Đọc to (tiếng Việt)
Nhấn phát để bắt đầu
Dưới chân trời rách
Chương 8: Trời se một mối duyên
Thanh đứng dựa vách, tay khoanh trước ngực, mắt ngó nghiêng, rồi lặng thinh. Cô nhìn Thị Huê. Cô thấy tội nó. Tội một đứa con gái, chưa kịp hưởng mùi đời đã hỏng mất đôi mắt. Cái mắt sáng là của trời cho, là thứ quý nhất trên mặt người, mất đi rồi thì có khác gì sống trong màn đêm suốt kiếp.
Thanh cựa mình, toan mở miệng hỏi han lời dịu dịu, nhưng chưa kịp nói, Huê đã lặng lẽ cất lời.
"Tôi nghe cha nói Nhài Thanh cô là Thanh Dở, lúc nào cũng điên điên khùng khùng, lật mặt nhanh, người nhỏ mà khôn lỏi tài lanh, hay đi ăn vạ xin tiền, không có lễ tiết, cũng không vừa mắt một ai, cô còn rất hay chửi… Nhưng bây giờ gặp cô, tôi thấy cha tôi nói không đúng. Cô chỉ là... không có lễ tiết mà thôi."
Huê vẫn đoan trang, ngồi ngay ngắn lắm. Nàng nói tiếp, nói như thể nàng đã thấu sự đời, hiểu cái xã hội này coi trọng thứ gì.
"Cô thiếu mất lễ tiết, lễ nghi... thiếu đi cái cơ bản nhất của một con người mất rồi."
Một câu nói, vừa nhẹ nhàng, vừa êm êm, cũng không có ý khinh bỉ dè bỉu. Nhưng mà… con dở nghe xong, lại tựa có ai dúi than hồng vào tay. Cô cười khẩy, trừng mắt nhìn Huê. Dở hoàn toàn quên đi gạt ý định hỏi han lúc đầu.
"Lễ tiết, lễ nghi? Thế nào là lễ tiết lễ nghi đây?"
"Cha mày nói phải lắm! Tao điên khùng, dở hơi, tao nhỏ con nhưng tài lanh."
"Này! Tao có lễ tiết thì cũng chẳng còn sống đến giờ! Tao có tử tế thì cũng chết đói từ năm ngoái! Mày nói tao điên? Đúng đấy, không điên thì bị đời đè chết! Tao khùng? Không khùng thì cơm đâu mà nhét vào miệng? Mày bảo tao lật mặt nhanh? Tao mà chậm, bọn mặt dày khác đè tao xuống đất!"
Thanh hừm một tiếng: "Cái loại như tao, đói thì giật, khát thì trộm, ai cản tao, tao cắn."
"Mày thử quăng tao vào nhà mày đi, để tao mặc lụa là, nằm giường nệm, xem tao có đàng hoàng hơn mày không! Còn ngược lại, mày thử ra đường mà lê lết như tao, xem có giữ được cái lễ cái nghi không? Lễ với nghi cái con khỉ! Bụng tao réo lên từng cơn, ai rảnh mà học?"
Gió nổi lên ào ào. Nói rồi, con dở nhổ phẹt một bãi nước bọt xuống nền đất. Thanh vung tay, đi qua đi lại.
"Lễ tiết? Lễ tiết là thá gì?! Tao đẻ dưới đất, lớn trong bùn, ai thèm dạy tao lễ tiết?"
"Chúng mày đẻ ra đã bát vàng đũa ngọc, cơm bưng nước rót, có kẻ hầu người hạ. Tao vừa mở mắt, đã thấy bụng đói meo, thấy người còng lưng nhặt từng hạt gạo rơi, thấy kẻ húp cháo cầm hơi nhường phần ăn cho con. Tao biết đi, đã phải lết ra chợ mà giành rác với lũ chó hoang. Tao biết nói, đã phải học nịnh hót, học cúi lòn (1), học nói sao cho kẻ có tiền nó rủ lòng bố thí. Cơm tao còn chưa no, lễ tiết là cái quái gì đây?"
Thanh trợn mắt, xấc láo vô cùng. Cô đang nói với Huê, nhưng hình như cũng không đúng. Dở cô to gan bằng trời, đích thị là phỉ báng cả đời!
"Lễ tiết cho ai? Lễ tiết của ai? Lễ tiết để làm gì?"
"Hả?"
"Để ép kẻ nghèo chúng tao phải rạp người mà sống. Để bắt kẻ dưới phải cúi đầu mà chịu? Để cho chúng mày thấy mình cao quý hơn thiên hạ!"
Thanh giận, mà Thanh càng tủi. Tức đến nghẹn họng, cay đến tận óc. Con dở càng nghĩ càng tức, càng thấy đạo lý ở đời nó bạc. Nàng chỉ nói đúng một câu đó mà cô đã thấy uất.
