CHƯƠNG 2: Người Chèo Đò
Chương 2: Người Chèo Đò.
Đăng Khải nghe tiếng hỏi, anh mừng rỡ như kẻ sắp chết đuối vớ được cọc, vội vàng tiến tới vài bước. Nhờ cái sình lầy dưới chân khéo trêu ngươi, anh vừa nhấc gót, cả thân hình gầy đã lảo đảo, suýt nữa cắm đầu xuống lòng rạch loang loáng ánh đuốc.
Khải cố giữ thăng bằng, hai tay bấu chặt vào nhánh ô rô đầy gai nhọn, mặc cho lòng bàn tay mình nhói buốt, anh run rẩy cất tiếng:
"Dám thưa bác... tôi là người ở phương Bắc mới tới, nhận việc dạy học ở dinh cơ ông Bá hộ. Chiều nay ra chợ huyện mua ít giấy mực, ngặt vì đường sá lạ lẫm nên lạc lối giữa đồng hoang. Xin bác chỉ giúp lối về!"
Chiếc xuồng ba lá lướt nhẹ trên mặt nước rạch đặc quánh phù sa, chầm chậm tấp vào sát bờ đất. Người trên xuồng đứng thẳng, tay ghìm chặt cây sào tre cắm xuống lòng rạch để giữ xuồng khỏi trôi. Dưới ánh đuốc lá dừa cháy bập bùng, Đăng Khải mới nhìn rõ nhân dạng người vừa tới. Đó là một người đàn ông trung niên, vai rộng, da sạm đen vì nắng gió sông hồ. Gương mặt gân guốc với bộ râu quai nón rậm rạp, đôi mắt sáng quắc dưới hàng chân mày nheo lại dò xét.
Liếc nhìn chiếc áo dài ngũ thân tay chẽn, đôi giày vải lấm lem bùn đất và khuôn mặt tái mét vì lạnh của Đăng Khải, người đó bật cười một tiếng khan rền, giọng giễu cợt:
"À, ra là một cậu giáo ráo sảnh! Hèn chi... cái thứ dốt đường đất miền này mà dám lội đồng hoang canh ba canh tư, không làm mồi cho sấu nấp bãi sình thì cũng cúng mạng cho đám muỗi đói. Lại còn đòi tìm đường về nhà lão Bá hộ?"
Gã hất hàm, giọng bỗng trầm xuống, mang theo tia lạnh lùng khi nhắc đến hai chữ "Bá hộ":
"Đường về dinh cơ của lão Bá hộ bên kia sông quanh co lắm, có đi bộ tới sáng mai cũng chẳng tới nơi đâu, khéo lại lọt thỏm vào mấy cái đầm sậy toàn sình lún."
Đăng Khải nghe vậy, hai chân càng run lên bần bật, phần vì lạnh thấm xương, phần vì hoảng trước chốn rừng thiêng nước độc. Anh chắp tay, cúi đầu thi lễ:
"Thưa bác, tôi quả thật chưa tường địa phương nơi đây. Mong bác mở lượng cho tôi xin quá giang một chuyến xuồng qua đoạn đường hiểm. Sau này nhất định có chút lễ đền đáp."
Người đàn ông trên xuồng khịt mũi một cái nghe rõ to, rồi thong thả dập bớt ngọn đuốc lá dừa xuống mạn xuồng, chỉ để lại đốm lửa đỏ ngún khói hăng hắc xua muỗi. Ánh lửa mờ tỏ soi lên nụ cười nửa miệng đầy ẩn ý:
"Chữ nghĩa thánh hiền phương Bắc các người nghe kêu rổn rảng heng? Nhưng ở cái xứ Nam Kỳ Lục tỉnh này, cái mớ chữ vuông chữ tròn của cậu không đổi được chén cơm nguội đâu, nói gì tới chuyện ơn với đền."
Gã khua cây sào tre dứt khoát, khiến chiếc xuồng xích lại gần bờ hơn một chút, rồi cộc lốc bảo:
"Thôi thì bước xuống xuồng đi! Đứng đó một lát nữa cho muỗi nó khiêng đi mất xác, rồi ngày mai lão Bá hộ lại đổ thừa cho dân nghèo tụi ta ám hại người của lão."
