Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Dưới chân trời rách

Chương 13: Vô cớ bận lòng

"Một đời chẳng nghĩ đến ai,

Canh năm lại cạn cả vai vì người.

[...]

Thói quen mặc kệ tháng ngày,

Đêm sâu bỗng hoá thân ngày ngược xuôi."[1]

 

 

Dì Sâm thở ra một hơi dài. Trước mắt dì, con bé Thanh ngồi thừ lừ, mặt mày cứ ngơ ngơ. Mọi khi thì nói nhiều lắm, vậy mà bây giờ im thin thít, chẳng nói chẳng rằng câu nào. Suy nghĩ cái gì mà nghiêm túc thế.

 
"Mày bị làm sao đấy hử?" Dì Sâm càu nhàu: "Ngồi như trời trồng. Lớn bằng ngần này rồi mà chuyện sốt ai cũng biết, mình mày không biết. Dốt thế hả con!"
 
Còi Phèn gâu một tiếng, vừa vặn kéo Thanh khỏi đống suy nghĩ lộn xộn. Thanh lắc lắc đầu, cố quên đi hình ảnh của con bé Huê. Cô chậc một tiếng, ngẩng mặt lên, thật thà nói: "Dì nói nghe hay thật. Nào có biết hở dì? Mấy bận thấy đầu nóng, người rã rời, con lại tưởng bụng đói nó cào, hoặc quơ quạng nhai trúng thứ củ độc, quả thối nào thôi. Lúc ấy thì cứ lăn kềnh ra đất gáy o o, tỉnh dậy thấy xác vẫn uể oải quá lại lăn ra đánh một giấc nữa. Nào nó hết thì hết, bằng không phải quên đi để mò dậy kiếm ăn."
 
Nghe Thanh nói vậy, dì Sâm bèn tỏ lòng thương. Người gì đâu đến nhận thức về bệnh cũng không biết. Mà chính mình bị rồi cũng không hay. Cứ ngồ ngộ, dại dại như thế, làm sao mà sống được lâu ở đất này? Dì không biết nữa, dì không dám nói chắc điều gì, bởi con dở đang sống tốt hơn đám đàn bà thích soi mói này.  
 
"Tao chả trách được mày, đời mày trước giờ có ai dạy cho hả?"
 
Thanh im lặng.
 
"Mà mày hỏi vụ sốt sủng làm  chi? Hay mày ốm rồi? Qua đây tao sờ trán nào."
 
Thanh lắc đầu nhè nhẹ, đoạn chống cằm ngẫm nghĩ sự đời. Chuyện con Huê bị lão Tộp nhẫn tâm quăng vứt ra đám vườn hoang, hay dại gì mà khoe ra đôi tròng mắt đã đục mờ? Ngẫm lại, cô bảo dạ thầm chớ hòng hé môi nửa lời. Chuyện nhà người, tốt hơn hết là thân mình cứ ngậm miệng, chớ có bô bô  để rồi kẻ đâm dăm ba câu, người thêm dăm bảy bận, đồn thổi chớp mắt một vòng là tanh bành cả  chợ. Chi bằng, trước mắt cứ giấu nhẹm đi cho xong chuyện.
 
"À… thì con hỏi thôi." Thanh rất tự nhiên đáp.
 
"Mà ơ hay cái lị! Sao mà dì cứ đon đả bới móc lắm thế! Hóng hớt vừa thôi chứ. Dì nói xem, làm thế nào cho nó dứt hẳn cơ sự này đi? Làm sao cho nó tiệt hẳn... giống sốt rét ấy?"
 
Dì Sâm thở hắt ra, vuốt vuốt mấy sợi tóc rối. Một lát, dì mới chép miệng.
 
"Mấy thứ cỏ cây ngoài ruộng đồng, coi vậy mà thần lắm. Ông bà ta dặn rồi: Thuốc quanh ta chẳng xa vời đất mẹ. Nhưng mình không biết thì chịu." 
 
"Thế giờ làm sao hở dì?"
 
"Mày từ từ, vội thế." Dì Sâm hắng giọng.
 
"Tao có biết ngọn ngành sự tình thế nào! Gớm, dỏng tai lên nghe tao dặn. Bây giờ, mày cứ tất tả chạy đi lùng cho tao dăm nắm lá na dại. Hái được thì mang về giã cho thật nhừ nhuyễn ra, đoạn bọc vào một manh vải sạch. Xong xuôi thì đắp chườm lên trán. Dặn chừng nhau cho kỹ,  đang hầm hập lửa đốt thế thì  phải cho mặc áo quần  thật mỏng manh thôi, chớ có dại dột trùm đắp bọc bới dày cộm lên. Cứ đè cổ ra mặc dày vào, rủi mà nó quăng cho một trận giật kinh hãi lên thì có mà đi tong mạng người, giời cứu!"
 
