          Chỉ cần như vậy thôi là được.

          Khung cảnh trong cơn mê đang mờ ảo bỗng bừng sáng rực. Vô số đốm lửa lập lòe như bầy ma trơi bủa ra lùng sục khắp rừng. Vụt qua ánh đuốc là một con hổ. Mõm nó ngậm chặt chiếc nôi lấp ló hình hài đứa trẻ đang khóc. Đứa bé trần truồng, chỉ được quấn tạm bằng chiếc khăn piêu thêu chỉ ngũ sắc, loang loáng ánh vàng bạc mà lại bết thứ máu đỏ tươi. Mặc kệ đằng sau, con hổ vẫn cắm đầu lao đi, hướng thẳng về phía dòng sông Mã đang cuồn cuộn chảy...

          Cốc! Cốc! Cốc!

          Âm thanh khô khốc đập mạnh vào cột nhà kéo tuột Ban khỏi cơn mơ. Cậu choàng tỉnh. Mặt trời đã ngả bóng sau đỉnh núi, hắt vài vệt sáng yếu ớt ngang sàn tre.

          “Thằng Ban! Tao bảo mày thay tao hầu già Ết mà mày về đây ngủ ườn ra hử? Già đang tìm kìa, xuống bản ngay!”

          Anh Pẩu ở dưới sàn, vừa nói vừa lấy cây củi gõ vào cột nhà.

          Ban vò đầu, cố xua đi tàn dư của giấc mộng mị, gọi với xuống:

          “Em đây! Mệt quá em ngủ quên, để bây giờ em xuống.”

          “Ừ! Tao xuống trước, nhanh nhanh mà đi.”

          Anh Pẩu nói xong rồi quay chân đi ngay, tối nay anh còn phải chuẩn bị cơm cho lính của quan Tạo nữa. Mấy việc này cũng không khó, nhưng phiền vì cứ phải chạy đi chạy lại. Bản thịt lợn làm đám ma, Già Ết có nhắn lại để phần lòng, dồi cho họ ăn, còn thịt thì nướng khô, mai đùm cơm nếp có cái ăn dọc đường.

          Ban lơ mơ tiến lại chỗ cái rương của mẹ nằm trong góc nhà. Mở ra, chiếc khăn piêu vẫn nằm đó. Nó không óng ánh như ngày đám cưới của cha mẹ nhưng ở hai đầu vẫn được thêu những hoa văn bằng chỉ ngũ sắc.

          Nhớ lại hình thù lạ lùng của chiếc khăn lúc mẹ cúi lạy dân bản, Ban chụm chiếc khăn lại theo cách mà các bà, các mẹ thường hay đội. Cậu nhận ra một điều trước nay chưa từng thấy.

          Hoa văn được thêu trên chiếc khăn piêu này có hình con hổ.

          Một thoáng bần thần giữ Ban đứng chết lặng. Không phải vì hoa văn. Mà vì con hổ ở nhà cô Én hiện về trong suy nghĩ kéo cậu về lại với thực tại.

          Cậu giật lấy cây nỏ và thanh dao rựa, hít căng lồng ngực mùi tro bếp, siết lại thắt lưng rồi bước dứt khoát xuống núi.

          Dọc đường đi, cậu vẫn chưa tỉnh hẳn, bước đi lảo đảo như người đang say rượu. Đến nhà đám thì trời đã sập tối. Khác với vẻ não nề ban sáng, lúc này không khí im ắng lạ thường, mọi người đang tản ra ăn cơm.

          Dưới khoảng sân lầy lội, Ban thấy anh Pẩu đang thoăn thoắt xắt lòng lợn. Từng nhát dao đưa xuống, nước luộc tứa ra bốc khói nghi ngút. Lũ trẻ con rách rưới đứng bu quanh, thi thoảng anh lại chia cho bọn nó một miếng.

          Nhưng thằng Pang không ở đó. Thằng nhóc chừng như đã mỏi nhừ đôi chân chống gậy, đang ngồi thu lu cạnh cỗ quan tài. Trước mặt nó là một mâm cơm cúng đầy ắp xôi thịt, tươm tất nhất từ ngày nó biết nhớ.

          Nhưng nó câm lặng, hai mắt sưng vù nhìn trân trân vào khoảng không. Vợ anh Pẩu ngồi xổm bên cạnh, khẽ vuốt tấm lưng bé nhỏ của nó, dỗ dành:

          “Pang à... nuốt vài miếng đi con. Không ăn thì sống sao nổi?”

