Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Duyên Sinh Duyên Diệt

CHƯƠNG 1: Vị Thầy Nho Ngơ Ngác

CHƯƠNG1: Vị Thầy Nho Ngơ Ngác.

Cái oi nồng của đất trời miền Nam vào lối tháng bảy, tháng tám thật khiến người ta dễ sanh lòng bực dọc.

Trời đứng gió. Mấy tàu lá chuối xiêm sau hè héo rũ, xụi lơ, bất động như những bàn tay khô gầy chắp lại cầu mưa. Cái nóng hầm hập từ đất thịt bốc lên sau trận mưa rào ban chiều làm cho không khí đặc quánh lại, quyện với mùi sình lầy và cỏ mục, đến thở cũng nghẹn ứ nơi cổ họng.

Đăng Khải bước đi trên con đường đất đỏ loang lổ những vũng nước mưa tù đọng, bọt bong bóng phập phồng mãi không tan.

Đôi giày vải Bắc Kinh vốn dĩ thanh sạch, đế lót nhiều lớp vải trắng muốt nay đã lấm lem bùn sình, bết chặt vào bàn chân đau nhức. Anh dừng lại bên gốc cây mù u già, đưa tay quệt mồ hôi nhễ nhại trên trán, lòng dạ không khỏi dấy lên một nỗi chán chường, lạc lõng vô hạn.

Xung quanh mênh mông bát ngàn, chỉ có tiếng ếch nhái uôm uôm từ bờ ruộng và tiếng muỗi vo ve như sáo thổi bên tai. Nắng quái chiều hôm đổ dài trên ngọn dừa nước, hắt lên màu vàng vọt, vắng lặng đến rợn người.

 

Mới vài ngày trước thôi, anh còn ngồi trên chiếc tàu khói rời bến sông Hồng, ôm theo cái mộng văn chương và một rương sách nhỏ để vào Nam nhận việc gõ đầu trẻ.

Giữa thời buổi triều chính ngày càng siết chặt khoa cử, chốn kinh kỳ và các tỉnh phương Bắc u uất một màu xám xịt. Mỗi lần nhắm mắt lại, Đăng Khải vẫn như nghe tiếng trống thúc thuế dồn dập vang lên khắp đầu làng ngõ xóm quê nhà. Từ ngày triều đình ban lệnh trưng thu thêm thuế điền, thuế thân để dồn tiền về xây dựng lăng tẩm ở đất Thừa Thiên, lòng dân khắp nơi oán thán.

Những gã lý trưởng, chánh tổng hung hãn tay cầm roi mây, xông vào từng nhà tranh vách đất, lôi sềnh xệch những người nông dân gầy gò không đủ vài quan tiền nộp nợ. Tiếng khóc than của đàn bà con trẻ quyện vào cái không khí tang thương của một triều đại đang bên bờ vực suy tàn.

Sĩ phu Bắc Hà lúc bấy giờ phân hóa đến thảm hại. Kẻ có chút thực tài nhưng thiếu liêm sỉ thì bon chen nơi cửa quyền, khúm núm trước các quan trường nha môn để kiếm chút bổng lộc tàn dư; kẻ giữ chút khí tiết thì u uất tìm đường tị thế, chôn vùi đời mình trong men rượu hoặc những am đường hẻo lánh.

Đăng Khải vốn là một nhà nho có tiếng trong vùng, tính tình điềm tĩnh, lưng luôn thẳng và chưa bao giờ biết cúi đầu trước cường quyền. Nhưng tai họa ập đến khi người cậu đồng môn của anh - một bậc túc nho nổi tiếng chính trực - dâng sớ can gián việc lạm dụng sức dân xây lăng tẩm. Bản sớ kết tội phản nghịch chưa kịp thấu đến thiên đường thì vị túc nho ấy đã bị tống giam, gia sản tịch thu, học trò tán loạn.

Bản thân anh vì sinh kế, nhưng phần lớn là vì muốn trốn chạy cái không khí chính trị ngột ngạt ấy, nên khi nghe người ta bảo đất Lục tỉnh trù phú, người dân bản xứ lại trọng chữ nghĩa phương xa, anh liền gật đầu dấn thân vào nơi đất lạ này.

Con tàu khói sau nhiều ngày đêm gầm rú ngoài đại hải rốt cuộc cũng thả neo bên bến sông Sài Gòn. Từ nơi phồn hoa đô hội nửa Tây nửa Ta ấy, Đăng Khải lại lụy thêm một chuyến ghe lườn, theo những con rạch ngoằn ngoèo như ruột rết để tìm về cái tổng hẻo lánh này.

Người ta giới thiệu anh cho gia đình ông Bá hộ - một cái tên mà chỉ cần nhắc đến ở các sạp chợ ven sông, người dân quê đã vội cúi đầu, im bặt. Lão Bá hộ tuy chỉ nắm một chức việc địa phương, nhưng cái uy quyền ngầm của lão thì đến cả quan tri phủ, tri huyện sở tại cũng phải kiêng dè vài phần. Lão giàu lên nhờ những chuyến ghe bầu chở lúa ra biển bán cho khách trú, nhờ việc cấu kết với đám nha lại phủ đường để khai gian mẫu ruộng, vừa nuốt trọn tiền cứu tế vừa tận thu tô thuế của tá điền cho vào cái hũ chìm hũ nổi của riêng mình.