Nói xong, dì Sâm nhìn còn dở. Nhìn vẻ mặt gật gù ấy, dì biết nó hiểu rồi. Đưa tay lên, dì chỉ chỉ: 
 
"Ốm đau chớ ngại thuốc thang,
Cỏ cây gần gũi hóa vàng che thân."
 
Thanh ồ một tiếng, gật gật đầu. Trăng đã leo lên quá ngọn tre, nhưng nửa vầng lại bị mấy dải mây xám che mất, sáng tối lẫn vào nhau.  Cô khoanh hai tay trước ngực, lững thững bước đi, trăm ngàn suy nghĩ. Chắc cũng gần một canh giờ trôi từ lúc dì Sâm giảng cho đủ thứ cách chữa. Dì bảo không có lá na thì kiếm lá chùm gây, chẳng nữa thì lá diếp cá. Dì nói cây cao cây thấp, bên trong rồi lại bên ngoài, đủ thứ tùm lum. Qua lời dì, Thanh thấy hay. Hoá ra cây cỏ quanh mình cũng giúp người khỏi bệnh. Đời đúng là rộng, có quá nhiều điều hay ho mà dở chưa biết. 
 
"Gâu."
 
Tiếng con chó sủa vang lên dưới chân, Thanh giật mình cúi gằm mặt xuống. Chết chửa, cô lại bỏ bẵng mất con Còi Phèn từ lúc nào không hay. Thanh chửi thầm một tiếng, ngay sau đó bèn chống nạnh, hắng giọng gắt gỏng với con vật: "Ơ hay con chó! Này, khôn hồn thì mày xéo ngay đi, kiếm xó xỉnh nào mà rúc vào. Tao còn đống việc ngập đầu phải lo, chấp chới cả người đây này, chứ rảnh hơi đâu đôi co chơi bời với mày! Xéo mau!"
 
"Hiểu không? Hiểu không hả giời?" 
 
Đáp lại lời mắng mỏ của Thanh dở là cặp mắt tròn xoe ngơ ngác cùng cái lưỡi thè lè hồng hộc thở. Thấy thế, dở hừ mũi khịt khịt một tiếng đầy bực dọc, nhón chân đá dọa một phát.
 
"Đã bảo xéo đi cơ mà! Đi khuất mắt tao mau lên, hay lại muốn ăn đòn hả mày."
 
Con chó gầy cong đuôi chuồn thật. Nó vút đi một mạch chẳng màng ngó ngàng. Người ta bảo vật nuôi ở lâu ngày thế nào cũng ngấm  tính nết của chủ, quả thật cấm có sai bao giờ. Xem điệu bộ của nó kìa, nghênh ngang kênh kiệu hệt như Thanh dở, chẳng thèm coi giời đất hay một ai ra thá gì.  Đã chuồn thì chuồn, thế mà lúc cụp đuôi chạy thốc chạy tháo đi rồi cũng tiếc rẻ không thèm sủa lấy một tiếng để mà réo gọi cho dở một câu lấy thảo! Đúng là giống vật nuôi ăn tốn cơm tốn gạo.
 
Thanh hừ  một tiếng, nheo mắt dõi theo bóng con chó đang khuất hẳn vào dậu mây, cốt để mai mốt còn biết lối  đi tìm về. Chó thì cũng là giống chó, nhưng ngẫm cho cùng thì nó vẫn bầu bạn với thân cô chứ chấp gì. Thôi thì tạm gác sự con chó qua một bên, bây giờ dở tính về con người mới là điều đáng kể!
 
Thanh giơ tay vò đấm mái tóc rối bù như tổ quạ. Cơ mà, khốn nạn một nỗi là giống lá na dại thì biết bới đâu ra mà tìm? Làng Đông Tụ từ thuở xửa thuở xưa đã nghèo đói xác xơ, đến mức túng quẫn đường cùng phải moi cả giun dế dưới bãi đất hoang, nhét bụng cho qua ngày đoạn tháng. Mấy năm nay dẫu có khá khẩm hơn dăm ba đồng, nhưng nói gì thì nói, mấy thứ lá lóc cóc của rừng hoang cỏ cháy liệu còn mọc nổi không, hay đã chết  từ lâu rồi? Nhất là giống na dại thì lại càng hiếm hoi.
 
Con dở ngửa mặt thở dài sườn sượt, lắc đầu ngao ngán. Đứng đây cắn móng tay nghĩ ngợi nát óc cũng chẳng bới đâu ra, chi bằng cứ chống gậy cất bước, vừa đi vừa tính xem sao.
 
Thanh rảo cẳng bước mau hơn một bận, cặp mắt láo liên soi xét từng góc tối ven bờ ruộng.  Ngó sang trái, ngoảnh đầu nhòm sang phải. Cây cối rậm rạp um tùm thiếu gì, nhưng lại chẳng có thứ cỏ cây cô đang mỏi mắt kiếm tìm.
 