"Chúng mày có tiền, có quyền, chúng mày mắng một câu, là đạo lý. Tao không tiền, không thế, tao mắng một câu, thành vô học. Chúng mày vung tay đánh người, là răn dạy. Tao vung tay phản kháng, là mất dạy. Chúng mày vênh mặt, ngồi chễm chệ, là nề nếp gia phong. Tao đứng thẳng, không chịu cúi đầu, là láo lếu, mất dạy, bất trị!"
Thanh đang đi qua đi lại cũng phải dừng chân. Cô quay phắt lại, bàn tay chỉ thẳng vào mặt Huê, quát lớn: "Vậy rốt cuộc, lễ tiết ấy là thứ để giữ cái gì? Giữ đạo nghĩa à... Hay giữ cái trật tự chó má này?"
"Chúng mày chẳng qua là sợ chúng tao vùng lên mà thôi."
"Cơ mà chúng mày đang thắng rồi đấy. Họ cứ cúi mình, họ không dám vùng lên dù tao có nói cỡ nào, có thuyết phục cỡ nào đi chăng nữa."
Oái oăm! Thanh cảm thấy buồn cười. Nhưng lại uất ức, biết giãi bày với ai? Con dở nói nhạt, mà ý tứ sao mà nghe sâu quá.
"Mày nói tao thiếu đi cái cơ bản để làm người ư? Mày sai rồi! Ừ sai lắm."
"Tao sống ở đây, sống ở kia hay sống lê ở bất cứ đâu đi chăng nữa. Cũng chẳng có ai coi tao là người cả. Chúng nó có coi tao là người đâu? Hở tiểu thơ Thị Huê!"
Thanh nghiến răng ken két, cô nuốt nước bọc, hậm hực mãi, cay đắng mãi mới thở hắt ra một hơi.
"Chúng nó coi con Huỳnh Nhài Thanh này...
-Còn chẳng bằng một con chó!"
Đôi tâm mi của Huê khẽ giật giật. Hai bàn tay đặt lên nhau để ở trước bụng thoáng miết nhẹ, rất nhẹ thôi. Nhài Thanh cười. Cô nói một tràng, nói đến khi cổ họng khô khốc, nói đến khi bàn tay siết chặt. Xong xuôi, cô ngẩng đầu chờ Huê phản bác. Đợi Huê hiền thục học chữ Thánh Hiền nói lí lẽ lại. Chờ nàng giận, chờ nàng mắng, chờ nàng cãi.
Nhưng không...
Nàng im lặng, nàng ngồi yên. Nàng không phản bác, không tranh cãi, cũng không tức giận. Sự thản nhiên này càng khiến Thanh chướng mắt. Cô hít vào một hơi, toan xổ tiếp một tràng, nhưng vừa nghiêng mặt thì chạm vào đôi mắt kia. Thanh bỗng khựng lại. Mắt nàng không động. Đồng tử nàng đen kịt, sâu hoắm, không có một tia sáng.
Nàng mù. Nàng mù mà...
Cô quên mất. Nhìn nàng như vậy, cô không nghĩ là nàng mù. Nàng bình thản quá, nên cô nhất thời quên mất. Nhài Thanh cứng họng. Mãi một lúc lâu sau, cô mới buột miệng hỏi: "Mắt mày hỏng thật à? Không phải giả vờ chăng?"
"..."
"Vâng." Thị Huê cười mỉm.
"Mẹ tôi mất. Tôi thương nhớ mẹ, khóc đêm ngày, hoá mù thôi."
Nàng nói nghe đơn giản, mà Thanh nghe xong thì canh cánh trong lòng. Thanh vò đầu, vò đến mức tóc bung rối. Mãi lâu sau, cô mới nhớ ra, khoảng hơn tuần trước có lê la lên làng trên ăn xin, dăm ba hôm thì nghe người ta kháo nhau rằng dưới làng Đông Tụ có đám tang lớn. Nhưng mà khổ nỗi, trên làng trên bấy giờ có mấy đám cỗ. Mà tất nhiên, cỗ linh đình thì ngon hơn cúng vong. Cô ở lì trên ấy, ăn đến bốn năm mâm, no đến trướng cả bụng, thở còn chẳng nổi. Khi ấy, cô nghĩ mình lời to. Mà lời thật chứ chẳng bịp gì.
Bây giờ mới biết, hóa ra đám tang đó là của bà Kiệu, vợ ông Tộp, mẹ của Thị Huê.
Hóa ra...
Mẹ nàng đã chôn cỏ xanh.
Thanh ngậm miệng lại, một chữ cũng không bật ra nữa. Gió rít qua mái tranh, thổi lật mép áo cô. Thanh thấy lạnh, chẳng biết là lạnh gió, hay lạnh lòng nữa.
