Chương 12: Cơn ác mộng tồi tệ, Thanatos
Một lần nữa Myson lại ở trong giấc mơ của chính mình.
Cậu ta luôn biết rõ điều đó, không phải vì những gì diễn ra trước mắt quá siêu thực, hay cảm giác tâm trí không thể kiểm soát được thân thể. Mà chỉ đơn giản là bộ não bị cải tạo của cậu ta đã đưa ra tín hiệu:
[Đây không phải hiện thực].
Có lẽ bởi vì vậy mà kể cả khi bị Elise ba lần tác động vào tâm trí bằng cách yểm bùa hay xoá kí ức, thì tâm trí Myson vẫn không hề lay chuyển.
Bên cạnh đó, khi rời xa chiến trường, những giấc chiêm bao về quá khứ này luôn đến với Myson mỗi ngày.
Myson Erison đang sống lại một thời khắc cách đây đã năm năm.
Đó là thời điểm cậu ta đang trở về thành phố Trung ương để nhận lệnh chỉ huy, cũng như thực hiện chức trách mà mình được tạo ra.
Chàng trai trẻ được hộ tống bởi một đoàn xe sang trọng, băng qua những con đường lớn và những quảng trường đều đã chật kín bởi con người.
Xung quanh phố xá hiện đại, những toà nhà cao ngút trời cũng có hàng ngàn người đang nhìn xuống đoàn xe hộ tống chạy quanh thành phố. Họ đưa lên những băng rôn và những tiếng reo hò.
Tiếng cười và hát ca, tiếng trống và tiếng kèn mừng cho một dịp lễ quan trọng.
Những đoá hoa tung bay, trải đầy khắp con đường, đoàn diễu binh hiên ngang, tiến về phía trước mà chẳng lệch nhau nổi một ly.
Dù vậy, trước tầm mắt Myson, đại lễ không rõ tên này lại tựa như tấm nền trời, khi ánh mắt xanh thẳm của cậu ta chiếu tới khắp nơi.
[Chào mừng trở về, những anh hùng của nhân loại].
Có rất nhiều tấm băng rôn đã ghi lên điều đó, những tấm bảng lớn, những màn hình khổng lồ thậm chí còn đang hiện lên hình ảnh của chính Myson Erison.
“Erison, con thấy gì khi nhìn thấy những điều này?”
Một giọng nói xuất phát từ phía sau khiến chàng trai trẻ quay đầu lại. Người đang ngồi cạnh cậu thiếu niên, là một người trạc tuổi Myson hiện tại. Nhưng khác với Erison đang diện trên mình bộ lễ phục hào nhoáng, thì cậu ta chỉ phải khoác lên mình chiếc áo chùng thâm màu đen tuyền giản dị.
Myson nhìn vào hình ảnh đấy với đôi mắt thật hoài niệm, trong ánh mắt cậu ánh lên nét đau buồn khó nói. Nhưng với đứa trẻ được gọi là Erison đang ngồi trên chiếc xe ấy, tại thời điểm này lại thờ ơ hoàn toàn với câu hỏi ấy.
“Nếu ta nhớ không nhầm, đây là thứ mà người đời gọi là vinh quang thì phải?”
“Vinh quang là gì?”
“Đó là điều mà nhân loại ca ngợi mỗi khi anh hùng đạt được chiến công.”
Vị linh mục trả lời đơn giản, câu trả lời dường như chẳng thể làm hài lòng đứa trẻ đang nhìn thấy những thứ mà con người gọi là vinh quang.
“Đó là ảo tưởng vĩ đại của con người, Erison” vị linh mục trẻ nói. “Bởi vì những vinh quang này, những gì con người bên ngoài đang ngợi ca đều thuộc về con và những sinh mạng đã xả thân cho giống loài.”
