Chương 31: Bóng nhạn vút bay liệu có bặt tăm
Nhài Thanh tròn xoe mắt nhìn. Con dở ngơ ngác, có thật thế sao, có mùi lắm sao? Quái lạ, cớ sao cái mũi thính nhạy của cô hằng ngày vẫn ngửi thấy mùi khoai nướng mà lúc này lại tuyệt nhiên không cảm thấy gì cả. Cô dáo dác nhìn quanh, ngó lên nhìn xuống, bĩu môi đáp: "Tao có ngửi thấy cái mùi gì đâu nào! Hay là tại mày cứ cả nghĩ quá."
Thị Huê nhíu mày, quả quyết: "Ôi, thưa Thanh... tôi nào có phải kẻ ưa thêu dệt chuyện không thành có. Kìa, cái mùi ấy cứ quẩn quanh ngay đầu mũi đấy thôi. Hay là, cái mũi của Thanh điếc mất rồi?"
"Ô hay, cái con này!" Thanh xí lên một tiếng. Nhưng chỉ một chớp mắt, dở đã nghĩ tới thứ gì đó.
"Thế ngộ nhỡ tao làm cho cái thứ mùi dở hơi này bay đi sạch sành sanh, mày có chịu ở lại đây không?"
Thị Huê nghe Thanh tỏ ý, lòng chợt thắt lại rồi dãn ra một nụ cười mỉm đầy u uẩn. Nàng còn chốn nào để đi, còn có ngả nào để bước? Nàng không còn ai cả, nàng chỉ còn có Thanh cùng với cái chuồng bò làm nơi nương náu. Tuy vậy, nàng vẫn cứ thèm sống. Nàng nào đã muốn lìa đời...
"Vâng, có lẽ là như vậy đấy ạ. Ngồi trên đống rơm khô ráo, lót lá êm ái thế này... xem chừng còn dễ chịu hơn cái giường tre ọp ẹp cứ rung lên."
Nhài Thanh khoái chí lắm. Cô hất hàm đầy tự mãn.
"Thì lại chẳng thế! Mày phải biết cái công tao lặn lội đưa được mày về đến tận chốn này chứ. Thôi, mày cứ việc yên tâm ngồi đấy. Tao đây có phép thần thông biến hóa, chỉ một lát nữa thôi là tao thổi bay sạch cái mùi khó ngửi này đi cho mày vừa lòng."
Trời đã bảng lảng về cuối chiều. Gió thổi qua bụi rậm, đưa theo cái mùi hôi hám, thum thủm, cứ quẩn quanh nơi đầu mũi. Thị Huê đanh mặt, hơi mím môi.
"Thôi... Thanh lại giở giọng gạt người. Đến ông giời còn chẳng xua nổi cái xú khí này, huống chi là Thanh."
Khoé miệng Thanh nhếch lên một nụ cười ngạo nghễ. Dở đấm đấm ngực: "Ấy thế mà tao lại liệu định được đấy. Có điều, mày phải chịu khó ngồi ở đây, đợi tao một lát..."
Dứt lời, Thanh dợm bước đứng dậy. Tiếng vạt áo vải thô sột soạt cọ vào đám rơm khô khốc nghe xao xác cả. Huê giật thót mình. Trong bóng tối, nỗi sợ hãi ập đến nhanh như nước lũ, khiến mặt nàng biến sắc, cắt không còn giọt máu. Hai con mắt nàng mở to, thất thần dáo dác, rồi chẳng kịp nghĩ suy, nàng luống cuống quờ tay ra phía trước. Bàn tay thon dài, các đầu ngón tay run rẩy bấu đại vào khoảng không hư vô. May sao, đầu ngón tay chạm phải lớp vải, nàng liền vội vã túm lấy, lần mò siết chặt lấy cổ tay Thanh.
"Thanh định bỏ đi đâu?"
"Đi lấy cái bảo vật gia truyền, về tao hô biến một phát là cái mùi uế khí này bay sạch sành sanh."
Thị Huê nuốt khan một cái, nước bọt nghẹn ứ nơi cổ họng đắng ngắt. Nàng lắc đầu quầy quậy.
"Thanh định để tôi một thân một mình trơ trọi ở cái xó xỉnh hoang vu này ư? Nhỡ có người nào qua đây, họ trông thấy tôi thì khốn ba đời nhà tôi."