Bất thình lình, Thanh lại nghe thấy một tiếng nói nhỏ nhẹ vang lên bên tai, nhưng chứa đựng tầng tầng buồn phiền.
"Xin lỗi."
Rành rành là một lời xin lỗi.
"Tôi chưa từng hay rằng, dân ta lại có người sống khổ đến độ này. Tôi cũng không nghĩ, những phép tắc, lễ nghi ấy sẽ làm bao người chịu thiệt."
Thanh sững người, trưng đôi mắt tròn xoe. Xin lỗi? Người giàu cũng biết xin lỗi ư? Từ tấm bé đến giờ, cô chưa từng nghe thấy chuyện này bao giờ. Nhà giàu cứ hưởng, kẻ nghèo cứ chịu, đó không phải là quy luật của đời này hay sao? Quan phủ sai, kẻ bị đánh vẫn là dân. Chủ nhà quỵt tiền, thằng làm thuê chỉ có nước cúi đầu. Nhà giàu sống trên cao, kẻ nghèo dưới đất nhẫn nhịn, cha truyền con nối chẳng ai bàn cãi. Lệ đời đã sẵn, kẻ nào sinh ra ở đâu thì cứ thế mà ở đó, chẳng ai thắc mắc, chẳng ai dám đòi hơn.
Vậy mà nay, một tiểu thơ nhà họ Bùi, lớn lên trong vàng son lụa là, lại chịu mở miệng nói hai chữ này với một con bé đầu đường xó chợ?
Hay chỉ có mỗi Huê là khác? Nhài Thanh không chắc, nhưng lòng bỗng dậy lên một cảm giác khó tả. Cô nuốt khan một cái, cúi đầu nhìn xuống hai bàn tay sần sùi của mình.
Nghĩ cho cùng, chuyện này nào có phải lỗi riêng của cô, cũng chẳng phải lỗi của một mình Huê. Là lỗi của cả cái xã hội này. Một xã hội đã nát bấy từ lâu, nơi kẻ có thì cứ có, kẻ không thì cứ không, đứa mạnh thì hưởng, đứa yếu thì gánh. Mà chính cô cũng chẳng phải thánh thần, mấy lời khi nãy chẳng qua vì tức quá mà văng ra thôi, chứ nào có mong tiểu thơ nhà người ta phải chịu khó xử thế này. Càng nghĩ, Thanh càng thấy mặt mình nóng bừng. Chắc đỏ lắm rồi.
Nhài Thanh hắng giọng một cái, gãi đầu, nói lắp bắp: "Ờ ờ ừ, đâu phải lỗi của mày. Tao cũng chưa thấy mày chèn ép ai bao giờ. Cái, cái nãy là tao tức, tao nói điên nói ngộ thôi."
Nhài Thanh nói xong thấy ngượng quá, lại vội chữa tiếp: "Từ bé sinh ra tao đã ngộ ngộ vậy rồi, thỉnh thoảng lên cơn. Mày coi như chưa nghe gì đi."
Huê cười mỉm. Nàng nâng nhẹ bàn tay lên, đầu ngón tay thoáng chạm vào vạt áo của mình, nàng muốn chỉnh lại nhưng không biết vì cái gì lại thôi.
"Không làm cũng chẳng có nghĩa là vô can. Từ nhỏ, tôi đã có sẵn trong tay mọi thứ. Mà những thứ đó, có lẽ đều từ ai đó, ở đâu đó, đã nhường lại."
Nàng im lặng một chút... Thật lâu sau, một hơi thở dài thườn thượt trôi ra khỏi cửa miệng.
"Phải vậy không, Nhài Thanh?"
Thanh chớp mắt, lòng bỗng dưng có chút hoang mang. Cô chẳng phải đứa hay để tâm mấy chuyện cao xa. Nhưng cái cách tiểu thơ Thị Huê nói, nghe sao mà chua xót. Có điều, đó lại là sự thật. Những gì mấy vị tiểu thơ quyền quý hưởng được, chung quy lại cũng đều là cha mẹ tía má bọn nó bóc lột, chèn ép lũ dân đen. Thanh thở hắt, vung tay phẩy phẩy, từ chối trả lời câu hỏi của Huê. Thanh lảng đi.
"Thôi, khóc xong rồi thì về đi. Lão Tộp không thấy mày, thể nào cũng chạy đôn chạy đáo đi tìm, làm rộn lên hết."
Vừa dứt câu, con dở bỗng sực nhớ ra một chuyện.
"À mà khoan." Cô liếc sang, nhíu mày nhìn Huê: "Mày không nhìn thấy gì, thế bầy tớ của mày đâu? Đứng góc nào canh hả? Hay để tao làm phúc đi gọi hộ cho?"