Đăng Khải không suy nghĩ nhiều, anh vén vạt áo bước xuống. Chiếc xuồng ba lá chao đảo làm anh giật mình, hai tay quờ quạng níu mạn xuồng mới giữ được thăng bằng rồi mới nhẹ nhàng ngồi thụp xuống lòng thuyền chật hẹp, ôm chặt cái bọc giấy bản mực tàu đã thấm đẫm sương đêm.
Người đàn ông đẩy mạnh cây sào, chiếc xuồng liền nhẹ nhàng quay đầu, lướt êm ru vào lòng con rạch đen thẳm. Không gian tĩnh mịch đến độ chỉ còn nghe tiếng nước vỗ "bùm... bũm" đều đặn vào mạn xuồng và tiếng gió rít qua những ngọn dừa nước hai bên bờ.
Cái lạnh trên sông nước lợ thấm qua từng thớ vải khiến Đăng Khải không kìm được những tiếng ho khan kìm nén. Người đàn ông vừa khua chèo, vừa liếc nhìn cậu thư sinh đang co rúm ở đầu xuồng, cất giọng trầm rề giữa đêm vắng:
"Cậu giáo Bắc Hà chịu lạnh dở quá vậy? Đất này tuy kêu bằng 'đất thiêng nước độc', nhưng ngặt nỗi xứ này được kêu vậy nhưng cũng không độc bằng lòng người đâu. Cậu mới chân ướt chân ráo vô đây, chấp nhận nhận việc gõ đầu trẻ cho cái nhà lão Bá hộ đó, có biết lão là loại hạng người như thế nào chưa mà dám dấn thân?"
Đăng Khải khẽ ngước mắt, anh cố nhìn qua màn sương đêm để đoán tâm ý đối phương, nhưng gương mặt người chèo xuồng kia đã chìm khuất sau bóng tối của rặng dừa nước. Lòng khải dấy lên sự dè chừng, anh lựa lời đáp lại bàng giọng điệu chừng mực của một kẻ đứng ngoài lề:
"Thưa bác, tôi vốn là kẻ học trò ở viễn phương, vì sa cơ nên mới vào Nam kiếm kế sinh nhai. Việc của tôi chỉ là dạy chữ, dạy tính hiền hòa cho con trẻ, còn chuyện nhân phẩm hay việc quan trường của ông Bá hộ tôi đây cũng quả thật không rõ tường tận."
Nghe câu trả lời rào trước đón sau, người đàn ông bỗng cười rộ lên. Tiếng cười khan rền vỡ toác cả khúc rạch vắng, làm mấy con chim cú muỗi nấp trong lau sậy giật mình vỗ cánh bay loạt soạt.
"Ha ha! Đúng là cái chất giọng điệu của mấy cậu đồ Bắc Hà! Uốn ba tấc lưỡi nói nghe trơn tuột! Cậu bảo cậu chưa tường tận sao? Vậy để cái ông chèo đò mạt rệp này nói cho cậu nghe cái mớ chữ nghĩa ở cái dinh cơ mà cậu sắp chui đầu vào!"
Gã vừa khua chèo, vừa gằn từng tiếng chứa đựng sự căm hờn uất nghẹn:
"Lão Bá hộ rước cậu về, thực chất là muốn mượn cái hơi hám chữ nghĩa để che đậy cho cái mùi máu, giọt mồ hôi chua loét của tá điền đang xiên xiết ngoài đồng bãi kia kìa! Cậu có biết cái sập gụ khảm xà cừ lão ngồi chễm chệ, những hũ bạc lão cất trong buồng tối từ đâu mà ra không? Từ những mẫu ruộng khai gian, từ những xâu tiền cho vay nặng lãi trói buộc ba đời nhà người ta vào kiếp trâu ngựa! Mấy năm nay triều đình thúc thuế, lão hùa với quan phủ, ép dân nghèo bán con đợ vợ. Chữ nghĩa của cậu đem về dạy cho con cháu lão, liệu có gột sạch được cái mớ tội ác đó hay không hả?"
Những lời thô ráp như búa tạ nện thẳng vào vùng nước đêm khuya thanh vắng.
Thế nhưng, người thanh niên gầy ngồi ở đầu xuồng không hề cựa quậy, cũng chẳng mảy may lộ vẻ hoảng hốt của đám mọt sách yếu nhược.