          Thằng bé vẫn lầm lì như khúc gỗ.

          Ban lặng lẽ tiến lại gần, quỳ một chân xuống ngang tầm mắt nó:

          “Pang, nghe lời thím, ăn đi. Nhìn anh này... anh vác nỏ, mài dao rồi đây. Mai anh dẫn lính quan Tạo lùng bằng được con cọp ấy... bắt nó phải đền tội cho mẹ em.”

          Nghe đến đó, đôi mắt đờ đẫn của Pang khẽ động đậy. Nó ngước lên nhìn Ban, giọng thều thào nhưng kiên quyết:

          “Em ăn. Nhưng anh Ban... phải ăn cùng em!”

          Ban khựng lại, ngước nhìn vợ anh Pẩu. Thấy chị khẽ gật đầu gạt nước mắt, cậu ngồi bệt xuống đất, bốc một vắt xôi bỏ vào miệng nhai trệu trạo.

          Thấy Ban nhai, Pang sụt sùi nấc lên một tiếng rồi cũng cúi gầm mặt xuống mâm. Hai bàn tay nhỏ xíu lấm lem chộp lấy thịt xôi nhét lấy nhét để vào miệng, nhai trong nghẹn ngào.

          Một thằng nhóc vĩnh viễn mất mẹ từ năm năm trước, đang ngồi bốc xôi ăn chung với một thằng bé chuẩn bị tiễn mẹ xuống mồ tăm tối vào sáng mai. Nỗi đau mồ côi hòa chung vào vị mặn chát của nước mắt rớt xuống mâm cơm cúng.

          Tiếng anh Pẩu trong bếp vọng ra:

          “Mẹ Hôn, ra giúp tôi bưng mâm về nhà cho khách!”

          Ban ngẩng đầu lên đã thấy chị Hôn chạy vội xuống cùng trai bản bưng mấy mẹt thức ăn cùng rượu sang nhà anh Pẩu. Đám lính của quan Tạo không tiện ăn ở đây, nên được dọn riêng. Đi sau còn có người cầm thêm mấy con gà, chắc để tối nấu cháo cho họ ăn, sợ uống rượu xong sót ruột còn húp. Nhưng cậu cũng chẳng buồn quan tâm nữa. Ai ăn gì thì đó là việc của họ.

          Trên nhà có tiếng rít thuốc lào. Già Ết cùng nhóm ba người Lưu Khải cũng đã ăn xong. Có người đến bưng mâm cơm đi, rồi pha thêm ấm chè cho khách uống đỡ chua miệng. Lưu Khải nhìn xuống dưới sân chỗ quan tài nói:

          “Anh Ết, trên vùng này làm đám ma to như vậy, thằng bé kia lấy đâu tiền mà trả?”

          Già Ết thấy hai thằng cùng mồ côi đang ngồi bốc xôi ăn với thịt lợn chấm muối. Chúng ăn vội quá nghẹn không thở được, thi thoảng phải húp thêm bát canh măng cho trôi xuống.

          “Phong tục từ xưa đã vậy, không làm không được. Ta đang định trả thay, sau đám dắt nó về đây nuôi, sai quét tước nhà cửa trừ nợ dần.”

          Già Ết thở dài, cầm chén nước chè đang còn bốc khói uống một ngụm nhỏ. Lưu Khải cũng uống theo, chè mới hãm nên vị còn đắng chát. Đinh Cương thấy thế tò mò húp một ngụm to, liền nhăn nhúm mặt mày mở miệng nói:

          “Chà! Trưởng bản pha thứ lá rễ gì mà vừa đen đặc vừa chát sít cả họng thế này? Uống không trôi nổi!”

          Lưu Khải cười nhạt, quay sang ý bảo người trẻ cũng thử một hớp.

          “Khà... Thứ nước này e còn khó nuốt hơn cả rượu sắn.” - Người trẻ vừa nhăn mặt vừa cười.

          Già Ết vẫn bình thản, từ tốn nói như đang đợi điều gì:

          “Chưa kịp hỏi cậu trai trẻ này tên gì, mà thấy miệng lúc nào cũng ngậm cười thế?”

