Chương 03: Nghe lén
Ánh lồng đèn bọc lụa đỏ từ hiên cao hắt xuống mặt đất rạch một vệt dài đỏ quạch, loang loáng như tựa một vũng máu loãng chưa kịp đông lại.
Chiếc xuồng ba lá khẽ khựng lại khi mũi thuyền chạm vào súc gỗ sao đóng làm bến nước, âm thanh cộc nhẹ vang lên giữa đêm tịch mịch nghe rợn cả gai ốc.
Đăng Khải đứng dậy, thân hình gầy dưới lớp áo ngũ thân đã thấm sương khẽ lảo đảo. Đôi giày vải bấy giờ đã nặng trĩu, sình quánh lại bên mép vải như xiềng xích trói buộc bước chân kẻ viễn xứ.
Anh quay đầu, nhìn người đàn ông chèo đò đang lẳng lặng gác mái sào dưới bóng tối của rặng dừa nước. Gương mặt gân guốc ấy giờ chỉ còn là một khối đen thẫm, nhưng đôi mắt quắc sáng như hai đốm lửa rơm thì vẫn ghim chặt lấy anh.
Anh chắp tay trước ngực, khom mình làm một cái lễ theo đúng mực của kẻ trọng nghĩa khinh tài:
"Đêm hoang nước độc, nhờ có bác giang tay chèo cứu mạng. Ơn này tôi xin ghi lại, ngày sau nếu đại cuộc có cơ hội xoay chuyển, nhất định sẽ không phụ chuyến đò đêm nay."
Người đàn ông không đáp, gã chỉ khịt mũi một cái, rồi cười thanh âm không còn vẻ giễu cợt ban đầu mà trĩu nặng một niềm cảm thán thâm sâu.
Gã vớ lấy cây sào tre, dùng lực đẩy mạnh một cái vào bờ đá.
Chi chiếc xuồng lướt êm ru trở lại lòng nước thẳm sâu, bóng dáng gã và ánh đuốc tàn ít ỏi nhanh chóng chìm khuất sau rặng ô rô rậm rạp, để lại một khoảng không gian mênh mông đầy tiếng muỗi vo ve và mùi bùn lầy nồng nặc.
Đăng Khải xoay người, bước lên những bậc thềm đá dẫn vào dinh cơ. Sương đêm Nam Kỳ thấm sẫm qua lớp vải áo, lạnh buốt thấu tận xương tủy, nhưng lồng ngực anh lại nóng hầm hập như có trận lửa đang âm ỉ cháy rực.
Dinh cơ của lão vào canh ba vắng lặng đến đáng sợ. Những bức tường vôi trắng muốt, cao ngất ngưỡng bao bọc lấy mấy dãy nhà ngang nhà dọc được lợp ngói vảy cá đại hình, biểu thị cái uy quyền tột đỉnh của kẻ nắm giữ sinh sát cả một vùng đồng đất heo hút.
Dưới mái hiên cong vút, mười hai chiếc lồng đèn chao đảo nhẹ theo từng cơn gió chướng, hắt thứ ánh sáng lập lòe, ma mị lên những hàng cột gỗ căm xe bóng loáng.
Anh vừa bước qua khỏi cổng ngách, hai gã gia nhân lực lưỡng, tay cầm gậy, đã từ bóng tối bước ra, ánh mắt dò xét, đầy vẻ khinh khỉnh:
"Ủa, Cậu giáo người Bắc mới về đó hả? Làm cái gì ngoài đồng hoang giờ này mới mò mặt về hử? quản gia tìm Cậu rát cả cổ, tưởng bị cá sấu nó tha đi mất rồi chớ!"
Đăng Khải không đáp ngay, đôi môi anh tái đi vì lạnh khẽ mím lại. Không buồn đoái hoài đến bọn họ, anh ung dung ôm lấy bọc giấy mực đã đẫm sương, bước thẳng về phía dãy nhà ngang dành cho khách từ viễn xứ tới đây.