Vị linh mục ấy giải thích, Erison vẫn chỉ nhìn ra ngoài đám đông ấy, thành phố hiện đại xa hoa với ánh mặt trời chiếu rọi khắp các dãy nhà. Cậu ta không để ý những thứ gọi là vinh quang dưới mặt đất, thậm chí còn chẳng biết phải phản ứng thế nào trước sự trống rỗng trong lòng khi chứng kiến cảnh tượng kì lạ.
“Khi có được vinh quang, con người sẽ cảm thấy gì, thưa cha?”
“Vinh dự, quyền lực và cảm giác được công nhận, ta tin là vậy?”
“Vậy cha có muốn trở thành trung tâm của vinh quang ấy chứ?”
Cậu bé hỏi một cách ngây thơ, điều đó khiến vị linh mục trẻ ấy bất ngờ. Nhưng rồi, thiếu niên đó mỉm cười và trả lời.
“Có, dĩ nhiên là ta muốn,” cậu ta trả lời thẳng thắn. “Đâu phải tự nhiên ta xung phong bước ra đại diện cho nhà thờ để chiến đấu cùng chiến trường với con cơ chứ?”
“Con có thể cho cha vinh quang đó,” Myson nói một cách máy móc. “Con không cảm nhận được gì với những tiếng hò reo đó cả. Nên con nghĩ mình không cần cái được gọi là vinh quang đó đâu. Cha có muốn nhận nó thay con không?”
“Rất tiếc điều đó là không thể,” lời nói của vị linh mục trong trẻo tựa như tiếng vang của những hồi chuông ngân trên tháp đồng hồ. “Con là con, con trai ta. Câu chuyện của con đã được nhân loại dệt nên thành những huyền thoại. Ta không thể là con, không thể có vinh quang giống con và càng chẳng có đủ sức mạnh để thay thế con khi nhân loại gào thét cầu xin sự cứu rỗi.”
“Con đang cứu rỗi họ sao? Chỉ bằng việc tiêu diệt lũ Orbs ư?”
“Ừ, vì thế mà những con người đó mới vinh danh con.”
“Thế còn những người khác thì sao ạ?”
“Ý con là những người lính đã hy sinh sao?”, vị linh mục lắc đầu, cười nhạt. “Gia đình và Chúa sẽ nhớ tới họ. Nhưng tuyệt nhiên nhân loại sẽ quên mất cái tên của họ. Chỉ có con, anh hùng là người được ngợi ca mà thôi.”
Erison nghe vậy, ánh mắt của cậu rời khỏi đám đông, mà nhìn về phía vị linh mục bên cạnh. Tựa như một đứa trẻ ngây thơ, cậu nói:
“Vậy cha cũng muốn trở thành một anh hùng như vậy sao?”
“Hở?” vị linh mục bất ngờ trước sự thay đổi nhanh chóng của cậu bé. Nhưng rồi anh ta mỉm cười đáp lại. “Ừ, chí ít là để giữ con sống sót, con trai của ta. Như vậy là cái tên của ta cũng có thể được ghi nhớ rồi.”
“Vậy con sẽ giúp cha.”
Erison nói với sự thuần khiết vô bờ. Điều đó khiến vị linh mục lúc này không kìm được lòng mà hỏi:
“Tại sao con lại muốn giúp ta?”
“Vì cha mạnh mẽ… con muốn cha sống thật lâu.”
“Con cảm thấy cô đơn ở nơi đó sao?”
“Vâng… con chưa bao giờ được gặp những người được gọi là đồng đội của mình tới lần thứ hai sau mỗi trận chiến. Dù không đau buồn gì đâu, nhưng con thấy trống vắng lắm.”
“Ta hiểu rồi…”
Vị linh mục ấy đặt tay lên thánh giá.
“Ta không mong con sẽ mong đợi quá nhiều, Erison. Vào cả ta, hay là chính nhân loại.”
“…”
Đứa trẻ tên Erison lúc này không hiểu vị linh mục ấy muốn nói tới điều gì.