Đời dở vốn dĩ mù chữ nhắm mắt qua loa, nói huỵch tẹt ra là dốt đặc cán mai, chữ nghĩa bẻ đôi không biết. Ấy thế mà giống lá na dại thì thuở trước cô lỡ mắt trông thấy một lần, hóa ra lại nhớ đinh ninh trong đầu. Chứ còn ra chợ Đông bới mắt kiếm chác thì đố cô thấy mụ nào ngả nia bày bán thứ của nợ. Lục lọi mỏi cả chân,  tìm hoài mà vẫn trống trơn trống hoác, trong lòng Thanh đâm ra sốt ruột đến độ đứng ngồi không yên, mồ hôi mẹ mồ hôi con vã ra như tắm.
 
Đến vòng thứ hai, đôi giò bắt đầu mỏi nhừ. Nghĩ đến  lá diếp cá là Thanh đã muốn chắp tay vái trời. Giống lá ấy, dân dã trong vùng ai chẳng ưa thích, hễ tinh mơ sương mù là người đã nhặt sạch bách từ đời nào. Đâu ra chuyện  chờ đến lúc lăn ra ốm đau bệnh hoạn mới lật đật đi tìm. Còn như  lá chùm ngây... Giời ạ, cả năm giời may ra mới rớ mặt gặp được một bận, chứ có phải cứ ngửa tay vòi vĩnh là có ngay đâu mà đòi hỏi. Lá na dại còn chưa mò ra được một manh hột, đừng hòng tơ tưởng đến ba bốn thứ lá lóc cóc khác nữa cho nó thêm bực mình, rỗng ruột!
 
 "Khỉ gió nhà nó chứ!"  Thanh lầm bầm bĩu môi chửi đổng. Chẳng lẽ bây giờ lại chán nản quay giò bước về túp lều ngó xem con bé Huê thế nào? Dì Sâm trước đó còn dặn đinh ninh đủ điều là phải coi chừng gió,  sơ hở ra một tí là hỏng bét cả cơ sự.
 
Nghĩ ngợi vẩn vơ đến đấy, Thanh  giật mình xoay ngoắt người lại, cắm cổ chạy  ngược về  hướng túp lều rách nát. Con đường đất hun hút, heo hút chẳng mảy may một bóng người qua lại. Gió ở đâu mà quật mạnh thế, từng cơn quét ào qua bãi cỏ may. Mấy tấm manh bao rách tơi tả che trước cửa nhà thiên hạ vì thế cứ phần phật rung lên, bay ngả bay nghiêng đập bần bật vào vách nứa. Thanh mím chặt đôi môi khô khốc, trong lòng đâm hoảng hốt. Con bé Huê đang lúc sốt li bì, gió lại cứ vù vù thổi thốc... Giời đất quỷ thần ơi, liệu thân xác tơi tả ấy có chịu nổi mà nặng thêm không?
 
Đến nơi, Thanh trèo qua rào, tay chưa bám chắc đã nhảy ù xuống đất. Chân còn chưa đứng hẳn đã chạy huỳnh huỵch về phía túp lều. Trong người dồn dập thứ cảm giác gì đó lạ lắm, cứ cuộn lên, khiến bước chân càng lúc càng gấp.
 
"Huê."
 
"Huê, mày tỉnh chưa?"
 
Người chưa kịp bước vào, tiếng đã lao trước vào lều. Thanh ngó nhìn,  Huê vẫn không chịu tỉnh. Nó cứ nằm mê man, hơi thở nặng trĩu.  Hai gò má trắng đỏ hây hây. Mày liễu nhăn nhúm lại, đến cả lồng ngực cũng phập phồng mạnh. Đặt tay lên trán Huê, chưa kịp nổi năm giây đã rụt lại. Thanh thấp thỏm, vội vã phóng ra khỏi lều. Lá na. Phải có lá na... Trong đầu chỉ còn mỗi hai chữ ấy. Nãy giờ lo chạy, Thanh cũng quên mất mình đang cuống đến mức nào.
 
Ra đến đầu con đường đất,  Thanh thở dốc nhìn quanh. Con đường chạy thẳng, chia làm ba lối. Cô nhìn bên trái, đã đi rồi. Nhìn bên phải, cũng đã lục từng gốc. Đi thẳng, lúc nãy ngang qua nhà dì Sâm cũng chẳng thấy bóng cây na nào. 
 
Thế còn đi đâu nữa? Thanh vò đầu,  bặm bặm môi quyết định luôn. 
 
"Đi lại. Đi lại hết."
 
Cô đếm bằng ngón tay.
 
Một… hai… ba… đến lần thứ mười tay chỉ về đường trái. Đã ba lần đi vào đây mà vẫn không thấy. Nhưng lần thứ bốn thì sao? Tính dở là vậy, đã làm thì phải làm đến cùng, làm cho ra kết quả mới thôi. 
 