Sĩ phu Bắc Hà cho dù lỡ vận, có phải luồn cúi dưới mái nhà này đi nữa, thì cái cốt cách kiêu hãnh ngấm vào máu thịt từ thuở trong bụng mẹ cũng nhắc anh không có tư cách cho phép bản thân mình đôi co với đám gia nhân xôi thịt như này.
Gian phòng ngủ của anh nằm tận cuối dãy, chật hẹp và sực mùi gỗ ẩm mốc lâu ngày không bắt nắng.
Đặt bọc giấy mực lên chiếc bàn nhỏ mộc mạc, Đăng Khải mệt mỏi quỵ xuống chiếc giường gỗ. Đôi bàn chân anh đau nhức, cảm nhận như sắp rớm máu vì những vết gai ô rô cào xước lúc lội sình bấy giờ mới bắt đầu đau nhói dữ dội, từng cơn đau nhói buốt chạy dọc lên tận đỉnh đầu.
Anh tháo đôi giày vải bết bùn, nhìn lòng bàn tay rách da, máu hòa cùng nước sình đen nhẹm mà khẽ cười dài một tiếng.
"Vạn Niên cơ dựng, lòng dân oán..¹"
Anh lẩm bẩm mấy câu khẩu hiệu của cuộc nổi dậy Chày Vôi ngoài kinh kỳ Thừa Thiên mà lòng dạ ngổn ngang. Cuộc khởi nghĩa ấy vừa bị triều đình Tự Đức dập tắt trong bể máu vào mùa thu năm ngoái, máu của các bậc sĩ phu chí sĩ nhuộm đỏ cả một khúc sông Hương.
Triều đình trung ương thì mải mê xây lăng tẩm hoành tráng để lo phần hậu sự cho thiên tử, bên ngoài thì súng thần công Pháp đã nổ vang trời, Nam Kỳ Lục tỉnh đang đứng trước nguy cơ mất vào tay giặc Tây Dương mắt xanh mũi lõ.
Vậy mà ở cái tổng hẻo lánh này, lão Bá hộ vẫn còn tâm trí rước một "cậu giáo ráo sảnh" như anh về để đánh bóng cái danh gia vọng tộc giả tạo thật làm cho con người ta nực cười, Anh cởi chiếc áo khoác ra.
Đúng là thời cuộc điên đảo, lòng người ly tán.
Giữa lúc Đăng Khải đang chìm trong vạn tầng suy tư về nhân tình thế thái, cửa phòng chợt có tiếng động nhẹ. Một bóng người thong thả bước vào, không lên một tiếng động, tựa như một làn khói nam sương lẻn qua khe cửa nhỏ.
Đăng Khải giật mình, anh nhanh tay vội vớ lấy chiếc áo dài định khoác lên người theo đúng lễ phép, nhưng người vừa tới đã lên tiếng, thanh âm trầm thấp, lành lạnh nhưng lại mang theo một thứ từ trường khiến người nghe phải định thần mất vài giây:
"Đừng bận tâm lễ nghĩa với tôi. Cậu cứ cư xử tự nhiên."
Dưới ánh đèn dầu lạc mờ ảo, Đăng Khải kinh ngạc nhìn đối phương. Đó không phải lão già kia, cũng không phải gã quản gia hống hách.
Người đứng trước mặt anh là một nam tử trạc tuổi hoặc hai mươi báo, hai mươi lăm tuổi, vóc dáng cao ráo vạm vỡ thẳng thớm như một nhành
trúc lung lay giữa gió đông.
Hắn ta bận một bộ áo dài ngũ thân bằng lụa lãnh màu xanh thẫm, cổ áo đứng cao, nút bấm bằng bạc sáng sóng được cài cẩn thận đến tận xương quai xanh.