Sau đại lễ đón mừng anh hùng một tháng, Erison đã được đưa về chiến trường của đơn vị số 0. Nơi có những người lính “trẻ con” được đưa vào tiền tuyến. Vũ khí thuộc dự án quân sự cải tạo sinh học, chính là hàng nhái “công nghiệp” của sản phẩm hoàn mĩ nhất - Erison, kẻ có thể đạt tới vinh quang của “đứa trẻ của lời tiên tri” năm xưa.
Bởi vì vậy, mà đối mặt với sự khắc nghiệt của chiến trường phía Đông này, tất cả chúng đều bị lũ Orbs tàn sát. Biết bao trận chiến trôi qua, Erison là đứa trẻ duy nhất sống sót và đem tới chiến thắng.
Những vũ khí bị hỏng, sẽ được thay thế hoàn toàn. Vì vậy cứ sau mỗi một trận chiến, đơn vị số 0 lại hoàn toàn thay đổi.
Số lượng thương vong không được ghi lại, vì tất cả những đứa trẻ đều không có danh phận.
Kẻ đã chết, chỉ còn là những cái xác không tên.
Chúng đã chiến đấu, và chết cạnh Erison.
Hàng vạn kẻ vô danh đã chết trên chiến trường của anh hùng, trở thành núi xác để cậu ta bước lên và toả sáng.
“Con cảm thấy cô đơn ở nơi đó sao?”
Câu hỏi ấy đến giờ vẫn cứ văng vẳng trong cậu.
Cùng với hình ảnh cuối cùng về người linh mục ấy.
“Cha đã chiến đấu thật lâu, đã ở phía đông này cùng với con… suốt hai năm ròng,” Erison nhìn xuống một bãi bùn nhão nhoét, được trộn lẫn bởi vô số thân xác, tạo thành những kết cấu kì dị. “Nhưng cha chưa sống đủ lâu mà… Olga. Con chưa thể đem cho cha vinh quang mà chúng ta đã hứa…”
Bãi bùn nhão ấy, chính là nơi hàng chục thân xác đã ngã xuống. Những thân xác ấy đã bị tàn phá đến mức chẳng thể nhận ra được. Nhưng Erison vẫn nhìn ra được trong cái núi xác bị xé tan, phá huỷ, thiêu rụi lẫn lộn ấy có “người thân”, chính là bởi đôi mắt đã luôn được rèn luyện để quan sát, bộ não được thiết kế để ghi nhớ và suy luận vượt trội giúp cậu nhận ra từng chi tiết nhỏ nhất.
Phải, trong thứ nhão nhoét đó, có thân xác một con người dù đã bị trộn lẫn với hàng chục quái vật.
Erison đưa tay xuống, rút ra một bàn tay khác đang cầm lấy chiếc thánh giá bạc đã nhuốm màu máu tanh và bùn đất. Cậu ta đào bới trong núi thịt ấy, để nhìn lại “người thân” lần cuối cùng, người đã sống và chiến đấu với cậu dài hơn bất cứ ai khác.
Thật kinh tởm làm sao, thân xác đã bị xé tan nát ấy đã chẳng còn dấu vết nào của hình hài con người. Nhưng Erison vẫn với lấy chiếc xẻng, gom từng mảnh thịt mà bản thân cậu ta tìm được. Khắp chiến trường ấy, với đôi mắt quan sát tất cả mọi thứ xung quanh, cậu ta đem về tất cả những gì còn lại của vị linh mục.
Hai xẻng thịt, nhão nhoẽt và tanh tưởi, thậm chí chẳng nặng hơn được một thùng dầu. Cậu ta hoả táng, rồi đưa tro cốt vào một chiếc hộp nhỏ.
Chiếc hộp được chôn cất cẩn thận ở một nơi xa chiến trường, cùng với cái tên được khắc ở bia mộ đá: Olga Beluga.