Thế nhưng, kẻ lắm tiền thì lại khát danh. Lão Bá hộ chữ nghĩa bẻ đôi không hết nhưng lại đặc biệt thích phô trương thanh thế. Lão muốn tìm bằng được một cậu giáo Bắc Hà có tiếng — cái nơi mà lão cho là cái nôi của chữ nghĩa thánh hiền, giọng nói phải thanh tao, chữ viết phải vuông vắn để về dạy dỗ cho mấy đứa con thơ và đám cháu trong nhà. Lão bảo với người ăn kẻ ở trong dinh cơ rằng:

"Tao bỏ tiền ra thuê cậu Bắc về dạy, là để cái nhà này có cái mùi chữ nghĩa, cho thiên hạ biết dòng dõi nhà tao cũng là danh gia vọng tộc, chứ chẳng phải thứ xôi thịt chỉ biết có tiền!"

Ngay buổi trưa đầu tiên đặt chân đến dinh cơ Bá hộ, Đăng Khải đã cảm thấy lồng ngực mình ngột ngạt. Cái không khí bề thế nhưng lạnh lẽo, những ánh mắt dò xét của đám gia nhân, và cả cái nhìn nửa ban ơn nửa khinh khỉnh của lão chủ nhà làm anh chướng mắt.

Muốn tìm mua ít mực tàu giấy bản chuẩn bị cho buổi khai tâm ngày mai, anh xin phép ra chợ huyện từ xế chiều. Đã quen cái tính tự trọng của bậc sĩ phu, khi tên quản gia lề mề định cắt một thằng nhỏ gia nhân đi theo "xách đồ hầu thầy", Đăng Khải chỉ phẩy tay từ chối, buông một câu lạnh nhạt bảo không cần phiền phức.

Ai ngờ, anh lại đánh giá thấp cái địa hình đầm lầy Nam Kỳ này. Đường quê quanh co, ruộng lúa mênh mông bạt ngàn không một bóng đèn. Lúc đi thì hăng hái, lúc về trời sập tối quá nhanh, bóng trăng bị mây đen che khuất. Anh tự tin rẽ đại vào một lối mòn rồi lạc lối giữa đồng hoang lúc nào chẳng hay.

"Trời đất mịt mùng thế này, biết lối nào mà về đây?"

Đăng Khải lẩm bẩm, thanh âm run rẩy lọt thòm thèm giữa tiếng cuốc kêu đêm khắc khoải từ bụi rậm. Cái lạnh của sương đêm bắt đầu ngấm vào lớp áo sờn, đối lập hoàn toàn với cái nóng hầm hập bốc lên từ mặt đất ban chiều. Anh khát nước đến bỏng rát cổ họng, hai chân mỏi nhừ, tưởng chừng như chỉ cần bước thêm một bước nữa là ngã quỵ.

Bóng tối ở vùng đất này không giống như bóng tối êm đềm dưới bóng tre làng miền Bắc. Nó đen đặc, mênh mông và đầy rẫy những âm thanh quái dị của vùng đất mới khai khẩn. Dưới lớp bùn nước loang lổ, thỉnh thoại lại có tiếng động sột soạt của loài bò sát bò ngang qua, hay tiếng cá quẫy đuôi đột ngột phá tan không gian tĩnh mịch khiến Đăng Khải giật mình, tim đập loạn nhịp. Đôi giày vải Bắc Kinh giờ đây đã nặng trĩu vì ngấm nước sình, mỗi lần nhấc chân lên là một lần lớp bùn quánh chặt lại như muốn kéo ghì anh xuống đất.

Gió đêm bắt đầu thổi mạnh hơn qua các bờ ruộng, mang theo vị mặn mòi của nước lợ và mùi tanh nồng của bùn đất. Cái lạnh thấm qua da thịt làm hai hàm răng anh đánh vào nhau lập cập. Cái kiêu hãnh của một nhà nho có tiếng lúc này đành phải nhường chỗ cho sự bất lực trước thiên nhiên hoang sơ.

Giữa lúc đôi chân đã rệu rã, Đăng Khải bỗng nghe thấy từ phía xa, lẫn trong tiếng gió xào xạc của rặng ô rô, có tiếng "bùm... bũm" đều đặn vang lên.

Đó là nhịp điệu của một mái chèo khua nước.

Anh nín thở, căng mắt nhìn về phía con rạch nhỏ khuất sau những bụi cây dại. Một ánh đuốc lá dừa lập lòe xuất hiện, xé toạc màn đêm dày đặc, hắt thứ ánh sáng đỏ rực xuống mặt nước loang loáng sình lầy.

Trên chiếc xuồng ba lá nhỏ, một bóng người đang thong thả khua mái chèo, tiến về phía gốc cây mù u già nơi anh đang đứng.

"Ai đứng bên bờ đó vậy nà? Đêm hôm tăm tối sao lại đứng chịu sương chịu muỗi ở bụi rậm?"

Một giọng nói trầm rề, mang đậm chất giọng thổ âm trầm bổng của người miền dưới vang lên. Âm thanh ấy đối với Đăng Khải lúc này chẳng khác nào tiếng chuông cứu mạng mình giữa chốn u minh.

Bình luận đoạn văn

Chi Bibi

Chi Bibi

Đừng Drop nha 

Vân chii

Vân chii

Trời má hay vcl sẽ ủng hộ nhiệt tình 👍

Tuanh

Tuanh

Má ơi coi kìa 

Bình luận

Chi Bibi

Chi Bibi

Đừng Drop nha 

Viaginn

Viaginn

OK duyệt 

Vân chii

Vân chii

Trời má hay vcl sẽ ủng hộ nhiệt tình 👍

Tuanh

Tuanh

Má ơi coi kìa 

Bánh tráng trộn

Bánh tráng trộn

.

Vân chii

Vân chii

Trời ơi cuối cùng cũng bão chươnggg!!!

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px