"Đường trái đúng không? Đường trái mà không có lá na, Thanh dở san bằng đường làng. Mấy ông thần đất, thần cây hiển linh đi nhớ, không là phiền hà lắm đấy."  Thanh lùi về mấy bước, dậm chân lấy đà. Thoắt một cái, bóng đã lao đi. 
 
Cô chạy, gió tát vào mặt đến nóng rát.  Không thể để Huê nó chết. Không thể...
 
Thanh giật mình. Tự dưng câu ấy bật ra trong đầu, khiến con dở dừng lại giữa đường. Đứng im một lúc, đôi mày Thanh cụp xuống, có vẻ đang suy nghĩ xem vì sao mình lại sợ đến mức ấy. Tại sao, tại sao lại thế? Chưa kịp hiểu, bên tai đã loáng thoáng tiếng lầm rầm.
 
"Hứm hừm… rượu ngon, rượu ngon."
 
Thanh quay đầu sang bên phải, không thấy ai. Nhìn thẳng phía trước... Đích thị có một bóng người đang ngồi dựa vào bức rào thấp. Trông mờ mờ thì  dáng ấy đổ về phía trước, tay ôm khư khư vò rượu.
 
Thanh bước tới, nheo mắt nhìn.
 
"Ối, cụ Tạo."
 
Cụ Tạo thuộc lớp bô lão trong làng, là chứng nhân của bao mùa lụt hạn, bao lần đổi thay mái rạ bờ tre. Tuổi cụ đã vượt quá bảy mươi, tóc bạc lốm đốm, da sạm nắng mưa, thân hình gầy mà gân cốt còn dai. Đi đứng chậm chạp hơn trước, song sức lực chưa đến nỗi suy kiệt. Chỉ tiếc một điều, rượu đã bám lấy đời cụ, quấn riết chẳng rời. Cụ uống triền miên, từ lúc trời vừa hửng sáng cho đến khi đêm buông mịt mùng. Chén rượu theo cụ qua từng bữa, từng ngày, đến mức dân làng nhắc tới tên thật cũng ít, gọi Tạo Rượu thì nhiều.
 
"Có nhà mà không chịu về, cứ ra đây uống rượu mãi thế. Chán cụ Tạo thật đấy."
 
 Thanh vừa nói vừa cúi xuống luồn tay đỡ cụ đứng lên. Hơi rượu từ người cụ bốc ra nồng nặc, dính hết cả vào người cô. Cụ Tạo lảo đảo, chân bước hụt trước hụt sau, hai mí mắt nặng trĩu, nhìn Thanh không còn ra hình người.
 
"Ơ… đứa nào đấy?"
 
"Con chó điên làng Đông Tụ." Thanh trả lời một câu cho qua. 
 
"Mà nhà cụ ở đâu ấy nhỉ, con quên mất rồi."
 
Cụ Tạo khịt mũi, ợ lên một tiếng dài. Cụ đưa chai rượu lên, dốc nốt những giọt còn sót, cổ họng lên xuống uống trôi. Bước chân nghiêng ngả mà miệng vẫn cười khẩy. 
 
"Chó với chả điên. Ai đời tự nhận mình là chó bao giờ? Ngu giời dạy. Đầu óc chẳng hơn con bò."
 
Thanh đang suy nghĩ miên man về cái Huê, bỗng nghe cụ Tạo nói liền quay sang, trợn mắt nhìn. 
 
"Ô hô hô, lườm tao làm gì?" Cụ Tạo cười sằng sặc.
 
"Tao nói sai à? Thứ dốt nát. Trẻ dốt thì phải nhận."
 
"Cụ đúng là tay bợm rượu."
 
Cụ Tạo có lẽ là say đến lẫn, chứ cãi nhau với Thanh dở, người làng tránh còn không được. Cô đứng nhì, thì ai còn dám dành đứng nhất? 
 
"Mày hỗn! Tao lớn hơn mày đấy. Mày không biết kính lão đắc thọ là gì à?"
 
Nói rồi, cụ đổ hẳn người sang, dựa cả thân già mềm nhão vào Thanh. Trọng lượng ấy dồn xuống khiến Thanh hơi chao đi. 
 
"Con nhỏ hơn cụ thật." 
 
Nhài Thanh nhếch nhếch môi: "Cụ cũng phải nhường con chứ. Người lớn ai lại đi chấp trẻ con."
 
Cụ Tạo lắc lư người, đưa đít chai rượu đã cạn về phía trước. Cái đít thủy tinh tròn trịa suýt nữa giáng thẳng vào đầu con dở. 
 
"Thôi thôi." Thanh thở ra một tiếng, sốt ruột nói: "Nhà cụ ở hướng nào, để con đưa cụ về, khuya khoắt thế này rồi còn ngồi đây uống với chả ợ."
 
Trong dạ Thanh vốn dĩ vẫn còn rối như tơ vò vì chuyện cái Thị Huê, song để một ông già say khướt ngồi chơ vơ giữa đường làng thế này thì lương tâm không cho phép. Đêm nay rắc rối dồn cả vào một lúc, thân mình đã mệt còn phải cáng thêm một người nữa. Dở chỉ mong đưa cụ về cho yên cửa yên nhà rồi mới chạy đi tìm lá. Chắc có lẽ tìm được, cô mới hết ù tai ong đầu. 
 