Vừa nói, Thanh dở vừa nheo mắt nhìn quanh. Nhưng vườn trống mênh mông, ngoại trừ hai người, chẳng có lấy một bóng ai. Đúng lúc ấy, trong đầu cô có ánh chớp lướt qua. Thanh lặp lại lời Huê nói khi nãy: "Là cha cho người đưa tôi đến đây…"
Thanh ô một tiếng, mắt trợn trừng: "Á à, tao quên. Nãy mày nói lão Tộp đưa mày đến đây? Vậy là lão Tộp cho người đem mày đến đây thật. Lão quý mày như ngọc như ngà, vậy mà lại để mày lủi thủi một mình giữa chốn đồng hoang vườn rậm thế này?"
Thanh tặc lưỡi, chống tay lên hông: "Hay là mày lười học lười hành, làm lão giận rồi hả?"
Huê bật cười. Một tiếng cười nghe chừng mỏi mệt lắm. Nàng nhẹ nhàng xoay người, gương mặt hướng về khoảng không phía trước, ánh mắt mịt mờ lay động. Câu hỏi khi nãy, Thanh không trả lời nhưng nàng cũng sớm biết đáp án. Chẳng qua, nàng chỉ là muốn nghe thôi. Thị Huê thở dài. Chầm chậm, nàng buông lời: "Có nguyện nghe tôi tỏ đôi câu chăng? Lúc này đây, so với cô, tôi cũng chẳng khác là bao đâu."
Thanh tất nhiên là muốn nghe. Lòng hiếu kỳ đã đành, nhưng quan trọng hơn là cô cũng chẳng có cái thá gì phải làm. Việc trọng đại nhất trong ngày là ăn uống cũng đã xong, bây giờ ngoài chuyện ngủ nghê nghỉ ngơi nghĩ kế moi tiền mai sau, thì còn gì đáng bận tâm? Huống hồ, bấy lâu nay cô chỉ có thể ngắm Huê từ xa, chưa từng có cơ hội ngồi gần thế này. Mà lại còn sát nút nữa chứ. Nếu đã thế thì chẳng phải nên tranh thủ ngắm cho đã mắt hay sao? Nghĩ vậy, Thanh liền nói: "Có người chịu ngồi với Thanh Dở tao đã là quý lắm rồi, huống hồ còn tâm sự. Lại còn là một tiểu thơ xinh đẹp như mày nữa chứ."
Nói đến đây, dở gãi gãi đầu, bật cười. Cái mặt đỏ ửng lên, chẳng rõ vì sao.
"Nói chớ, mấy bận trước, cứ lúc nào tao ghé qua làng Đông Tụ, thế nào cũng rình ngắm mày. Ai biểu mày đẹp đến mức nhìn cả ngày cũng không chán chứ?"
Huê lắc đầu, chậm rãi nói: "Đẹp đẽ gì cho cam, tôi cũng chỉ là phận người như bao kẻ khác. Chẳng qua giữa một đám con gái lấm lem bùn đất, lại có kẻ mặt trắng tay ngà, thì người ta tự khắc xúm vào khen."
"Chỉ vậy thôi thưa Thanh."
Thanh không lật tẩy sự khiêm tốn của Huê. Ngược lại, cô bất giác cảm thấy cái con người này...
sao mà cái gì cũng tốt hết vậy. Đã đẹp người, lại còn đẹp nết nữa. Người ta có câu: "Cái nết đánh chết cái đẹp." Hoặc như Dở cô thì: "Cái đẹp đánh xẹp cái nết." Mà... Huê có tất cả hay sao ấy.
Thanh thầm thở dài. Đứng ngay bên cạnh người con gái này, là một tiểu thơ đoan trang đích thực. Cô thấy ganh tị, thấy có một chút gì đó gọi là tủi thân. Thanh ngửa cổ nhìn vầng trăng qua mái rạ lỗ chỗ hở, rơm mục theo gió rơi lả tả xuống nền đất ẩm. Khoé miệng cô hơi nhếch lên. Đã lâu lắm rồi, cô mới có cảm giác giống con người. Thanh nghiến răng, một bên chân đá đá xuống mặt đất rất nhẹ.
"Ừ... Mày sinh ra vốn dĩ là người, chứ có phải là chó của ai đâu?" Thanh nhẩm bụng như vậy.
Bốn phía tối mịt, chỉ có chút ánh trăng hạ tuần bạc nhạt len qua khe hở. Ngoài kia, ngọn chuối gầy guộc quặn mình trong gió, tàu lá rách bươm vỗ vào nhau phành phạch. Lũ côn trùng cũng nín bặt, chỉ còn tiếng gió xuyên qua bờ bụi, lùa qua mái lều, tạo thành một chuỗi âm thanh buồn rầu.