          Lưu Khải đặt chén xuống, lúc này mới chính thức chắp tay giới thiệu:

          “Nãy nhiều người quan quyền nên chưa tiện. Gã mặt vuông tướng hộ pháp này tên Đinh Cương, sức vóc hơn người nên giang hồ hay gọi là Cương “Lực”. Còn cậu mỏng người này là Nguyễn Sơn, bản tính cởi mở hay cười nên anh em cho cái tên Sơn “Tiếu”.”

          Già Ết đợi Lưu Khải nói xong mới gật gù, vuốt râu hỏi lại:

          “Ba người bây giờ cảm giác thấy thế nào?”

          Lưu Khải chớp mắt, dường như đã lờ mờ nhận ra ẩn ý. Đinh Cương vỗ đét vào đùi, còn Sơn Tiếu lại bật cười ha hả, liếm môi:

          “Lạ thật! Ngọt... Ngọt thanh lắm! Nước trà chát ngầm lúc nãy giờ để lại hậu vị ngọt lịm cuống họng. Trà gì mà kì diệu vậy thưa già?”

          Già Ết đưa ánh mắt u ẩn nhìn xuống bóng hai thằng bé lẻ loi dưới sân, giọng nói trầm bổng hòa vào tiếng gió:

          “Người bản gọi đây là chè Tán Ma. Ban đầu đắng đót, chát sít tận cổ, nhưng nuốt qua rồi thì hậu vị ngọt ngào, lưu hương rất lâu. Ta cũng chỉ mong... kiếp số của hai thằng nhãi kia, sau tận cùng đắng chát sẽ là chuỗi ngày êm đềm như vị chè này.”

          Lưu Khải hiểu ý, nhìn xuống sân:

          “Nếu đã có lòng từ tâm thương đám trẻ mồ côi, sao năm xưa anh không cưu mang luôn thằng lớn kìa? Nó cũng cù bơ cù bất đấy thôi.”

          Già Ết liền đáp:

          “Nó không chịu, nó bảo là tự săn được thú nên không cần ai nuôi, cứ bám lấy cái nhà xa tít trên kia để đi săn. Được cái tuổi nhỏ, nhưng nghề thợ săn là có thật, từng gốc cây, ngọn cỏ trong rừng này nó không lạ cái gì đâu!”

          Lưu Khải chăm chú nghe già Ết nói, uống một ngụm chè nữa rồi nói:

          “Đây là săn hổ đấy anh Ết à! Ta chỉ sợ rừng thiêng nước độc, không giữ được cái mạng cho thằng nhỏ này thôi! Nhỡ không may có chuyện gì, không biết phải ăn nói với anh thế nào.”

          Sơn Tiếu cũng nói thêm:

          “Hay ông để cho nó ở nhà đi, chúng tôi có chó rồi, nó tự nhiên là lần theo mùi mà tìm được.”

          Đinh Cương tự nhiên lại đế thêm vào:

          “Hổ thì sống trong hang, mai ông cứ để chúng tôi đi một mình là đủ, nhỡ mà không đủ sức thì đánh dấu ở đấy rồi gọi người lên. Chứ giờ đám lính kia đang còn uống rượu, mai đi lại làm ầm ĩ lên, đời nào mới bắt được.”

          Già Ết cứ ngồi im, gật gù cái đầu để cho họ nói. Đến khi mọi người dừng lại, già Ết mới nhìn vào ánh mắt từng người, từ tốn đáp:

          “Thật lòng cũng đã mấy chục năm rồi, ta chưa gặp lại cậu, lão Lưu à! Các anh ở dưới xuôi lên, đành lòng là có đi nhiều nơi, biết nhiều thứ. Nhưng mà mỗi vùng một khác, quan Tạo đã cử lính đi, thì cứ cho họ đi. Vả lại họ cũng không phải chỉ biết uống rượu, biết nói to đâu, họ làm được việc đấy. Không tự nhiên mà được bổng lộc của quan Tạo chắc…”

          Già Ết ngừng lại, hôm nay đi bộ nhiều nên ông đang lấy tay xoa xoa hai đầu gối, vừa nói vừa khẽ rên:

          “Ôi chao! Ta thật sự là đã già rồi, khách đến cũng không tiếp đón cho đàng hoàng được, lại còn mời cơm đám ma. Có gì các anh thứ lỗi cho già này. Còn chuyện bắt hổ, hãy cứ làm theo nhà quan, đừng tự ý theo cách của mình. Kẻo sau này lại chuốc hoạ vào thân.”