Gương mặt người này mang nét thanh tú, nước da bánh mật khác hẳn với vẻ xạm đen vì nắng gió của người dân vùng Lục tỉnh, nhưng đôi mắt thì sâu hoắm, đen thẳm và lạnh lùng như nước khơi vào mùa lạnh. Trên tay anh ta bê một khay gỗ nhỏ, bên trên đặt một hũ sành và một xấp vải trắng tinh sạch.
"Cậu là ai?, vào phòng người khác mà khác không biết gõ cửa hay sao!?"
Anh nghiêm nghị nói, đôi mắt sáng như sao, bấy giờ dấy lên một sự dè chừng.
Người thanh niên không vội trả lời anh ngay, hắn ta bước tới bên chiếc bàn gỗ, đặt khay xuống một cách nhẹ nhàng, rồi thong thả ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Đôi mắt đen sâu thẫm ấy lướt qua đôi bàn chân lấm lem, rớm máu lòng bàn tay rách nát vì gai ô rô của Đăng Khải, chân mày khẽ cau lại một nét rất khó phát giác.
"Cậu thắc mắc tôi là ai hả, cũng không giấu gì tên tôi là Vũ Văn Hoàng con trai thứ ba của ông Bá hộ."
Anh ta bình thản lên tiếng, chất giọng Nam Bộ nghe nũng nịu nhưng đã được rèn giũa kỹ càng, tròn vành rõ chữ, nhã nhặn vô cùng, thấy anh vẫn không động tĩnh gì hắn mới tiếp lời.
"Tôi nghe đám gia nhân báo Cậu đi lạc ngoài đồng hoang, nên tôi đem ít dầu với vải sạch qua cho Cậu băng bó. Đất này sình lầy độc, vết thương nhỏ không giữ kỹ, qua ngày mai là thối thịt như chơi không đùa được."
Đăng Khải nghe hai chữ "Văn Hoàng" mà lòng chợt khẽ động.
Anh đã nghe người ta kháo nhau rằng, lão Bá hộ có ba người con trai. Hai người đầu đều theo cha đi buôn lúa ghe bầu, tính tình hung hãn, thô lỗ; chỉ riêng người con thứ ba là quanh năm suốt tháng đóng cửa trong thư phòng, tính tình kỳ quái, lập dị, chữ nghĩa thông tuệ nhưng lại không mặn mà gì với gia sản của cha, thì ra trước mặt anh tên này nhìn cũng rất bình thường.
Anh đưa mắt nhìn hũ dầu trên bàn, Đăng Khải thoáng chút ngỡ ngàng. Anh không ngờ dưới cái mái nhà sực mùi xôi thịt, bóc lột sức lao động này, lại có một người lòng mang khí độ thanh cao, trầm mặc đến thế.
"Cảm ơn cậu có ý tốt, Nhưng vết thương ở chân không đến nỗi nào!"
Văn Hoàng không đáp, anh ta cũng chẳng mảy may để tâm đến lời từ chối tinh vi xảo quyệt của anh.
Hắn Bước tới bên cạnh giường gỗ, chẳng nói chẳng rằng Văn Hoàng quỳ một gối xuống nền đất lạnh, một tay thong thả nắm lấy cổ chân người kia, săm soi rồi mới nhấc chân nhẹ lên.
Cái chạm đột ngột ấy khiến một người như Anh, cảm nhận như bị một luồng điện giật qua huyết quản, người khẽ run lên, theo bản năng định rụt chân về:
"Cậu làm cái gì đấy, mau bỏ ra… ai cho cậu được tự ý động vào người tôi đạo lý ở đâu hả!"
" Ở yên, là tôi cho phép"
Văn Hoàng ngước mắt lên, ánh nhìn đóng băng mọi sự kháng cự của người đối diện:
"Đạo lý của thánh hiền phương Bắc là để mặc vết thương nhiễm trùng cho đến chết, hay đạo lý của Cậu người ngặt nghèo thì ra tay cứu giúp? Cậu mau ngồi yên đi, tôi không có kiên nhẫn để kéo co với Cậu đâu."
