Dưới chân trời rách

Chương 18: Tấm lụa trắng vấy chấm mực đen.


"Thôi… không nói chuyện này nữa." Bà Thơm thở dài: "Mày lau nước mắt đi con, để người ta thấy lại bảo mình lắm điều."

"Con có khóc đâu mà lau."

Nó nói cứng vậy thôi, chứ hai vành mắt đã cay xè. 

"Lại còn bướng!"

Con Vẹt quay mặt ra phía sân, lấy mu bàn tay dụi dụi mắt. Nó im một hồi lâu, rồi mới nhỏ giọng hỏi: 

"Cô Huê… ở bên cậu mợ nào tá túc hở bà?"

Người chết rồi, có kêu cũng không dậy. Nó hiểu chớ, khóc lóc cho lắm cũng chỉ ướt mặt mình. Bà đã nằm xuống, mọi đúng sai cũng theo đất mà vùi. Nó có gào lên, bà cũng chẳng nghe. Nó chỉ nhớ bà, nó mắc nợ bà. Người ta sống trên đời, ăn của ai một hột cơm cũng đã thành nghĩa, huống chi nó ăn của bà tròn ba tháng. Vậy thì thôi! Bà đi rồi, nó trả nghĩa cho cô Huê. Cô Huê dẫu ra sao, cũng là máu mủ của bà. Người ta có nói thế nào, Vẹt không biết, Vẹt cũng không muốn biết nữa. Chuyện của bà… nó thôi không đào bới. Nó sẽ đi tìm cô Huê, sẽ xin được hầu hạ cô. Coi như thay bà mà đỡ đần cho cô một tay. Có vậy, lòng nó mới bớt chông chênh...

"Không được vậy đâu, nào ai dám chứa. Bà làm điều thất đức, thiên hạ người ta còn sợ lây tiếng, ai mà rước con bà về nuôi?"

"Hôm đó, hai thằng câm dắt đi, mang đi đâu... trời biết, bụng chúng nó biết. Cô Huê mù loà, khổ lắm, tội lắm. Mình thương thì thương, nhưng phận làm công ở đây, há miệng ra là mất chỗ nuôi thân!"

Con Vẹt nghe mà tai ù đi. Nó chết lặng, bởi chưa kịp hoàn hồn vì chuyện cũ, đã thêm một nhát nữa bổ xuống đầu. Cô Huê mù, mù mà bị dắt đi? Người sáng mắt bị đuổi còn bơ vơ, huống chi người mù. Cái thuở gạo châu củi quế thế này, người ta còn tranh nhau từng bữa cơm. Kẻ lành lặn còn đói, nói chi người tật! Bị quăng ra ngoài đời, khác nào con kiến bị hất khỏi bờ rạ giữa cơn mưa lớn. 

Vẹt cắn chặt môi để nuốt xuống một cơn tức.  Ông… cũng quá tay. Dẫu giận, dẫu hờn, dẫu có uất ức gì đi nữa, sao lại nỡ làm đến thế? Nếu bà Kiệu có lỗi, giả sử là có... thì cái lỗi ấy nằm ở bà. Đứa con sinh ra đâu được quyền chọn gốc gác của mình. Cái bóng của người mẹ đã đủ đè lên đời con, giờ lại thêm cái án của người đời. Người ta xử một người, hình như vẫn thích gom cả nhà mà phán. Gieo gió gặt bão! Nhưng lắm khi kẻ gặt lại không phải người đã gieo. Ở cái nhà này, ai dám nói ông sai? Tưởng ngay ngắn lắm, mà thực ra bên nào nặng tiếng nói thì bên ấy nghiêng. Ông có quyền, ông có tiếng. Ông có cả một cái nhà đứng sau lưng! Còn cô Huê có gì? Có một đôi mắt mù... Chao ôi! Chao ôi! Nếu thế, cái lẽ đời ấy ác quá! Thế là xong một đời người! 