Thanh đưa tay vỗ vỗ mặt. Cô tiến tới giường tre rồi ngồi xuống, một chân co, một chân duỗi, vươn tay vào bọc áo. Đám vải sờn rách vướng vào đầu ngón tay, nhưng cô cứ lục lọi, rút ra một túi bóng dúm dó, cầm gọn trong lòng bàn tay. Thanh đưa lên ngang mặt, im lặng một lát, đoạn ngoác miệng cười khanh khách.
"Thôi, mày ăn chuối nướng không! Tao cất trong người từ chiều, vẫn còn hơi ấm đây. Chẳng phải cao lương mỹ vị, chỉ là món quê mùa thôi, nhưng mà tao dám chắc, cắn một miếng là thấy ngọt tận ruột gan. Vừa ăn, vừa kể cho tao nghe chuyện của mày được không?"
TThanh cúi xuống giở bọc túi bóng, đôi mắt liền sáng lên.
"Ê! Là chuối đôi đấy. Quá đã luôn." Nói xong, con dở cẩn thận tách đôi quả chuối nướng, thổi phù phù mấy cái rồi dúi vào tay Huê.
Huê không đáp, chỉ lặng lẽ dựa theo động tác của Thanh mà đưa tay đón lấy. Những ngón tay gầy guộc siết chặt lớp rám cháy, cảm nhận chút hơi nóng sót lại. Nhưng nàng chưa ăn ngay, chỉ giữ trong tay, mặc cho mùi thơm dìu dịu của chuối chín trộn với mùi khói ám lan lên cánh mũi. Huê ngồi co mình, đầu hơi nghiêng, lắng nghe âm thanh của gió mà nhập vào những dòng ký ức cũ. Thanh ngồi bên, lặng im không dám chen ngang. Thanh biết, câu chuyện sắp được kể không chỉ là chuyện của một người mẹ, mà còn là chuyện của cả một thời vang bóng. Chuyện của một mối tình rực rỡ rồi hóa thành tro tàn, của những tháng năm yêu thương tha thiết rồi lại trầm luân trong oán hận.
Năm ấy, mẹ nàng, bà Kiệu, hay nàng Kiệu, Trần Thị Thanh Kiệu
là giai nhân bậc nhất trong vùng.
Người ta ví nàn Kiệu là hoa lê giữa trời xuân, nhưng nếu chỉ thế thì chưa đủ. Nhan sắc nàng không phải thứ đẹp mong manh, sớm nở tối tàn, mà vững vàng tựa trăng sáng trên trời cao, càng nhìn càng cuốn hút, khiến người ta vừa trầm trồ, vừa lặng lẽ mà thương. Da nàng Kiệu trắng, mịn màng, lại ánh lên sắc hồng của sương sớm đọng trên cánh đào. Đôi mắt nàng tròn xoe, sâu thẳm, khi nhìn ai đều ánh lên sự dịu dàng. Mỗi khi Kiệu cúi mặt, hàng mi dài rủ bóng lên gò má, nét thẹn thùng ấy lại càng làm tăng thêm vẻ e ấp của một bậc khuê nữ đoan trang.
Thanh xuýt xoa cắt ngang lời kể: "Mày thừa hưởng nét đẹp của mẹ mày đấy. Thế mày thấy mày đẹp hơn bả không?"
Huê lắng tai nghe rõ. Nghe xong, nàng mỉm cười.
"Mẹ tôi há chẳng đẹp hơn tôi muôn phần. Tôi nào dám so bì cùng mẹ. Mẹ vốn đoan trang, dung hạnh vẹn toàn, ai ai cũng kính mến ngợi khen."
"Ừm!" Thanh gãi gãi mũi, thành thật nói: "Mẹ mày tao gặp mấy lần rồi đó."
"Suỵt!" Thanh đưa ngón trỏ đặt lên miệng, người nhích nhích lại gần Huê. Cô ghé vào, nhỏ giọng: "Tao nói cho mà biết! Là vợ chồng với nhau, vậy mà cha mày chẳng học được tánh nào từ mẹ mày hết. Mẹ mày thiệt tốt bụng, tốt hơn cha mày gấp trăm lần. Biết không? Tao gặp mẹ mày ở đâu, chưa kịp ngửa tay van xin, mẹ mày đã dúi cho tao đồng bạc, không có bạc thì cũng là gói bánh, trái bắp, chớ đâu để tao về tay không."
Huê nghiêng nghiêng đầu, khoé môi không tự chủ dâng lên một nụ cười. Thật lâu, nàng dịu giọng: "Ừm. Mẹ tôi đó."
Cái câu này, rõ ràng rất bình thường, vậy tại sao Thanh cô thấy có chi khang khác. Thanh nghiền ngẫm kĩ lại, cũng không nghĩ thêm được gì, vậy nên cô cũng không nghĩ nữa. Thanh cắn nửa quả chuối, nhai nhai, lại nhìn qua. Hình như, nàng rất thích nghe về mẹ mình?