Khi chiếc thánh giá được treo lên bia mộ, cũng là lúc cậu bé ấy đau đớn nhận ra… người thân đem theo cái tên Olga nay đã chết.
Dù đã tước đi vô số sinh mệnh.
Dù đã chứng kiến bao nhiêu người ngã xuống.
Đây là lần đầu tiên, Erison cảm nhận được cái chết sâu sắc đến vậy.
Trái tim ấy ngừng đập, và bộ não máy móc ấy đã lần đầu hiểu được sự tội lỗi.
~o0o0o~
Myson tỉnh dậy khỏi giấc mơ mà cậu ta có thể gọi đó là ác mộng.
Đôi mắt xanh thẳm lờ đờ nhìn xung quanh và nhận ra bình minh vẫn chưa hề bước qua đường chân trời.
Bầu trời vẫn còn tối tăm, sương mù phủ kín ngoài cửa sổ. Myson không quan tâm đến giấc ngủ của mình nữa, cậu ta lật tấm chăn sang một bên và bước xuống giường.
Cơ thể uể oải ấy bước tới bồn lavabo như một thói quen hàng ngày.
Vặn lạnh hết cỡ và liên tục xối nước vào khuôn mặt, kì thật kĩ đến mức mu bàn tay đỏ rát.
Myson đau đớn nhìn vào gương mặt mình được phản chiếu trong tấm gương bị phủ bởi vô số giọt nước bắn lên một cách mạnh bạo.
Hình ảnh cậu trai phản chiếu trong đó như thể đang vỡ ra và tan chảy. Dòng nước xối xả chảy xuống trong con mắt xanh thẳm ấy bỗng trở thành sắc đỏ kinh hoàng khiến Myson hoảng hốt giật ngược bàn tay trở lại.
“…”
Trong một khoảnh khắc, cậu ta đã quên mất đi việc bản thân phải hít thở. Để rồi sự khó chịu dần lan lên cánh tay, chạy dọc bả vai cho đến khi dừng lại ở lồng ngực.
“Thuốc…”
Myson vội vàng chạy vào căn phòng, lục tung từng ngăn tủ, tấm chăn và từng món đồ vật lên, điều ấy nhanh chóng khiến căn phòng chật hẹp trở thành một mớ hỗn độn.
Cậu ta không thể tìm thấy bất cứ một điếu thuốc nào, thứ mà đã từng giúp cậu ta ổn định lại tinh thần trong quá khứ ở sa trường.
Đó là chất độc, nhưng cũng là liều thuốc vạn năng, nó khiến tâm trí Myson quên đi nỗi đau, nhưng chính vì có thể quên đi nỗi đau mà cậu ta vẫn còn có thể tồn tại đến bây giờ.
“Không có…”
Myson như thể gục ngã, cậu ta chưa bao giờ cố gắng mua một bao thuốc nào kể từ khi tới đây. Cũng bởi vì lời nhắc nhở của Rina, và một phần Myson cũng tin rằng mình có thể bỏ hết những gì từng thuộc về quá khứ.
Thân thể Myson gục xuống bức tường mỏng. Không hề lấy nổi một phản ứng mãnh liệt, thậm chí kể cả khi lục tung căn phòng cậu ta cũng chẳng gây ra tiếng ồn nào đáng kể cả.
Chỉ đơn giản tâm trí ấy đã trở nên suy nhược. Cậu ta đã mơ, sống và trải qua lại thoáng cảm xúc khổ đau mà sẽ chẳng ai có thể thấu cảm, bởi vì cảm xúc của cậu ta chưa bao giờ đủ mãnh liệt để có thể cảm thấy tức giận trong khổ đau.
Myson gượng cơ thể mình dậy, cậu ta phải tìm cách để giữ lấy tinh thần.
Tạm rời khỏi căn phòng đã trở thành ngôi nhà mới, Myson bước ra khỏi cửa và dạo bước trong bóng tối trước bình minh.