Những kẻ đứng quanh, như nó, như bà Thơm làm được gì ngoài lo ngại. Người ta sống, trước hết phải sống đã. Còn công bằng, còn thương xót... nhiều khi là thứ xa xỉ. Sự im lặng của đám ở, đấy là một thứ tự vệ. Nhưng tự vệ lâu ngày thành quen, quen đến nỗi thấy điều trái tai cũng đành coi là cái vòng đời. Tàn nhẫn thế đấy, tàn nhẫn vì sợ! Sợ mất chỗ đứng, sợ mất miếng ăn, sợ bị kéo xuống cùng. Cứ thu mình trong cái phần nhỏ nhoi như con ốc rút vào vỏ, rồi mặc kệ ngoài kia, ai chìm thì chìm, thì còn gì là nghĩa với tình? Đời người không phải bó lúa mà muốn túm cả nắm đem đập là đập. Lỗi của một người không nên thành dây trói kẻ khác.

Cái Vẹt đứng dậy, tự bày ra dáng thản nhiên.

"Con xuống gọi mấy thằng ra chợ, lo chục mâm cỗ, bà ạ."

Bà Thơm khẽ gật đầu. Bà nhìn về phía gian nhà chính. Sau cánh buồng khép hờ, làn khói mỏng mảnh quẩn quanh nơi xà gỗ rồi tan dần. 

Bà nhà được thờ. Thế cũng là có trước có sau, ông... vẫn còn có tình có nghĩa. Không phải vì bà không thấy những điều trái tai gai mắt. Không phải vì bà không thương đứa con gái mù lòa bị đưa đi chẳng biết bến bờ. Nhưng trong lòng bà, xưa nay vẫn thế. Chồng là trời. Trời có nắng mưa thế nào, đất cũng phải chịu. Đàn bà ở trong nhà, cái phúc cái họa đều buộc vào chữ chồng. Bà nghĩ vậy, và bà tin như vậy.

Đời người con gái, rốt cuộc mong gì hơn một nén hương sau khi nhắm mắt? Sống thì chịu điều tiếng, chết đi còn được đặt tên lên bàn thờ, cũng đã là phần phúc mỏng manh. Lời ông nói là lẽ phải. Ý ông nghĩ là khuôn vàng thước ngọc. Việc đàn ông quyết, đàn bà không được chĩa mồm vào. Tam tòng tứ đức (1) mà không làm được, ấy là con đàn bà tội lỗi...

Cái Vẹt xuống tới gian hai, nơi lũ hầu con ở chen chúc. Nó hắng giọng một cái, chọn lấy ba đứa nhanh nhẹn. Việc phải làm thì vẫn phải làm. Cỗ bàn không vì lòng người nặng mà được phép sơ sài. Giá như nó nghe được suy nghĩ của bà Thơm, hẳn nó phải giận lắm. Cái gọi là tình nghĩa ấy, đặt vào đâu khi mà thờ một người đã khuất sẽ không xoá được những điều đang xảy ra với người còn sống. Cay nghiệt làm sao khi suy nghĩ con người cứ lẩn quẩn trong tư tưởng đàn ông luôn đúng...

***

Tấm thân mảnh dẻ khẽ cựa mình, tựa nhành quỳnh động nhẹ trước luồng gió. Đôi môi phơn phớt hé mở, rồi chầm chậm nâng mi. Một hơi thở dài dâng lên nơi lồng ngực, song lại bị nén xuống. Mở mắt hay khép mắt... cũng vậy cả thôi, đều chỉ là một bề tăm tối. Trước sau vẫn là màn đen mịt mùng không bờ không bến, chẳng phân nổi phương hướng đông tây.

Từng ngón tay thon gầy lần lên mái tóc, nhẹ nhàng gạt nhẹ sang một bên. Nàng nhớ, đêm qua mình đã mê man trong một cơn mộng dữ. Nàng thấy mẹ, thấy bóng dáng mờ xa, yểu điệu. Rồi bỗng dưng, cả người nàng bức bối lạ thường. Lòng nàng bồn chồn, tay chân rã rượi, bứt rứt, khó chịu. Nàng muốn tỉnh, muốn vùng dậy khỏi cơn mộng mị, mà mí mắt cứ nặng trĩu, tứ chi mềm oặt, không sao tỉnh nổi...