Thanh cúi đầu nhìn xuống bàn tay Huê. Những ngón tay mảnh dẻ đang bấu chặt lấy da thịt mình đến hằn cả vết đỏ. Thanh thở dài, giọng dịu đi đôi chút nhưng vẫn ra chiều sốt ruột: "Khéo vẽ chuyện! Tầm này người ta lo chui vào xó bếp nhóm lửa thổi cơm, hơi đâu mà vạ vật ngoài đường. Cái lối mòn này ban ngày thì đông kẻ buôn thúng bán mẹt đi qua, chứ chạng vạng tối là tịnh không một bóng người! Ma trêu quỷ hờn, tối om om ai dám bén mảng."
Thấy Huê vẫn trân trân nhìn mình, Thanh lại bồi thêm: "Vả lại, tao đi loáng một cái là về ngay. Chân sáo chạy vèo một mạch qua gò đất kia là tới."
Thị Huê vẫn không buông. Ngón tay nàng bấm sâu vào thớ thịt tê dại của Thanh, người cứ rụt lại. Dở thấy đau, nhưng dở không nói.
"Thanh ơi... tôi sợ lắm..."
Thị Huê bỗng nhiên run lên bần bật. Trông thấy, dở thoáng nhăn mày. Cô khom mình, khụy người ngồi bệt xuống ngay sát sạt bên nàng. Chỉ trong một cái trở tay gọn ghẽ, dở đã tóm chặt lấy hai bàn tay của Huê, ôm trọn vào lòng bàn tay ấm nóng của mình.
Cái sợ của Thị Huê, xét cho cùng, chính là nỗi sợ cái giống người. Dưới chân trời rách này, người qua kẻ lại đối xử với nhau miếng ăn còn chẳng ra gì, thì tư cách con người lại càng là một thứ xa xỉ. Giữa chốn đồng không mông quạnh, trời đất nhập nhoạng tăm tối, ranh giới giữa một đấng nam nhi đại trượng phu với một con thú hoang chỉ cách nhau bằng một cái chớp mắt, một ý nghĩ xằng bậy xẹt qua. Nàng sợ nhỡ đâu có một gã đàn ông nào đó đi qua đây. Một gã người ta vẫn gọi là người, vẫn biết đi bằng hai chân và biết nói tiếng người, nhưng phần người đã bị cái nghèo cái đói hay hũ rượu vối làm cho thối rữa từ lâu. Thấy một thân gái đơn chiếc, trơ trọi vứt bên vệ đường, liệu gã có mảy may động lòng trắc ẩn? Hay là cái bản năng giống đực thô lậu, độc ác sẽ trỗi dậy, thúc đẩy gã lao vào cắn xé, chà đạp một kiếp người khốn khổ để thoả mãn cái thú tính nhất thời. Thế rồi sáng bét mắt ra, khi cái mặt trời đỏ lựng lù lù nhô lên ở đằng đông, gã đàn ông ấy lại nhởn nhơ vục mặt vào chậu nước, phủi phủi mấy cái bụi bặm bám trên áo, rồi thản nhiên bước ra đời. Gã lại sửa cái bộ mặt đạo mạo để làm một ông thầy đồ đáng kính, một gã hàng xóm tử tế, hiền như đất. Gã vờ như chẳng có chuyện gì xảy ra, như chưa từng có một kiếp người bị gã xéo quằn xéo quại dưới gót chân dơ dáy ấy.
Cái vẻ rúm ró, nhớn nhác của Huê làm dở bỗng thấy động lòng. Dở hiểu ngay cái nỗi sợ đang cựa quậy trong đầu kia là cái gì rồi. Nhưng giờ dắt díu Huê đi thì hỏng việc. Dở đi tìm ăn, đi rình mò, lỡ có kẻ phát điên, họ vác gộc tre ra đuổi, họ chửi bới thì lấy chân đâu mà chạy? Đèo bồng thêm một đứa mù, cõng trên lưng thì nặng trĩu, chạy làm sao thoát được!
Thanh đưa mắt nhìn quanh, dừng lại sau cái chuồng bò lụp sụp, tồi tàn, nghĩ ngợi một lát rồi bảo: "Thế mày nấp vào cái bụi chuối kia được không? Nó khuất sau chuồng bò ấy, rậm rạp thế kia, chui lọt vào trong là kín như bưng."