Bàn tay hắn thô kệch, nhưng lực bấm lại vô cùng mềm mại. Anh ta dùng xấp vải sạch, thấm chút nước ấm từ chiếc bình mang theo, tỉ mẩn lau đi lớp bùn sình quánh đỏ trên bàn chân anh.
Hành động của hắn ta chậm rãi, nhẹ nhàng đến lạ kỳ, tựa như đang lau chùi một món cổ vật quý giá chứ không phải một đôi bàn chân lấm lem.
Đăng Khải ngồi lặng trên giường, hơi thở anh dường như nghẹn ứ lại nơi cổ họng. Từ khoảng cách gần thế này, anh có thể ngửi thấy mùi hương trầm thanh khiết, thoang thoảng lẫn chút vị đắng của trà cổ thụ tỏa ra từ mái tóc và nếp áo của đối phương.
Mùi hương ấy hoàn toàn đối lập với cái mùi ngai ngái của sình lầy, mùi tanh nồng của bùn bãi ngoài kia, nó khiến lồng ngực đang thắt lại của anh bỗng chốc được xoa dịu.
Khi ngón tay Văn Hoàng thoa lớp dầu mát rượi lên những vết thương rách da, Đăng Khải khẽ xuýt xoa vì xót. Thấy thế hắn liền dừng tay, ngước mắt nhìn anh, đôi môi dày nhưng không hề cộm cỡm khẽ mím lại, thanh âm bỗng chốc mềm đi vài phân:
"Đau lắm sao? Chịu khó đi một chút."
"Không sao..."
Anh cố giữ giọng mình bình thản, nhưng ánh mắt thì không khỏi xuýt xoa trước gương mặt người kia.
Giữa cái thời buổi triều chính lung lay, miếu đường u uất, một kẻ ôm chí lớn mưu sự thế gian như anh, chấp nhận dấn thân vào hang cọp để làm tấm bình phong dò đường, vốn đã chuẩn bị tinh thần cho một cuộc chiến đầy rẫy sự khinh miệt.
Vậy mà ngay đêm đầu tiên, ngay tại sào huyệt của phường cường hào địa phương này, anh lại tìm đến hắn một sự dịu dàng, che chở đến từ chính đứa con trai của kẻ thù.
Văn Hoàng tỉ mẩn băng bó xong xuôi, rồi mới đứng dậy, dùng khăn lau sạch tay. Anh ta nhìn Đăng Khải, ánh mắt thâm trầm như muốn nhìn thấu vạn tầng suy tư đang che giấu sau đôi mắt:
"Lúc ngoài bến rạch, lời Cậu nói với ông đò dọc... tôi đều nghe Cậu nói hết rồi."
Câu nói nhẹ bẫng của người kia như một tiếng sét nổ ngang tai anh. Thái văn của anh bỗng chốc căng thẳng như dây cung, bàn tay dưới vạt áo khẽ siết chặt lại.
Việc anh mượn lốt dạy học để âm thầm kết giao hiền tài, mưu sự chống đối cường quyền và quan phủ, nếu lọt đến tai lão Bá hộ hay quan tri phủ, cái đầu của anh chắc chắn sẽ không còn nguyên vẹn trên cổ.
Anh trừng mắt ánh nhìn khóa chặt Văn Hoàng, khí độ uyên áo của bậc trí giả bấy giờ phương, thanh âm trầm xuống, sắc lẹm như dao:
"Cậu đã nghe thấy? Vậy thiếu gia cậu đây định giải tôi lên quan phủ đường để lãnh thưởng, hay định báo cho lão hương quản biết để dập tắt cái ngọn lửa ngầm này từ trong trứng nước?"
Đối mặt trước sự phòng bị, sắc lạnh anh Văn Hoàng không hề biến sắc. Hắn ta thong thả tiến lại gần chiếc bàn tre, nhìn bọc giấy bản mực tàu, rồi khẽ buông một tiếng thở dài một tiếng:
"Nếu tôi thật sự muốn giải Cậu lên quan, thì đêm nay người đón Cậu ở bến rạch đã là đám gia nhân, chứ không phải một hũ dầu mù này đâu."