"Mẹ mày đẹp lắm."
"Ừm. Điều này Huê tôi không bàn cãi. Từ lâu đã biết đó là chuyện tất nhiên."
"Lại còn thương người nữa." Thanh nghĩ lại những lần gặp Bà Kiệu. Càng hồi tưởng, cô càng thấy gương mặt hiền lành, nhưng có nét buồn buồn ấy hiện rõ hơn trong đầu. Mắt Thanh nheo nheo, tự nhiên chuối nướng, một trong những món khoái khẩu của cô, cô ăn không thấy ngon nữa.
"Lúc mẹ còn sống, mẹ thương kẻ hầu lắm. Mẹ còn dạy tôi phải đối xử tốt với họ, với cả người dân trong làng." Thị Huê nhỏ nhẹ đáp lời.
Thanh gật gật đầu: "Thế mày có nghe lời mẹ mày không?"
"Có chứ Thanh. Làm như vậy tôi cũng rất vui. Hơn nữa, mẹ còn khen tôi, xoa đầu tôi nữa." Thị Huê vui vẻ nói.
Thanh im lặng nhìn. Cô ăn xong quả chuối rồi, còn nàng thì chưa.
"Nhưng bây giờ, có lẽ không có cơ hội đó rồi."
Huê mỉm cười, thoắt cái, nàng đã buồn thành như vậy. Tâm trạng tiu nghỉu hẳn, có cố nhếch miệng thì cũng chỉ thành một nụ cười cứng ngắc. Thanh nuốt khan, đưa tay gãi gãi đầu. Bất chợt, con dở duỗi tay ra.
Một, hai, một, hai...
Tay cứ đưa lên rồi hạ xuống. Tiến tới rồi lại lui về.
Huê ngồi thẳng, nhưng vai nàng nhỏ quá lên trông chẳng hề vững vàng. Thanh cứ đâm nghĩ, chằm chằm quan sát. Thú thật, hành động con dở tính làm, nó trái với con người dở quá. Nhưng mà... Thanh liếc sang: Nàng đang rầu rĩ...
Thế là, Thanh đặt tay xuống đỉnh đầu Thị Huê. Bàn tay cô chạm vào tóc nàng.
BHuê ngẩn ra. Tuy rằng khuôn mặt không biểu hiện gì quá, nhưng khoé môi đã hơi mở vì ngỡ ngàng. Thanh chậm rãi di chuyển tay, nhẹ nhàng miết miết , xoa xoa. Được một chốc, Thanh rụt tay về, đầu cũng nghiêng sang hướng khác.
"Thanh vừa xoa đầu tôi đấy ư?"
"..."
"Ờ. Coi như tao khen mày đi. Mày đối xử tốt với dân trong làng." Thanh gãi gãi má, liếc nhìn nàng rồi quay đi.
Huê mỉm cười, nhẹ gật đầu. Trong lúc Thanh đang gỡ mớ suy nghĩ rối răm trong đầu, Thị Huê đã cất giọng: "Cảm ơn Nhài Thanh."
"..." Thanh khịt mũi, liếm môi. Mắt cô giật giật, lông mày nâng lên. Bao nhiêu cách thể hiện biểu cảm, cô đều trưng ra hết. Thanh dở quay lại, hắng cao giọng: "Thôi mày kể tiếp đi. Kể tiếp về mẹ mày ấy. Nhanh nào."
"Thanh không cần vội đâu, tôi nói kể thì sẽ kể cho Thanh nghe." Thị Huê nghiêng nghiêng người: "Vậy tôi kể tiếp nhé?"
"Kể đi. Còn phải hỏi tao làm gì." Thanh khó hiểu, cố gằn giọng quát. Mắt thấy Huê mở miệng định nói, chẳng biết trời xui quỷ khiến thế nào, cô lại hèm một tiếng mà xen ngang: "Tao."
"Tao gặp mẹ mày rồi. Cũng gặp mày rồi, thì... "
"Tao thấy, mày đẹp hơn mẹ mày cỡ năm lần. À không, Huê phải đẹp gấp mười lần Trần Thị Thanh Kiệu."
"Phì." Lập tức, Huê tủm tỉm cười.
Thanh hít một hơi, cũng chả hiểu sao mình thốt ra câu đó được. Ai hỏi cô đâu mà cô tự nói? Chậc! Thanh đưa tay giất giất tóc mình. Cô đúng là ngộ thật rồi! Điên mất thôi!
"Rồi rồi, kể kể!"
"Tiếp tục kể đi."
Thanh chặn ngang mọi hướng đáp của Huê. Mà Thị Huê cũng biết người bên cạnh đang xấu hổ, vậy nên nàng cũng không đáp lại nữa, rất nhanh chiều theo ý Thanh Dở, trơn tru kể tiếp.