"Tôi... tôi..." Thị Huê ấp úng. Năm ngón tay nàng từ từ lỏng dần, rồi buông thõng khỏi cổ tay Thanh. Phải mất một lúc lâu, cái đầu nhỏ mới hơi gật gù một cái đầy cam chịu. Nàng tuy mù lòa nhưng cái trực giác của nàng biết mình là một gánh nặng. Đã ăn bám, lại còn lòa dở, đi theo chỉ làm vướng chân vướng tay, làm khổ lây cho người ta.
Thấy Huê đồng ý, dở liền nhanh nhảu bước vòng ra phía bụi chuối. Dở vạch lá, dòm trước ngó sau một hồi xem có con rết, con rắn nào không. Rồi bằng đôi bàn tay chai sần, dở lom khom nhặt nhạnh mấy bẹ lá chuối khô xơ xác, rải xuống nền đất ẩm ướt cho Huê có chỗ đặt mông đỡ lạnh. Đoạn, dở dắt cái dáng đi lóng ngóng của Huê đến tận nơi, đỡ nàng ngồi xuống. Chưa yên tâm, dở lại đưa tay kéo kéo mấy tàu lá chuối tươi, bẻ gãy gập xuống để rủ che kín mít lấy thân hình gầy gò của Huê, tạo thành một cái ổ nhỏ tối tăm.
Thấy nàng ngồi co rụm một góc, người vẫn run lên bần bật như cầy sấy, Thanh bèn đứng bên ngoài, cất cái giọng khàn khàn cười ha hả, nói vài ba câu bông đùa, chọc ghẹo. Dở ví Huê ngồi đây trông chẳng khác gì con ếch vùi mình trong hốc bùn đợi mưa rào, hay như bà hoàng ngồi trong kiệu rủ màn che gấm vóc. Cái giọng điệu dở hơi, bỗ bã ấy thế mà lại linh nghiệm. Huê nghe đến đoạn Thanh tả cái mặt mình lúc này nhếch nhác, tóc tai rối xù mà đòi làm bà hoàng thì không kìm được, khẽ phì cười một cái. Chỉ chờ có thế, khi cái cười của Huê vừa kịp làm giãn đi những nếp nhăn sợ hãi trên khuôn mặt non nớt, Thanh liền xoay người, ba chân bốn cẳng chạy nhanh đi. Đôi guốc dây chuối của dở nện xuống nền đất ẩm, tiếng bước chân xa dần, xa dần, rồi mất hút vào bóng chiều chạng vạng.
Mọi thứ xung quanh thoạt nhiên im bặt, bốn bề chỉ còn lại một mình Thị Huê ngồi bó gối dưới những tàu chuối xào xạc. Nàng run rẩy, cúi đầu, đôi tay ngọc quơ quàng siết chặt lấy đám lá khô dưới chân. Huê mím môi, đôi mắt chẳng biết tự lúc nào đã hoen hoen đỏ, chực trào muốn khóc. Thanh đã đi rồi. Liệu người đi có còn ngoảnh lại, có còn nhớ lối mòn mà tìm về. Hay là, bóng nhạn vút bay rồi cũng bặt tăm, một đi là biền biệt muôn đời, bỏ lại nơi đây một mảnh hồn sầu héo hắt, mòn mỏi trông chờ...
Con dở chạy vèo vèo trên con đường mòn gập ghềnh, gió chiều thổi lồng lộng, quất mạnh vào da thịt mát rượi, nhưng dở chẳng hề để tâm đến những bụi tre, bờ rào cứ lùi lũi trôi tuột lại phía sau lưng. Người ta bảo Thanh dở, Thanh điên, suốt ngày lang thang vạ vật đầu đường xó chợ. Nhưng Thanh thấy mình chẳng khổ, cũng chẳng cực lắm đâu. Cái thân dở trơ trọi như cây cỏ dại, nắng mưa dãi dầu bấy nay đã quen, quăng đâu cũng sống được, dẫu có đói lòng một tí thì ngủ một giấc là trôi tuột đi hết. Thế nhưng lúc này, trong cái đầu óc vốn dĩ lúc nhớ lúc quên của dở, hình ảnh Thị Huê đang co rúm dưới bụi chuối sau chuồng bò cứ hiện lên rõ mồn một. Thị Huê mới thật là tội tình! Huê vừa mù lòa, vừa nhút nhát, gặp tí biến động là run rẩy. Cái thân ấy mà quăng ra giữa đời không có ai nâng đỡ thì chỉ có nước rữa nát ra như bùn đất mà thôi. Nghĩ thế, bước chân của con dở lại càng thêm hối hả, nhanh thoăn thoắt.