Thị Huê nằm im hồi lâu. Lạ kì làm sao, nàng thấy hơi mệt mỏi trong người. Huê đưa tay đặt lên bụng, đột nhiên... nàng liền giật mình, theo bản năng bật ngồi dậy. Có gì đó rớt "bộp" xuống, càng làm nàng bàng hoàng. Huê hoảng hốt, thu người lùi vào một góc. Hai tay vội vàng ôm chặt lấy thân. Nàng không trông thấy, nhưng bàn tay nàng cảm nhận được... lớp áo ngoài đã bị cởi ra. Tâm trí Thị Huê trống rỗng, nỗi sợ đã lấp đầy bụng dạ nàng. Cha nàng vẫn thường bảo: "Người đàn bà quan trọng nhất là cái trinh tiết." Mất trinh tiết thì coi như mất hết. Ôi thôi, thật là tai hoạ. Tai hoạ đổ lên đầu Thị Huê! Đêm qua… nàng đã mê man. Giấc mộng nặng như đá đè. Toàn thân rã rượi, chẳng cựa quậy nổi. Có phải trong lúc ấy…? Huê không dám nghĩ tiếp. Phận má đào, quý ở cái ngàn vàng. Hơn nhau là ở tấm thân còn trong sạch. Thị Huê run rẩy, móng tay bấm vào da thịt đau nhói, nhưng nỗi đau ấy không thấm gì so với cơn chấn động trong lòng.

Tấm lụa trắng bị vấy một chấm mực đen. Từ nay... còn mặt mũi nào nữa. 

Một luồng gió bỗng ùa vào. 

"Soạt." 

Người Thị Huê căng cứng. Nàng run rẩy nói:

"Đừng... ai đó, chớ lại gần..."

"Đi đi, đi đi ngay... Nếu không tôi báo quan, tôi la lên đó..."

Chính nàng cũng nghe rõ sự yếu ớt trong lời nói của bản thân. Thị Huê co rúm mình nơi góc giường tre, hai tay cuống quýt lần tìm vạt áo, ngón tay tê cứng mãi mới đóng được hai cái cúc. Phải rồi, phải rồi...

"Nhài, Nhài Thanh... Cô có đó không?"

"Thanh ơi..."

Trong cảnh éo le, nàng gọi cô một cách tự nhiên nhất.

"Thanh ơi... Thanh?"

Chỉ cần có Thanh ở đây, nàng sẽ không phải lo lắng nữa. Chỉ cần Thanh đáp lại, nàng sẽ thôi sợ hãi. Thị Huê không biết, chỉ là lòng nàng nghĩ vậy thật. Chưa bao giờ nàng như thế, nàng thấy lạ làm sao.

Ngay cửa lều, con dở nằm dài trên nền đất, tay chân dang rộng chẳng giữ kẻ. Cô đưa mu bàn tay quệt nơi mép, cà mấy cái cho đã ngứa rồi lăn mình sang một phía. Trong cơn ngủ chập chờn, Thanh khẽ nhíu mày. Đứa nào cứ gọi tên cúng cơm của cô mãi, tiếng dội vào tai lúc gần lúc xa, nghe dồn dập, nghe quen quen...

"Thanh có đó không? Xin hãy lên tiếng đi..."

Lại nữa! Ai vậy? Nhài Thanh trở mình, mắt mở he hé. Cô đưa tay dụi mấy cái cho tỉnh, lười nhác chống tay ngồi dậy. Ngủ chưa đã giấc, tiên sư bố đứa nào làm phiền? Sáng ngày ra, đã muốn cô chửi trời chửi đất. Thanh chớp chớp mắt, mái tóc rối xoã xuống vai. Gương mặt mới thức dậy... trông sáng sủa lạ kì. Nhất là đôi mắt long lanh. Cái vẻ ấy, cũng khó mà chê. Dở chịu điệu, chắc cũng hạng tầm tầm.
Thanh nhìn về phía giường tre, thứ đập vào mắt trước nhất là con Huê. Mạ nó! Con nhỏ ấy ngồi nép một góc, hai tay ôm chặt lấy mình. Người căng ra từng thớ, mày chau, môi mím... chẳng biết vừa trải qua chuyện chi. Ấy vậy mà lạ thay, ngồi co ro thế, nó vẫn đẹp đến ngứa mắt. Tóc buông nửa chừng, vài sợi vương nơi gò má ửng hồng. 