          Giọng điệu mềm mỏng nhưng lời lẽ lại cứng như thép nguội. Đinh Cương và Sơn Tiếu nhíu mày định lên tiếng phản bác, nhưng Lưu Khải đã vội đưa tay cản lại. Là bằng hữu vào sinh ra tử, ông thừa biết sự cương ngạnh giấu sau vỏ bọc lụ khụ của người lính Lam Sơn năm nào. Khuyên nữa chỉ tổ lộ liễu.

          Đánh bài lảng, Lưu Khải đảo mắt nhìn quanh, ném ra một câu bâng quơ:

          “Anh Ết này, dạo gần đây… có thấy ai lạ lởn vởn quanh bản không?”

          “Không!” - Già Ết đáp cụt lủn. Rồi vừa rót thêm trà vào chén, vừa hỏi lại chuyện cũ:

          “Sau ngày Tiên đế lên ngôi, lão Lưu vẫn còn làm quan trong triều có đúng không? Cớ sao tới tuổi bế cháu lại phải vác đao làm kiếp bảo tiêu cực nhọc thế này?”

          Lưu Khải liếc nhìn sang hai người bên cạnh, ngập ngừng một lát, đủ để không ai thấy rồi từ tốn nói:

          “Quan với tước nỗi gì... chẳng qua là tay vệ úy quèn gác cổng cấm thành. Thánh Tông hoàng đế lên ngôi, đám lính già như tôi bị bãi ngạch hết. Có lãnh chút bạc hưu, nhưng thê nhi nheo nhóc tiêu dăm bữa là nhẵn túi. Sẵn còn chút võ vẽ hộ thân, đành đi áp tải hàng thuê kiếm bát cơm tấm áo. Tiện cũng có ít tiền về đưa vợ. Kể mà được như anh Ết đây, làm trưởng bản, cơm nước cũng có người lo. Không phải bôn ba.”

          Lưu Khải dường như không muốn nói tiếp, bèn dừng câu chuyện ở đấy. Thấy già Ết đang châm đóm, chuẩn bị hút thuốc liền nói:

          “Chuyện thằng Ban chiều nay nói, anh nghĩ sao? Đất này từng có chuyện hổ vào tận trong nhà vồ người bao giờ chưa?”

          Già Ết rít một hơi, giọng nói bị lạc đi vi hơi thuốc:

          “Tính cả đời ta thì đây là lần thứ hai. Lần đầu là bố thằng Ban. Mà thú thực... năm đó tìm thấy mỗi cái tay đứt lìa trong rừng sâu, cũng chẳng biết có đúng là chúa sơn lâm vồ hay con vật nào khác. Còn lần này nó mò hẳn vào bản làm bậy, lại có hai mắt thằng Ban chứng kiến. Tuyệt không sai được.”

          Sơn Tiếu nhạy bén bắt ngay điểm hở:

          “Vậy là đây là lần đầu tiên hổ vào tận nhà ăn thịt người, đúng không? Bố của thằng Ban là đi săn, bị ở trong rừng, cũng không có chứng cứ rõ ràng. Không thể coi là hổ vào bản được.”

          Ánh mắt già Ết tối lại. Ông mệt mỏi với trò dò la bóng gió của đám giang hồ này. Đặt mạnh ống điếu xuống sàn, ông chằm chằm nhìn Lưu Khải, nói thẳng tuột:

          “Nãy giờ các chú hỏi quấn lấy cái nhà lều, hạch sách đủ đường chuyện con hổ. Việc chỉ có vậy, ngọn ngành ta đã thuật sạch sành sanh. Nhưng lão phu nay mạn phép hỏi thẳng: Các người ngược dòng lên đây là để vãn cảnh thăm ông già này, hay... còn toan tính gì giấu giếm? Lão Lưu, huynh đệ với nhau, anh cứ banh ruột ra nói một lần đi.”

          Lưu Khải vuốt bộ râu, nhoẻn miệng cười:

          “Đúng vẫn là anh Ết của ngày nào. Thôi thì ta cũng nói thẳng. Chúng ta là bảo tiêu, việc chính vẫn là trông hàng. Mà trông hàng khỏi ai? Không phải dã thú thì chẳng phải là cướp hay sao…?”

          “Cướp thì liên quan gì?” - Già Ết chau mày.