Thanh nói đi lấy bảo bối dẹp uế khí, hóa ra là mò đến nhà dì Sâm. Vừa chạy xộc qua cái ngõ tre thưa thớt, Thanh đã trông thấy dì Sâm cùng lũ con thơ đang quây quần nơi hiên đất nện phẳng phiu trước nhà. Cái khoảng sân nhỏ lúc này ngập tràn hơi ấm gia đình dẫu còn đầy vẻ túng quẫn. Đứa nào đứa nấy, mặt mũi lem luốc những nhọ nồi và đất cát, đang nhao nhao, ríu rít như bầy chim non vây quanh một cái nồi đất bé tí tẹo. Trong nồi, thứ đường sền sệt đang sôi lục bục, tỏa ra cái mùi thơm ngọt lịm, ngào ngạt.
Trông thấy bóng dáng cao gầy, dở dở ương ương của Thanh vừa ló đầu vào ngõ, mấy đứa trẻ đang thèm thuồng nhìn nồi mật bỗng reo hò ầm ĩ lên:
"A, cô dở! Cô dở ghé nhà ta rồi chúng mày ơi!"
Thanh cười ha hả, bước sầm sập đến gần. Dở cúi người bế bổng ngay thằng Chọi, đứa con còi cọc của dì Sâm lên tay. Dở xoay tít nó một vòng, miệng rộng ngoác ra cười hề hề, gật đầu chào dì Sâm rồi cao giọng trêu đùa: "Cô dở đến đây bắt thằng Chọi đi đây! Thằng Chọi mà còn lười ăn rồi đổ ốm nữa là chết đòn với cô dở nhé!"
Dì Sâm lúc này đang cặm cụi, lom khom bên cái nong tre. Trên nong đã trải sẵn những mảnh lá chuối tươi xanh ngắt, mỡ màng. Bằng đôi bàn tay khéo léo đầy những vết nứt nẻ, dì múc từng muỗng kẹo đường nóng hổi, dẻo quánh trải đều ra lá. Sau đó, dì nhanh tay đặt vào giữa mỗi khoanh kẹo một cái que củi nhỏ xíu, tước tạm từ cành tre khô để làm tay cầm cho lũ trẻ. Dì chia cái nồi mật tí tẹo ra làm chục cái kẹo kéo nhỏ, rồi ghé miệng thổi phù phù cho thứ kẹo ngọt lịm ấy mau nguội. Nghe tiếng Thanh cười nói om sòm, dì Sâm ngước khuôn mặt rám nắng lên, nheo mắt nhìn.
"Làm sao? Lại đói bùng bục cái dạ lên rồi mò sang đây kiếm cái ăn hả con dở?"
Thanh lắc đầu, cái đầu dở hơi bím tóc rối bù xù bay bay trong gió. Tuy rằng từ sáng tới giờ dở chưa có giọt nước, hạt cơm bát cám nào vào bụng, bụng đã xẹp lép và trống rỗng đến cồn cào, nhưng cái cơn đói quặn thắt ban chiều dường như cũng đã qua đi từ lúc nào rồi. Bây giờ đầu óc dở chỉ lo cho Huê đang vạ vật nơi bụi chuối hoang vu kia mà thôi.
Dở đặt thằng Chọi xuống đất, chống hai tay vào hông, dòm dòm mấy cây kẹo đường của dì Sâm rồi cất giọng lém lỉnh, bỗ bã hỏi han: "Hôm nay dỗi thế hử? Không thèm nấu cơm thổi nước cho chồng à dì Sâm ơi?"