Văn Hoàng quay người lại, đối diện với Đăng Khải. Ánh đèn dầu hắt lên một góc mặt anh ta, tạo thành một khoảng tối thâm trầm đầy dằn vặt:
"Cậu Đăng Khải, ôm chí lớn mưu sự thế gian, muốn nhổ tận gốc cái mầm ác của phường cường hào địa phương... Cậu nghĩ lòng tôi há nào lại tôn kính thứ tiền tài sực mùi máu tanh và nước mắt của cha tôi sao?
Tôi sống trong cái dinh cơ bề thế này hai mươi mấy năm, chứng kiến tá điền bị lôi xiết ngoài đồng bãi, chứng kiến cha và hai người anh cấu kết nhau lại đục khoét cận tủy xương đồng bào... lòng tôi từ lâu đã nguội lạnh như tro tàn!
Hắn bước tới trước mặt anh, khoảng cách gần đến mức anh có thể nhìn những tia máu u uất trong đôi mắt đen thẳm của đối phương:
"Đất Nam Kỳ này rộng thênh thang, nhưng lòng người thì bại ly tán, ai cũng mải mê lo vinh thân phì gia, hoặc bất lực tìm đường tị nạn. Đêm nay, nghe những lời ngạo nghễ, thấu tình lý đạo làm người của Cậu ngoài bến rạch, tôi mới biết... hóa ra cái cõi Nam bĩ cực này vẫn còn có một người điên dám ôm hòn đá nhỏ nhen để ném xuống vực sâu mò đường."
Khẽ đưa bàn tay ra, ngón tay khẽ chạm vào vạt áo thẫm sương của Đăng Khải, hành động dịu dàng nhưng ẩn chứa một sự gắn kết thâm sâu, trĩu nặng:
"Ván cờ ẩn mình của Cậu đợt này... nếu Cậu cần một người cùng ngồi chung thuyền, âm thầm bày mưu tính kế binh bố trận ngay giữa sào huyệt này, thì tôi nguyện làm quân cờ dưới tay cậu. Không biết... gã phu chữ Hà Thành này có chê một kẻ cùng dòng dõi xôi thịt như tôi không?"
Đăng Khải lặng người nhìn hắn. Trong căn phòng tre chật hẹp, giữa cái oi nồng trộn lẫn cái lạnh sương đêm của đất trời miền Nam vào lối tháng giêng tháng hai, hai ánh mắt giao nhau, thâm trầm, đè nén nhưng lại bùng lên một thứ ánh sáng mãnh liệt.
"Cái này có thì cái kia có. Cái này sinh thì cái kia sinh. Cái này không thì cái kia không. Cái này diệt thì cái kia diệt². Duyên sinh duyên khởi, vạn sự gặp gỡ định mệnh giữa đêm hoang nước độc này, rốt cuộc lại dệt nên một mối tình trĩu nặng nước tình nhà, dịu dàng mà kiên định như nhành trúc già đung đưa trước bão gió."
Anh khẽ vươn bàn tay gầy guộc ra, bắt chặt lấy bàn tay hắn, thanh âm trầm tĩnh nhưng rành rọt từng chữ:
"Có được Cậu cùng chung chí hướng, ván cờ này... tôi định sẵn sẽ đi đến nước chơi cuối cùng."
Ngoài hiên cao, gió chướng bỗng thổi mạnh, làm giàn hoa thiên lý sau hè xào xạc rung lên, những cánh hoa nhỏ nhạt màu rụng lả tả xuống lòng đất Hòa quyện vào cái mùi gỗ để lâu ngày.
★★★★★
¹ Thơ trào phúng dân gian thời nhà Nguyễn.
²Trích Giáo lý Duyên Khởi (Phật giáo).