Chương 01: Lạc Đường
Cái oi nồng của đất trời miền Nam vào lối tháng năm, tháng sáu thật khiến người ta dễ sanh lòng bực dọc.
Trời đứng gió.
Mấy tàu lá chuối xiêm sau hè héo rũ, xụi lơ, bất động như những bàn tay khô gầy chắp lại cầu mưa.
Cái nóng hầm hập từ đất thịt bốc lên sau trận mưa rào ban chiều làm cho không khí đặc quánh lại, quyện với mùi sình lầy và cỏ mục, đến thở cũng nghẹn ứ nơi cổ họng.
Đăng Khải bước đi trên con đường đất đỏ loang lổ những vũng nước mưa tù đọng, bọt bong bóng nước phập phồng mãi không tan.
Đôi giày vải Bắc Kinh vốn dĩ thanh sạch, đế giày được lót nhiều lớp vải trắng muốt nay đã lấm lem bùn sình, bết chặt vào bàn chân đau nhức.
Anh dừng lại bên một gốc cây mù u già, đưa tay quệt mồ hôi nhễ nhại trên trán, lòng dạ không khỏi dấy lên một nỗi chán chường, lạc lõng vô hạn.
Không gian xung quanh mênh mông bát ngàn, chỉ có tiếng ếch nhái uôm uôm vang lên từ các bờ ruộng và tiếng muỗi vo ve như sáo thổi bên tai.
Nắng quái chiều hôm đổ dài trên những ngọn dừa nước, hắt lên một màu vàng vọt, vắng lặng đến rợn người.
Mới ngày hôm kia thôi, anh còn ngồi trên chiếc tàu khói rời bến sông Hồng, ôm theo cái mộng văn chương và một rương sách nhỏ để vào Nam nhận việc gõ đầu trẻ.
Giữa thời buổi triều chính ngày càng siết chặt khoa cử, chốn kinh kỳ và các tỉnh phương Bắc u uất một màu xám xịt.
Mỗi lần nhắm mắt lại, Đăng Khải vẫn như nghe tiếng trống thúc thuế dồn dập vang lên khắp đầu làng ngõ xóm quê nhà
Từ ngày triều đình ban lệnh trưng thu thêm thuế điền, thuế thân để dồn tiền về xây dựng lăng tẩm ở đất Thừa Thiên, lòng dân khắp nơi oán thán.
Những gã lý trưởng, chánh tổng hung hãn tay cầm roi mây, xông vào từng nhà tranh vách đất, lôi sềnh xệch những người nông dân gầy gò không đủ vài quan tiền nộp nợ.
Tiếng khóc than của đàn bà con trẻ quyện vào cái không khí tang thương của một triều đại đang bên bờ vực suy tàn.
Sĩ phu Bắc Hà lúc bấy giờ phân hóa đến thảm hại.
Kẻ có chút thực tài nhưng thiếu liêm sỉ thì bon chen nơi cửa quyền, khúm núm trước các quan trường nha môn để kiếm chút bổng lộc tàn dư; kẻ giữ chút khí tiết thì u uất tìm đường tị thế, chôn vùi đời mình trong men rượu hoặc những am đường hẻo lánh, chẳng còn ai mặn mà với kinh sử thánh hiền.
Gia đình Đăng Khải vốn là một nhà nho nghèo, nhưng tai họa ập đến khi người cậu đồng môn của anh - một bậc túc nho nổi tiếng chính trực dâng sớ can gián việc lạm dụng sức dân xây lăng tẩm.
Bản sớ kết tội phản nghịch chưa kịp thấu đến thiên đường thì vị túc nho ấy đã bị tống giam, gia sản tịch thu, học trò tán loạn.
Bản thân anh vì sinh kế, nhưng phần lớn là vì muốn trốn chạy cái không khí chính trị ngột ngạt, nhiễu nhương ấy, nên khi nghe người ta bảo đất Lục tỉnh trù phú, người dân bản xứ lại trọng chữ nghĩa phương xa, anh liền cắn răng gật đầu, một mực dấn thân vào nơi đất lạ nước độc này.