Thanh ghé người, hai tay đỡ lấy cánh tay gầy guộc của cụ Tạo. Xương xẩu cụ cấn vào da, cái miệng lại cứ lầm bầm đứt quãng, lời nói không thành câu, ý cũng chẳng rõ ràng. Thật đúng là rượu men cay xô người ta khỏi lối đi ngay thẳng, đẩy vào một cõi mờ mịt chẳng phân nổi sáng tối. 
 
"À." Thanh chợt ngẩng lên, mắt đảo quanh con đường làng vắng hoe. Cô hạ thấp giọng: "Cụ có biết chỗ nào có lá na dại không?"
 
Cụ Tạo ngửa cổ ợ một hơi dài, nghe thôi đã thấy cay nơi sống mũi. 
 
"Lá đa hở? Lá đa thì… thì mày chạy xuống cuối làng ấy, có thiếu gì."
 
"Không phải lá đa." Thanh nghiêng người, ghé sát tai cụ nói từng chữ thật chậm, thật rõ ràng: "Lá na, lá na dại cơ."
 
"À, lá cà."
 
"Lá đấy thì."
 
Cụ Tạo còn chưa nói xong, Nhài Thanh đã ê a chen vào. Thanh hít một hơi, hét thẳng vào màng nhĩ ông cụ.
 
"Con nói lá na, lá na!"
 
Cụ Tạo ô lên một tiếng, cái đầu gật gù liền hồi. Cụ cười ha hả, xem ra đã bừng tỉnh. 
 
"À, ra lá na."
 
"Phải rồi." Thanh hỏi dồn, trong lòng hơi thấp thỏm: "Cụ có biết không?"
 
"Lá na thì nhà tao có đầy, tao còn trồng được cả cây, quả sai lắm." Cụ Tạo khoe khoang. 
 
Nghe câu đầu, lòng Thanh đã loé lên một chút sáng, tưởng chừng như nắm được sợi dây cứu mạng giữa mớ bòng bong. Tới câu sau thì ánh sáng ấy vụt tắt, rơi tõm xuống đáy ngực, nặng trịch không nhấc lên nổi. Thời buổi này, một quả na cũng đủ làm người ta đỏ mắt, giành giật đến sứt đầu mẻ trán, nói chi đến chuyện còn cả cây đầy quả? Lời ấy lọt tai chỉ càng thấy men rượu đã ngấm sâu, trí óc cụ Tạo trôi dạt tận đâu đâu không biết. Nhài Thanh kéo cụ đứng lại, liếc sang bằng ánh nhìn chán nản.
 
"Cụ say quá rồi đấy, cụ Tạo ạ."
 
"Say cái gì? Tao chưa có say, tao còn tỉnh lắm. Tao biết lá na mà, tao biết ở đâu đấy."
 
Nhài Thanh thở dài. 
 
"Thôi, để con đưa cụ về. Cụ nhanh một chút để con còn đi tìm lá na."
 
Nói vậy thôi chứ trong bụng Thanh đã lặng lẽ tính chuyện đổi sang thứ lá khác cho kịp việc. Đường làng khuya khoắt, trông cậy vào lời chỉ dẫn của một người say rượu cũng chẳng lấy gì làm chắc. 
 
Cụ Tạo vừa đi vừa lẩm bẩm, thỉnh thoảng lại ngước đôi mắt ti hí, đưa tay chỉ trỏ bên này bên kia. Thanh nào có biết nhà cụ ở đâu, vậy nên chỉ có thể nghe theo với tấm lòng ngờ vực. Đi được một quãng, cô nhận ra mình đã vòng vèo khá lâu, con đường quen cũng hóa lạ. Khi ngang qua một vườn hoang um tùm cỏ dại, Thanh vô thức ngoái đầu nhìn vào trong.
 
"Cái Huê nó... liệu có sao không?" Thanh mấp máy khoé môi. 
 
"Nói gì đấy?" Cụ Tạo lè nhè. 
 
"Cụ cứ chỉ đường đi." Thanh kéo nhẹ ống tay áo cụ: "Đừng hỏi con, con đang rối lắm."
 
Đáp ứng lời đề nghị của dở, cụ Tạo đúng là không nói nữa. Hai người cứ vậy bước thêm khoảng bốn mươi bước. Cụ Tạo đột nhiên cười, giọng bỗng sang sảng hẳn:
 
"Mày cũng tốt phết đấy."
 
"?" 
 
Thanh nghiêng đầu, trong lòng thoáng ngạc nhiên. Dạo này lạ thật, người ta bỗng nói với dở những lời tử tế, khác hẳn quãng trước chỉ toàn là dè bỉu với coi thường. Có dì Sâm, có cụ Tạo... và có cả Thị Huê, nhiều đến nỗi khiến Thanh chưa quen. 
 