Dì Sâm tách lấy một khoanh kẹo đường đã nguội ngắt, đông cứng lại thành một màu vàng óng. Dì chìa tay đưa cho đứa con lớn đang chực sẵn bên cạnh, xong xuôi mới nói: "Lão chồng tao có chút chữ nghĩa, người ta trọng cái danh trí thức. Nay được theo cái hội thức giả trong làng sang ăn ké cỗ bên nhà ông Tộp. Bởi thế nên ở nhà tao chỉ nấu mỗi ít cháo cám, cùng mấy đứa này quây quần húp tạm với nhau cho qua bữa. Ăn xong xuôi cả rồi, giờ ngồi đây chơi bời, tranh thủ nghỉ ngơi tay chân một chút."
"Cỗ á?" Thanh tròn mắt gật gù, tò mò nói: "Chắc cỗ to, cỗ đầy lắm dì nhỉ? Nhà ông Tộp cơ mà!"
Dì Sâm tặc lưỡi một cái, tay vẫn thoăn thoắt gỡ kẹo.
"To chứ lại không! Nghe đâu cậu ấm, con trai nhà phú Tộp học hành xong xuôi trở về... Mời cả tổng chứ riêng gì cái làng này."
"Ái chà, có cả cái vụ oai phong lẫm liệt này nữa cơ à!"
Thanh vỗ đùi đánh đét một cái rõ kêu. Đôi mắt dở hấp háy, trong óc dở hơi bỗng vẽ ra bao nhiêu là mâm cao cỗ đầy, nào xôi vò, giò lụa, nào thịt mỡ dưa hành nghi ngút khói thơm.
Dì Sâm gật đầu, bóc thêm hai cái kẹo đường đã khô giòn, đưa lên cho hai đứa nhỏ đang hau háu chực chờ dưới đất, rồi ngước mắt hỏi: "Thế rốt cuộc mày mò sang đây chạng vạng thế này là có việc gì hả con dở? Có đói thì tao múc cho bát cháo cám loãng."
"Thôi thôi, cái việc xin xỏ ấy để sau đi dì!" Thanh xua xua tay gạt phắt đi. Dở nhanh nhẹn lấy cái nón lá rách bươm treo bên hông, chụp lên đầu rồi dùng hai sợi dây chuối thắt chặt vào dưới cằm, mắt nhìn thẳng ra con ngõ: "Việc quan trọng nhất nước bây giờ là phải kéo ngay qua nhà Phú Tộp xem cái cỗ nó tròn méo ra sao!"
Nói rồi, dở quay ngoắt người, chẳng đợi dì Sâm kịp ú ớ câu nào: "Thế đấy, con đi đây!"
"Cái con dở người này..." Dì Sâm chỉ kịp nhìn theo cái bóng dáng cao gầy, bước văng lên một làn bụi mù mịt trong bóng chiều nhập nhoạng mà lắc đầu ngao ngán. Dì khẽ lẩm bẩm một mình giữa cái sân: "Nó đến như một cơn gió heo may, mà đi cũng nhanh như một trận gió lốc..."
Đúng là cái đời của con dở! Nó cứ hun hút, dật dờ và nhanh như một cơn gió thoảng qua cánh đồng hoang. Mà đời người đã nhanh, đã vội vã, lại còn dở dở ương ương như thế thì phỏng có làm ăn, tích cóp được cái tích sự gì cho cam? Cứ thế mà trôi tuột đi, nay đây mai đó, như cánh bèo dạt trên mặt nước ao bèo nhèo, chẳng biết đâu là bến là bờ.
Gió thổi mỗi lúc một mạnh, rít qua những bụi tre gai ven đường nghe sàn sạt. Con dở cứ thế cắm đầu chạy phăng phăng. Bóng dở đổ dài, nhạt nhòa rồi chìm lấp hẳn vào mấy bóng cây. Đầu óc dở không nghĩ được gì nhiều, chỉ lởn vởn toàn những mâm cao cỗ đầy của nhà ông Tộp. Cỗ to đùng thế kia, kiểu gì chẳng có xôi vò, thịt mỡ, giò lụa ngập ngụa kẽ răng. Dở nghĩ thế thì sướng rơn, cái miệng rộng ngoác ra cười ha hả. Vừa chạm đến bờ rào râm bụt nhà phú hộ, tai dở đã bắt nhạy lấy những tiếng bát đĩa va vào nhau loảng xoảng, tiếng chúc tụng, tiếng cười nói rôm rả của các cụ, các ông đang ngà ngà say trong sân.
- Hết chương 31 -