Nước da, đôi mắt, hàng mi đẹp rồi thì tới đôi môi. Đôi môi Thanh Kiệu đỏ thắm, chỉ cần mỉm cười nhẹ thôi cũng khiến lòng người ngây dại. Nhưng đẹp nhất vẫn là mái tóc. Mái tóc ấy đen tuyền, dài đến tận thắt lưng, mỗi khi buông xuống thì cực kỳ suôn mượt. Những ngày nàng búi cao, đôi ba sợi nghịch ngợm rủ xuống bên thái dương, càng làm tôn lên nét mặn mà quý phái. Người trong vùng, mỗi lần nhắc đến Thanh Kiệu, đều xuýt xoa mà rằng.
"Không chỉ đẹp mà còn có khí chất, vừa dịu dàng như nước, vừa kiên cường như tùng bách. Cô nương ấy, nhất định phải là chính thất của bậc anh hùng."
Bởi vậy, biết bao nhà quyền quý sai mai mối đến dạm hỏi, nhưng nàng đều khéo léo từ chối. Người ta nói, trong mắt nàng Kiệu khi ấy, chưa từng có bóng hình ai, hoặc giả, nàng vẫn đang chờ đợi một đoạn nhân duyên mà trời định.
Và rồi, Bùi Văn Tộp xuất hiện.
Cậu là ai? Cậu không phải bậc anh hùng mà người ta ngóng trông, cũng chẳng phải bậc mỹ nam khiến người gặp là nhớ, nhìn là thương. Cậu chỉ đơn giản là một người đàn ông có dáng vẻ ưa nhìn, không thô kệch nhưng cũng chẳng hào hoa. Khuôn mặt cậu mang vẻ trung dung, đường nét không có gì quá nổi bật, chỉ có đôi ánh mắt lại sâu, đen láy, như lúc nào cũng ẩn giấu điều khó đoán.
Miệng cậu ít khi cười, đôi môi mỏng mím lại thành một đường ngay cả khi không nói vẫn tạo ra một cảm giác vừa trầm tĩnh, vừa xa cách. Trán cậu rộng, không hẳn là dấu hiệu của bậc hiền tài, nhưng lại toát ra vẻ từng trải, thấu sự đời. Làn da không quá ngăm, cũng chẳng trắng trẻo, chỉ có nét phong trần của kẻ từng bôn ba tính toán. Khi cậu Tộp đứng giữa đám đông, cậu không phải kẻ nổi bật nhất, nhưng là kẻ người ta không thể dễ dàng bỏ qua nhất, bởi trong dáng vẻ điềm nhiên ấy luôn lẩn khuất một nét gì đó thâm trầm lắm. Bùi Văn Tộp là con trai duy nhất của nhà họ Bùi, một gia tộc giàu có bậc nhất làng Đông Tụ. Cha mẹ mất sớm, cậu một tay quán xuyến gia nghiệp, đất đai ruộng vườn trải dài mấy huyện, vàng bạc đầy kho, quyền thế ngút trời. Vài người nói cậu mưu sâu kế hiểm, là người khéo léo, giỏi nhìn xa trông rộng.
Cả một vùng mênh mông, bao nhiêu đứa con gái vây quanh cậu, cậu chẳng màng ai, chỉ một lòng một dạ muốn rước nàng Thanh Kiệu về làm vợ. Bởi lẽ cậu Tộp đã đắm đuối người con gái duy nhất này của ông đồ cuối làng ngay từ lần gặp đầu tiên ở hội xuân. Chỉ một nụ cười e thẹn, một ánh mắt chớp nhẹ, một tà áo mỏng bay lên... cậu đã biết thế nào là thương.
Cậu Tộp mê nàng Kiệu đến độ quên ăn quên ngủ. Cậu không phải kẻ vụng đường tán tỉnh, nhưng đứng trước nàng Kiệu, bao nhiêu mưu lược bỗng hóa ra ngây dại. Trong vùng, ai cũng biết cậu Tộp là kẻ si mê đến mức buồn cười, mà lại chẳng ai nỡ cười cậu. Bởi sự si mê ấy không phải thứ hời hợt của kẻ lắm tiền nhiều của muốn lấy mỹ nhân làm vật trang sức, mà là thứ tình sâu dai dẳng, chẳng thể nào dứt ra được.
Cậu Tộp tin rằng Thanh Kiệu là định mệnh của cậu. Cậu cũng chắc mẩn chỉ có cậu mới xứng với nàng.
Và cách cậu Tộp theo đuổi người con gái đẹp nhất trong vùng, vừa chân thành, lại vừa buồn cười.