"Tới nhà rồi. Kia, nhà tao đấy. Mày dẫn tao vào đi, chân tay rã rời hết cả."
 
Thanh ngẩng nhìn. Trước mắt cô là căn nhà lá nhỏ, rơm rạ phủ mái, trông chẳng khác mấy nhà dì Sâm. Cô dìu cụ Tạo vào, đưa tay đẩy cánh cửa nan rách. Cửa vừa mở, Thanh đứng sững lại, mắt mở to.
 
"Thấy chưa, tao có nói bừa đâu." 
 
Lời còn dang dở, thân người cụ đã đổ xuống chiếc giường tre kê sát vách. Đôi mắt cụ khép lại, hai gò má đỏ au. Thanh vừa gật đầu, vừa kéo mảnh vải cũ đắp ngang người cụ, rồi bước nhanh ra giữa nhà. 
 
Trước mắt Thanh... rõ ràng là một cây na. Trái sai chi chít, chen nhau treo lủng lẳng, quả nào quả nấy căng tròn. Ánh sáng le lói khiến đám quả hiện lên rõ ràng, thật đến mức không thể nghi ngờ. Lời cụ Tạo nói ban nãy hóa ra không hề là lời rượu. Cụ Tạo nói thật, không vớ vẩn, không thêm thắt một mảy may nào. Nhà cụ có na thật, mà na kia nào có phải na bờ rào, na cuối vườn, mà là một cây na đứng chễm chệ giữa nhà. Nghĩ đến lời cụ từng bảo na sai quả, ăn ngọt lịm, Thanh khi ấy còn bán tín bán nghi, giờ mới vỡ lẽ. Thảo nào. Bảo sao. Ra thế cả.
 
Thanh tiến gần hơn, đưa mắt soi xét. Cây na không lớn, thân nhỏ, rễ cắm thẳng xuống nền đất. Cái nền đất của cả làng xưa vốn là đất đen sì, mùa mưa nhão nhoẹt, mùa nắng nứt nẻ, trừ những nhà khá giả mới có nổi vài viên gạch lát nền cho đỡ lấm chân. Nhà cụ Tạo cũng vậy thôi, nền đất vẫn là đất, thế mà giữa gian nhà tối mát ấy lại xuất hiện một cây na. Cành nào cành nấy oằn xuống vì quả. Na tròn, vỏ xanh nhạt, nhìn thôi cũng biết là ngọt.
 
Dở nuốt nước bọt. Chén được một quả này, cái bụng sẽ sướng phải biết. 
 
Thanh quay sang nhìn cụ Tạo. Cụ ngủ mà tay vẫn giữ khư khư chai rượu. Đúng là sống vì rượu, chết đi chắc hẳn cũng một chữ rượu. Sao không bày bán na, như thế sẽ được nhiều đồng hơn? Thôi, cụ thích rượu thì phải chịu. Đời có mấy khi làm được điều mình thích, nghĩ nhiều chi cho mệt. Thanh gật gù. Con người ta chỉ sống một lần, nếu có thể dành trọn tâm sức cho điều mình yêu thích thì dẫu có nắng mưa vất vả cũng chẳng gọi là uổng phí đâu. Bởi khi đã thuận theo điều mình chọn, mọi gian nan đều trở nên có ý nghĩa. 
 
Nhìn nhìn cụ một lúc, nghĩ đi cũng phải nghĩ lại, Thanh thừa nhận cụ giấu quá kỹ. Khéo giấu, giỏi giấu. Đến người sống gần còn chẳng hay, huống chi người ngoài. Cụ Tạo quả không phải tay vừa. Cụ mà không nghĩ ra cái cách lợp nhà quanh cây na, cứ để nó phơi phới ngoài sân, ngoài vườn, thì với cái thời buổi này, có khi chẳng còn vỏ mà nhặt, nói gì đến quả mà ăn. Lúc ấy thì có bốc phân mà ăn thật, chứ na đâu mà mang lên chợ huyện đổi rượu.
 
Đúng là gừng càng già càng cay. Ai nói cụ là một ông già nghiện rượu thì nếu biết chuyện này, chắc phải xấu hổ lắm! Vì sao ư? Đó là vì người ngoài chỉ thấy hành động, nhưng không thấy nguyên do. Mà không hiểu nguyên do thì mọi phán xét đều trở nên thiếu công bằng. Không nên chỉ vì một việc người ta làm mà vội kết luận, cho rằng mình đúng. Một hành động chỉ là lát cắt, không phải toàn bộ con người. 
Thiên hạ chỉ nhìn thấy men say của cụ chứ không thấy những toan tính tỉnh táo phía sau. Uống rượu chỉ là bề mặt, còn gánh nặng thì giấu trong lòng.
 