Đăng Khải thong thả đưa tay áo chấm mồ hôi lạnh, sửa lại tư thế ngồi ngay ngắn. Khải không vội vàng giải thích, cũng chẳng bày tỏ bất bình. Ánh mắt anh nhìn thẳng vào bóng người đối diện, cất giọng trầm tĩnh, thanh thản như gió thổi qua rặng bần:
"Bác nói những điều đó... tôi e là người dân khắp cái xứ Lục tỉnh này, ngay từ đứa trẻ chăn trâu đến những người có tuổi trở lên, ai ai cũng biết."
Người đàn ông khựng tay chèo, nheo mắt nhìn gã "ráo sảnh".
Đăng Khải nói tiếp, giọng chậm rãi nhưng từng chữ buông ra đều nặng trịch:
"Ở Bắc Hà quê tôi, triều đình thúc thuế xây lăng tẩm, lý trưởng chánh tổng vác gông cùm đi lôi xềnh xệch những người nông dân gầy gò vô tội ép nộp nợ. Xương máu người bần hàn đổ xuống, đâu phải chỉ riêng miền Nam này mới có? Thiên hạ bĩ cực, chỗ nào chẳng như nhau."
Anh ngừng một chút, đảo mắt nhìn ra dòng nước lợ đặc quánh:
"Bác căm phẫn ông Bá hộ vì bao cái dạ thắt lại mỗi mùa tô lúa. Nhưng bác chửi đổng giữa đồng hoang thế này, liệu có bớt đi được một quan tiền nợ cho tá điền? Cầm cây sào đâm xuống dòng nước chỉ làm đục rạch. Muốn nhổ cái gốc cây mục, người ta phải chờ lúc triều cường."
Anh quay sang nhìn gã lái đò, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười thâm trầm:
"Bác nói đúng chữ nghĩa của tôi đúng là không đổi được chén cơm cho ai. Nhưng tôi vào cái nhà đó, bản thân không phải để làm con cún giữ nhà cho phường bóc lột, cũng chẳng phải để làm thằng ngơ ngơ ngác ngác là một gã phu chữ. Bác có cái hận của người chèo đò, tôi có cái trăn trở của kẻ sĩ. Lời cần nói chỉ có bấy nhiêu, còn lại... thời gian sẽ trả lời."
Chiếc xuồng ba lá lờ đờ trôi nổi rồi dừng hẳn. Sự tịch mịch bao trùm không gian.
Người đàn ông lặng người đi hồi lâu. Lời lẽ của gã thư sinh này không hề có sự ngông cuồng của kẻ ưa diễn thuyết lý, cũng chẳng có sự khúm núm của kẻ cầu ơn. Nó ngầm chứa một sự thấu suốt thời thế và cái uy lực thầm lặng của một kẻ sĩ đang nén mình.
Gã khịt mũi. Lần này, tiếng khịt mũi không còn vẻ khinh khỉnh nữa. Gã khua mạnh hai nhịp mái chèo.
"Cậu ăn nói nghe chối tai thiệt... nhưng cái bụng coi bộ ngột ngạt gớm! Xem chừng cái nhà tường vôi của lão Bá hộ đợt này rước nhầm một ngọn lửa vô nhà rồi."
Đăng Khải chỉ mỉm cười, rồi anh dần chìm khuất vào bóng tối, không đáp lại. Anh lại thu lại về dáng vẻ của một cậu giáo nghèo mệt mỏi vì sương lạnh.
Chiếc xuồng lướt thêm một đỗi rạch, vạch ra một lối đám lục bình trôi dạt sang hai bên. Rốt cuộc, bóng dáng của bến nước lát bằng những súc gỗ sao to bản hiện ra lờ mờ.
Ngay trên bờ dốc, rặng đèn lồng bọc lụa đỏ treo dưới mái hiên cong vút của một dinh cơ đồ sộ đang tỏa ra thứ ánh sáng đỏ quạch, trọc phú và ma mị đến rợn người.
Đó chính là dinh cơ của lão Bá hộ. Đăng Khải thu xếp lại tay nải, hít một hơi thật sâu. Đêm nay, ván cờ ẩn mình của cuộc đời anh chính thức khai cuộc.
Bình luận
Chi Bibi
Góp xíu của ít lòng vòng=))