Con tàu khói sau nhiều ngày đêm gầm rú giữa sóng to gió lớn ngoài đại hải rốt cuộc cũng thả neo bên bến sông Sài Gòn. Từ nơi phồn hoa đô hội nửa Tây nửa Ta ấy, Đăng Khải lại phải lụy thêm một chuyến ghe lườn, theo những con rạch ngoằn ngoèo như ruột rết để tìm về cái tổng hẻo lánh này.
Người ta giới thiệu anh cho gia đình ông Bá hộ - một cái tên mà chỉ cần nhắc đến ở các sạp chợ ven sông, người dân quê đã vội cúi đầu, im bặt.
Lão Bá hộ tuy chỉ nắm một chức việc địa phương, cai quản vùng đồng đất heo hút cách xa kinh kỳ Thừa Thiên hàng mấy ngày đường, nhưng cái uy quyền ngầm của lão thì đến cả quan tri phủ, tri huyện sở tại cũng phải kiêng dè vài phần.
Lão giàu lên nhờ những chuyến ghe bầu chở lúa ra biển bán cho khách trú, nhờ việc cấu kết với đám nha lại phủ đường để khai gian mẫu ruộng, vừa nuốt trọn tiền cứu tế vừa tận thu tô thuế của tá điền cho vào cái hũ chìm hũ nổi của riêng mình.
Nghe đâu, dưới trướng lão có cả mấy trăm mẫu ruộng thẳng cánh cò bay, tá điền làm lụng bán mạng quanh năm suốt tháng nhưng đến mùa gặt vẫn phải chạy bo từng đấu gạo lức để ăn đong.
Thế nhưng, kẻ lắm tiền thì lại khát danh. Lão Bá hộ tuy chữ nghĩa bẻ đôi không hết, nói năng cục cằn nhưng lại đặc biệt thích phô trương thanh thế cho bằng anh bằng chị.
Lão muốn tìm bằng được một cậu giáo Bắc Hà chính gốc - cái nơi mà lão cho là cái nôi của chữ nghĩa thánh hiền, giọng nói phải thanh tao không lẫn tạp âm địa phương, chữ viết phải vuông vắn như phượng múa rồng bay để về dạy dỗ cho mấy đứa con thơ và đám cháu trong nhà. Lão bảo với người ăn kẻ ở trong dinh cơ rằng:
"Tao bỏ tiền ra thuê cậu Bắc về dạy, là để cái nhà này có cái mùi chữ nghĩa, cho thiên hạ biết dòng dõi nhà tao cũng là danh gia vọng tộc, chứ chẳng phải thứ xôi thịt chỉ biết có tiền!".
Thế nhưng, thực tế đối với một gã thư sinh chưa từng rời khỏi lũy tre làng như Đăng Khải lại chẳng như thơ như họa. Đất Nam Kỳ rộng thênh thang, bờ bến mênh mông, sông rạch chằng chịt như mạng nhện. Đi đứng không quen, tiếng nói người bản xứ thì líu lo, từ ngữ địa phương lại có nhiều chỗ lạ lẫm, khiến một gã ráo sảnh - cái từ mà người ta hay gọi mấy tên phương Bắc mới vào - anh cứ như kẻ điếc đi xem hát.
Ngay buổi trưa đầu tiên đặt chân đến dinh cơ của lão Bá hộ, sau khi chào hỏi và nhận gian phòng ngủ nhỏ ở dãy nhà ngang dành cho người làm, Đăng Khải đã cảm thấy lồng ngực mình ngột ngạt đến khó tả.
Cái không khí bề thế nhưng lạnh lẽo, những ánh mắt dò xét của đám gia nhân, và cả cái nhìn nửa ban ơn nửa khinh khỉnh của lão chủ nhà khiến anh như một sinh vật lạ bị ném vào giữa một thế giới không thuộc về mình.
Vì muốn tìm mua mấy món đồ tùy thân và ít mực tàu giấy bản để chuẩn bị cho buổi khai tâm dạy học vào ngày mai, anh đã xin phép quản gia ra chợ huyện từ lúc xế chiều.
Ai dè, đường quê quanh co, ruộng lúa mênh mông bạt ngàn không một bóng đèn, bóng trăng thì bị mây đen che khuất. Lúc đi thì hăng hái theo lời chỉ đường đại khái của người trong nhà, lúc về thì quáng quàng khi trời sập tối, anh rẽ đại vào một lối mòn rồi lạc lối giữa đồng hoang lúc nào chẳng hay.