Nhài Thanh đứng dậy. Cô bước lại bên giường, đứng sấn tới một bước, hai tay chống hông.

"Dậy rồi đó à?"

Chuyện đêm qua… thôi thì coi như gió thoảng, gạt đi cho nhẹ dạ. Đêm qua cô xử sự như kẻ mất trí, nói năng nghĩ ngợi lung tung, làm điều chẳng đâu vào đâu. Càng nhớ càng ngượng. 

Đợi một chốc, con Huê vẫn không trả lời, Thanh liền hắng giọng nói:

"Trong người đỡ hơn chút nào chưa? Đêm qua tự dưng mày lại phát sốt lên, làm tao trở tay không kịp.”

Nói đoạn, Thanh cúi rạp người xuống. Cô chống một chân lên mép giường tre, thân trên rướn về phía trước. Bàn tay cô vươn ra, đặt nhẹ lên trán Huê.

"Ơ…" 

Đằng ấy hơi giật mình, nhưng con dở nào có để ý. 

"Ừ." Thanh gật gật đầu: "Tao thấy trán không còn nóng đâu." 

Nhài Thanh thu tay về, bước lùi lại nửa bước. Lông mày cô nhướng lên. Kì cục, người Huê dường như còn cứng hơn lúc nãy. Vai nó căng, lưng thẳng đơ. Thanh nhìn kỹ thêm một hồi, cũng có thấy gì lạ lùng đâu. 

"Mày lại làm sao vậy? Mệt tới chỗ nào rồi?"

"..."  

Huê khẽ lắc đầu. Vai nàng từ từ hạ xuống. Hai bàn tay nãy giờ còn túm chặt vạt áo đến nhăn nhúm cũng dần buông ra, ngón tay mở lỏng từng chút một. Nàng ậm ừ trong cổ họng, môi hé rồi lại khép. Phải một lát lâu sau, nàng mới thốt thành lời. 

"Là…"

Nàng dè dặt, nàng nuốt khan...

"Là Thanh… cởi áo tôi, phải không?"

"…"

Nhài Thanh quay mặt đi, mắt hướng ra phía cửa lều, làm như chăm chú nhìn mấy sợi nắng vừa lọt qua mái rơm. Bao nhiêu chuyện không hỏi, lại hỏi ngay chuyện ấy trước tiên. 

Thị Huê mím môi, hình như Thanh chưa nghe thấy. Nghĩ vậy, Huê liền cẩn thận nhắc lại từng chữ một thật rõ ràng:

"Là... Thanh... cởi... áo... tôi... phải... không?"

-Hết chương 18-

Chú thích:

(1): Tam tòng tứ đức: là bộ quy tắc đạo đức Nho giáo quy định nghĩa vụ và phẩm hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. 

 "Tam tòng" bao gồm:
1. Tại gia tòng phụ: Khi chưa lấy chồng, người con gái phải nghe theo cha mẹ.
2. Xuất giá tòng phu: Khi lấy chồng, người vợ phải theo và nghe lời chồng.
3. Phu tử tòng tử: Khi chồng qua đời, người phụ nữ nghe theo con trai.

"Tứ đức" là bốn đức tính:
1. Công (Phụ công): Khéo léo trong việc nữ công gia chánh, thêu thùa, may vá, bếp núc, và quán xuyến việc nhà.
2. Dung (Phụ dung): Dáng vẻ đoan trang, hòa nhã, biết ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ, tôn trọng bản thân.
3. Ngôn (Phụ ngôn): Lời ăn tiếng nói nhẹ nhàng, dịu dàng, khéo léo, biết lựa lời.
4. Hạnh (Phụ hạnh): Phẩm hạnh, nết na, hiếu thảo, thủy chung, kính trên nhường dưới. 
Trong đó, "Hạnh" trong Công Dung Ngôn Hạnh được xem là đức tính quan trọng nhất.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px