Nhài Thanh rảo bước lại gần chiếc giường tre đặt sát vách đất. Cô đứng yên một lát rồi mới cất giọng: "Cụ Tạo, cho dở xin nắm lá na nhớ."
 
Cụ Tạo gật gật đầu, bàn tay nhăn nheo xua xua trong không khí: "Lấy đi lấy đi. Tao cho mày đấy."
 
Nghe vậy, Thanh đánh bạo hơn. Cô xoa xoa hai bàn tay, nở nụ cười hớn hở: 
 
"Bụng cụ to thật. Thế cụ cho con xin hai quả na nhé."
 
Cụ Tạo tuy say, nhưng men rượu chưa làm cụ mờ trí. Nghe đến mấy chữ cuối, cụ liền nghiêng người, chống khuỷu tay, nằm xoay mặt lại. Đôi mắt đã mờ vì tuổi và rượu khẽ híp. Cụ chỉ tay ra phía trước. 
 
"Mày!" 
 
Tiếng nấc bật ra giữa chừng câu nói. Thanh tiến thêm một bước, vừa cười vừa gạt tay cụ xuống. 
 
"Một quả là công con đưa cụ về tận nơi, cho cụ nằm, lại còn đắp chăn cho cụ. Còn một quả, là quà lần đầu cụ cho con. Xét về mặt nào cũng đều vẹn nghĩa cả. Cụ thấy coi phải không?"
 
Cụ Tạo ợ một tiếng, mùi rượu phả ra nồng nặc.  Thanh nhíu nhíu mày, bởi vì không ưa thích cái mùi này nên đã giật lùi hai bước chân. Cô tham ăn tham uống là vậy, nhưng hễ đề cập đến rượu thì xin lắc đầu. Cụ Tạo vung vung chai rượu trong tay, trừng mắt nhìn con ranh giỏi ăn nói. 
 
"Quân khôn lỏi!"
 
Thanh chưa kịp đáp thì cụ đã nằm phịch xuống giường, dứt khoát quay mặt vào vách. 
 
"Vặt đi... Tao nói thế chứ có tiếc, có keo kiệt gì mày dăm quả na. Cơ mà đừng có bép xép, mồm miệng giữ cho kín nhớ chửa? Dân làng mà hay, tao đập mày đầu tiên đấy. Rượu là... là không uống không được!"
 
"Dở nhớ, dở biết thưa cụ." Nhài Thanh kéo dài giọng, tay chân tự động quay hướng về cây na. Được lời ấy thì còn gì bằng nữa. Thanh thấy mình cũng hên, hoặc là do phước cô nó tốt, chứ giúp người được người giúp lại, coi bộ cũng khó. 
 
Nhài Thanh với tay vặt trước một nắm lớn lá na, lá dày kèm mùi thơm hăng hắc. Được ba lần đầy tay, cô nhét vào hai bên túi áo đã sờn rách. Xong xuôi, cô cúi người, ngước nhìn kỹ từng cành, chọn lựa quả thật chậm. Những quả na với vỏ mọc xanh nhạt, mắt na đều, tròn căng... nhìn thật thích mắt. Dạo một vòng, mắt Thanh bỗng sáng rực lên, dường như đã tia trúng thứ gì đó. 
 
"Ù ôi, ngon thế." Thanh liếm liếm môi, vặt xuống một quả to hơn cả nắm đấm tay. Dở nâng quả na, vuốt nhẹ qua lớp vỏ: "Quả này cho con bé Huê đi."
 
Lạ thật, một đứa bấy lâu dở dở, vậy mà đến lúc này lại biết để phần cho người khác. Người ta vẫn bảo nó sống vô tình. Nhưng vô tình là ai vô tình? Nó đâu có sống vô tình! Nó vẫn biết nghĩ đến người khác.
 
Sau khi vặt xong cả lá và quả, Thanh đã thấy cụ Tạo ngáy khò khò từ bao giờ. Cô chẹp miệng, ăn no ngủ kỹ, chuyện đời để đó... quả không sai. Quay lại nhìn cây na, cô cứ đâm suy nghĩ mãi. Dở định vặt thêm, cũng định lấm la lấm lét trộm thêm một quả cho dì Sâm...
Liệu được không? Cơ mà... Thanh lắc đầu. Không được! Tuyệt đối không được. Cái thèm kéo tay, cái đói đẩy lưng, thì phải biết nhờ cái lòng níu lại. Trộm cắp sinh tội, mà tội thì bào mòn lương tâm. Một lần trót lọt không bao giờ khiến con người dừng lại, mà chỉ khiến cái sai càng thêm sai. Làm gì có cái trộm cắp nào là vô hại? Không có! Có thể ban đầu chỉ là một lần lỡ tay, một phút tham lam, tự nhủ chỉ lần này thôi rồi dừng lại. Nhưng lương tâm đã bị phản bội thì rất khó nguyên vẹn. Ranh giới đúng sai một khi bị xô lệch, những lần sau đến đều nhẹ nhàng tựa mây hồng. Cái xấu nảy mầm, tội càng sinh tội. Lấy thêm một quả na mà không xin phép... thì phần người trong chính Thanh sẽ bị trộm đi. Xã hội có bao nhiêu phủ huyện, nhà quan, bao nhiêu đình làng, cũng không sánh bằng một nơi xử án đặt trong lòng người. Lương tâm mới là công đường công bằng nhất. Dở không muốn đối diện với lương tâm... nhất là phần lương tâm đã bị cắn xé đến bẩn thỉu ấy. 
 