          “Có liên quan đấy, anh Ết ạ. Đoàn buôn của ta chuyến này đi lên các mường trên. Mà muốn lên thì chỉ có cách đi qua bản của anh thôi. Ta trước là lên thăm anh, sau là muốn xem chuyện lạ, ta sợ con hổ đấy không phải hổ bình thường, nên đi thám thính trước, sợ sau đoàn buôn đi qua đây, kẻo bị hổ vồ, hoặc là cướp đường thì mất toi chuyến hàng, chẳng hoá công cốc sao.”

          Già Ết vỗ vai Lưu Khải một cái nghe tiếng “bốp” thấy rõ. Ông cười khà khà rồi nói tiếp:

          “Tiên sư cái lão này! Có cái việc cỏn con lo giữ bát cơm mà cứ lươn khươn dò la mãi! Việc chỉ có vậy, chẳng có ma quỷ hay thổ phỉ nào ở đây hết. Ngày mai lùng cọp coi như vẹn cả đôi đường, ta được yên ổn bản mường, các người được dọn sạch chướng ngại. Nhưng nhớ cho kỹ: Hãy đi cùng lính quan quân, chớ có đánh lẻ tách đoàn. Bọn lính ấy tuy hay uống rượu, nhưng quen đất, sức vóc cũng chẳng phải hạng bù nhìn đâu.”

          Ba người nhóm Lưu Khải răm rắp gật đầu lia lịa. Riêng Lưu Khải âm thầm thở hắt ra một hơi dài nhẹ nhõm, tựa như kẻ đi trên dây vừa bước được chân xuống đất bằng.

          Bầu không khí căng thẳng tan biến. Họ lại rót trà, quây quần ôn lại chuyện xưa. Chuyện những ngày nằm gai nếm mật thời giữ nước, chuyện chốn chợ phiên Kinh kỳ sầm uất ngựa xe, và cả những chuyến đi buôn lên tận miền sơn cước xa xôi đụng độ đủ hạng kỳ nhân dị sĩ.

          Trăng tròn đã đi qua đỉnh núi từ bao giờ. Mọi người đã ngủ gần hết, chỉ có tiếng cọt kẹt của mọt ăn sàn tre, từng hạt vụn li ti rơi xuống làm Ban hắt xì. Cậu ngồi dậy xoa mũi, nhìn về phía chiếc quan tài. Thằng Pang đang ngồi thù lù ở đó, ánh trắng chiếu lên khuôn mặt nó đang ướt đi vì nước mắt.

          Ban liền chạy đến, đặt tay lên vai thằng nhỏ rồi nói khẽ:

          “Pang à…! Ngủ đi em!”

          Thằng bé không nói gì, chỉ sụt sùi khóc trong im lặng. Ban ngồi xuống cạnh nó, hai tay ôm lấy đầu gối.

          “Anh cũng như em đấy! Muốn khóc thì cứ khóc đi. Nhưng khóc xong thì phải đứng lên, phải sống tiếp. Mẹ em chọn cái chết để cứu em mà. Đừng để mẹ em chết để cứu người cứ khóc như vậy được.”

          Thằng Pang nghe xong thì ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt Ban. Nó không khóc nữa, trong đêm tối cảm giác như đôi mắt nó đang sáng lên. Nó nói dõng dạc:

          “Anh Ban…! Anh hứa với em đi…!”

          “Em muốn anh hứa gì?”

          “Anh phải giết được con hổ đấy, để trả thù cho mẹ em!”

          Ban ngập ngừng trong chốc lát, điều thằng Pang bắt cậu hứa có lẽ không cần phải nói ra. Vì vốn dĩ, tự cậu đã muốn thực hiện nó từ lâu rồi.

          Thằng Pang nhào đến ôm chặt lấy Ban. Nó hỏi dồn:

          “Anh hứa đi…! Anh phải hứa làm cho bằng được giúp em!”

          Ban lấy hai tay ôm choàng lấy thằng bé rồi ngước mắt lên nhìn mặt trăng ở trên cao. Hít một hơi thật sâu:

          “Anh hứa…!”

          Bên cạnh quan tài, hai thằng nhỏ mồ côi ôm chặt lấy nhau. Trải qua một phen kinh hãi, tuy không máu mủ, nhưng tựa như đã là anh em ruột thịt từ bao giờ.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px
{
}