"Trời đất mịt mùng thế này, biết lối nào mà về đây?"
Đăng Khải lẩm bẩm, thanh âm run rẩy lọt thỏm giữa tiếng cuốc kêu đêm khắc khoải từ bụi rậm bên đường. Cái lạnh của sương đêm bắt đầu ngấm vào lớp áo sờn, đối lập hoàn toàn với cái nóng hầm hập bốc lên từ mặt đất thịt ban chiều. Anh khát nước đến bỏng rát cả cổ họng, hai chân mỏi nhừ, tưởng chừng như chỉ cần bước thêm một bước nữa là sẽ ngã quỵ xuống vũng sình lầy trước mặt.
Nỗi cô độc độc địa của xứ hoang sơ dường như muốn nuốt chửng lấy gã thư sinh gầy gò.
Bóng tối ở vùng đất này không giống như bóng tối êm đềm dưới bóng tre làng miền Bắc. Nó đen đặc, mênh mông và đầy rẫy những âm thanh quái dị của vùng đất mới khai khẩn. Dưới lớp bùn nước loang lổ, thỉnh thoảng lại có tiếng động sột soạt của loài bò sát bò ngang qua, hay tiếng cá quẫy đuôi đột ngột vang lên phá tan không gian tĩnh mịch khiến Đăng Khải giật mình, tim đập loạn nhịp.
Đôi giày vải Bắc Kinh giờ đây đã nặng trĩu vì ngấm nước sình, mỗi lần nhấc chân lên là một lần lớp bùn quánh chặt lại như muốn kéo ghì anh xuống đất.
Anh cố nhìn dáo dác xung quanh, tìm kiếm một đốm lửa sưởi ấm từ một mái nhà tranh, hay ít nhất là một bóng trâu nằm gặm cỏ để định vị hướng đi, nhưng vô ích. Bốn bề chỉ có những rặng dừa nước đen sẫm đứng im lìm như những bóng ma khổng lồ canh giữ vùng đầm lầy. Gió đêm bắt đầu thổi mạnh hơn qua các bờ ruộng, mang theo vị mặn mòi của nước lợ và mùi tanh nồng của bùn đất lâu ngày không gặp nắng. Cái lạnh thấm qua da thịt, khiến hai hàm răng anh đánh vào nhau lập cập.
Lúc này, nỗi sợ hãi thực sự mới bắt đầu len lỏi vào tâm trí. Chết đói, chết khát, hay làm mồi cho rắn rết giữa nơi đồng không mông quạnh này? Ý nghĩ ấy khiến một kẻ vốn chỉ quen với ánh đèn dầu và những trang sách thánh hiền như anh cảm thấy tuyệt vọng đến tột cùng.
Giữa lúc đôi chân đã rệu rã không còn chút cảm giác, Đăng Khải bỗng nghe thấy từ phía xa, lẫn trong tiếng gió xào xạc của rặng ô rô, có tiếng "bùm... bũm" đều đặn vang lên. Đó không phải tiếng cá quẫy, cũng không phải tiếng ếch nhái, mà là nhịp điệu của một mái chèo khua nước.
Anh nín thở, căng mắt nhìn về phía con rạch nhỏ khuất sau những bụi cây dại. Một ánh đuốc lá dừa lập lòe xuất hiện, xé toạc màn đêm dày đặc, hắt thứ ánh sáng đỏ rực xuống mặt nước loang loáng sình lầy.
Trên chiếc xuồng ba lá nhỏ, một bóng người đang thong thả khua mái chèo, tiến về phía gốc cây mù u già nơi anh đang đứng.
"Ai đứng bên bờ đó vậy nà? Đêm hôm tăm tối sao lại đứng chịu sương chịu muỗi ở bụi rậm?"
Một giọng nói trầm rề, mang đậm chất giọng thổ âm trầm bổng của người miền dưới vang lên. Âm thanh ấy đối
với Đăng Khải lúc này chẳng khác nào tiếng chuông gió cứu mạng giữa chốn u minh.