Nhài Thanh siết chặt tay, cô đứng nép bên vách, nín thở vài giây rồi rón rén rời đi. Khi ra khỏi nhà cụ Tạo, cô co cẳng chạy một mạch về khu vườn hoang. Nhìn túp lều hiện trước mắt mình mỗi lúc một rõ ràng, lòng Thanh lại thấy bớt lo ngại. Cô thở mạnh một hơi, chậm rãi bước vào. Chiếc nón quàng nơi cổ được tháo xuống, ném sang bên, rơi xuống nền đất khô lẫn cỏ dại. 
 
Bên ngoài, ánh trăng lờ mờ soi rõ mảnh vườn bỏ hoang, cỏ mọc cao ngang đầu gối...
 
Bên trong, trên chiếc giường cũ kĩ, Thị Huê vẫn nằm mê man không biết đất trời. Thân người mảnh dẻ, gương mặt nhợt nhạt ửng đỏ, hơi thở coi bộ gấp gáp lắm. Thanh đưa tay sờ vào túi áo, kiểm tra lại mớ lá na còn giữ kĩ bên trong rồi đảo mắt nhìn khắp gian lều. Vách nứa, mái rơm, góc lều trống trơn, tuyệt nhiên không có lấy một vật nồi niêu, bát sành, cối đá hay đồ dùng nào có thể tận dụng. Nghĩ đến việc thuốc thang, dở càng thêm bối rối. Chuyện cứu người, đúng là có lòng mà thiếu tay, biết làm sao cho trọn... Thanh đứng nhìn Huê, ánh mắt dừng lại nơi gương mặt xanh xao nhưng cực kỳ thanh tú ấy. Nhìn thêm giây lát, cô quay lưng bước ra khỏi lều, từng bước nặng trĩu suy nghĩ. 
 
Việc trước mắt là phải giã lá na cho nhuyễn. Phải có vật gì để đựng lá, để nghiền nát mới xong, chứ không thể vất thẳng xuống đất rồi đem chân giẫm. Đất vườn này lẫn cỏ dại, đá sỏi, dấu chân người qua lại, nhơ nhớp đủ điều. Với thân mình, bẩn một chút chẳng hề chi, "thân nghèo dặm gió sương" còn chịu được, huống chi mấy hạt đất. Riêng Huê thì khác. Huê con nhà giàu, vốn sạch sẽ tinh tươm. Dẫu chỉ là nắm lá thuốc, cũng không thể để vướng chút nhơ bẩn trần ai. Chỉ cần nghĩ đến chuyện Huê phải chịu thêm một phần dơ dáy, Thanh đã thấy khó chịu.
 
Nhài Thanh khoanh tay trước ngực, lặng lẽ ngước nhìn vầng trăng đã nhạt màu nơi cuối trời. Thị Huê nằm yên trên giường, đôi mày càng lúc càng nhíu chặt. Một người thức, một người say. Kẻ tỉnh không nói, người mê chẳng hay. Ở đời vốn có những việc khó đem ra giảng giải. Có khi người với người còn chưa gọi là quen, lời qua tiếng lại cũng chẳng bao nhiêu, vậy mà lòng đã sớm đổi chiều. Như gió đi ngang đầu hoa, chẳng biết hoa là loài chi. Như hoa đứng giữa trời, cũng chẳng hay gió từ phương nào thổi tới. Người còn chưa kịp nhận ra, thì sự đã rồi, mà duyên cũng lặng lẽ rẽ sang một nẻo khác.
 
Nhài Thanh thở dài, trầm ngâm quay đầu nhìn bóng cái Thị Huê. Khó cho dở. Khó cho dở lắm. Dở có lá rồi, thế giờ lấy gì giã thuốc cho Huê?
 
"À ơi ơi à…
Gió xào gió xạc hiên xa,
Chẳng ai hò hẹn, mà ta vướng lòng.
Tình như mầm cỏ ven sông,
Mưa chưa kịp tới đã trông đã chờ.
À ơi ơi à…
Gió đưa gió đón nhạt nhòa,
Chúng mình chưa hẹn mà xa cũng gần.
Tình đâu cần gọi một lần,
Cứ từ từ nảy trong ngần ngại thôi."[2]
 
 
-Hết chương 13-
 
1. Bài thơ Bận Lòng, Tinh An.
 
2. Bài thơ Sinh Tình, Tinh An.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px