Người ta kể, ngày đó, cậu thuê hẳn một gánh hát đến ngay trước cổng nhà nàng Kiệu. Nhưng không phải hát chèo, cũng chẳng phải hát tuồng, mà diễn nguyên một vở kịch tình ái do chính cậu bỏ tiền thuê người viết. Vở diễn kể về một chàng phú hộ si mê nàng tiểu thư khuê các, bất chấp gia thế chênh lệch, bất chấp bao lời bàn tán, vẫn quyết tâm theo đuổi bằng cả tấm lòng. Người người kéo đến xem đông nghịt, vừa xem vừa cười. Họ không cười vì vở kịch dở, mà cười vì ai cũng hiểu, vở kịch ấy chẳng qua là chính câu chuyện của cậu Tộp và tiểu thư Trần, nhà gia giáo.
Lần thứ nhất, Thanh Kiệu vẫn điềm nhiên, chỉ đứng bên song cửa, lặng lẽ nhìn xuống đám đông, rồi lại khẽ khàng buông rèm, chẳng để lộ một chút phản ứng nào. Cậu Tộp không nản. Cậu bày trò khác.
Một ngày nọ, người hầu nhà tiểu thơ Kiệu bất ngờ nhận được một món quà kỳ lạ nhà họ Bùi. Một cây lựu lớn trĩu quả, rễ vẫn còn tươi, tán rộng che rợp cả một góc sân. Trên cây có buộc một tấm lụa đào, bên trên đề dòng chữ ngay ngắn: "Cây lựu này mỗi ngày ta đều tưới nước, chăm bón, nhìn nó lớn lên như lòng ta ngày càng nặng tình với nàng."
Nàng Kiệu nhìn cây lựu, chỉ cười,
lặng lẽ quay đi. Nhưng người trong nhà ai cũng thấy, dịp hiếm hoi, đôi má nàng thoáng ửng hồng. Cậu Tộp nghe loáng thoáng càng phấn khích, quyết tâm dâng lên mười phần. Có lần, cậu nấp sau bụi duối đầu làng chỉ để nhìn Thanh Kiệu đi chợ. Cậu đứng từ xa, thấy nàng trong bộ áo tứ thân màu thiên thanh, tóc vấn gọn mà chẳng giấu nổi vài lọn rủ xuống bên má, gương mặt dịu dàng, dáng đi khoan thai. Cậu lấy làm ngẩn ngơ. Nhìn một hồi, cậu quên cả việc mình đang nấp, cứ thế đứng trơ ra giữa đường. Đến khi một ông lão đi qua vỗ vai, cậu mới giật mình, lúng túng cười chữa.
"Chà, con chim sẻ nâu đậu trên cành mận, ngỡ ngàng nhìn thấy hoa mai nở giữa trời đông."
Lão già cười hề hề, nhổ một bãi nước trầu xuống đất, lắc đầu.
"Thằng này, si đến lú lẫn rồi."
Mà nào đã hết. Một hôm, cậu ra chợ huyện, thấy nàng Kiệu đứng lựa trâm cài đầu. Cậu nháy mắt với lão bán hàng, vỗ mạnh vào chiếc tráp gỗ, cất giọng sang sảng:
"Lão gia, trâm này bán thế nào?"
Lão già vừa ngước lên, cậu đã chỉ ngay chiếc trâm phượng cẩn xà cừ đắt nhất sạp. Người xung quanh ngạc nhiên, hô hào. Cậu Tộp nhìn nàng Kiệu mà rằng: "Ta muốn mua về cài lên đầu con trâu nhà ta. Nhưng nghĩ lại, con trâu chẳng biết làm dáng, hay nàng nhận hộ ta đi?"
Nàng Kiệu chỉ mỉm cười, lắc đầu không nhận, mấy người xung quanh thì cười ngặt nghẽo, trêu cậu là phú hộ mà tán gái vụng còn hơn cả thằng chăn trâu. Cậu không lấy làm phiền, chỉ đứng gãi đầu cười hề hề, rồi lẳng lặng gửi lại trâm trên sạp, dặn nhỏ ông bán hàng.
"Nàng có quay lại thì cứ nói là quà ta tặng, không lấy tiền."
Cậu Tộp tương tư nàng Kiệu đến mất ăn mất ngủ. Cậu tuy giỏi, tiếng lành đồn xa, nhưng không rành chữ nghĩa. Có điều khi si mê đã ngấm vào tim thì con người ta chẳng nề hà khó nhọc. Một tối nọ, cậu sai thằng hầu lẻn sang nhà nàng, nhét vào khe cửa một mảnh giấy nhỏ, trên đó là những nét chữ nguệch ngoạc, méo mó. Cậu dốc lòng viết từng chữ, nghiêng đầu nghiêng cổ, lẩm nhẩm.
"Thân gửi nàng Kiệu. Trăng hôm nay tròn, ta nhìn mà nghĩ đến nàng. Nếu nàng cũng nhìn trăng, thì tức là hai ta cùng ngắm chung một chốn. Nếu mai trăng khuyết, lòng ta cũng sẽ khuyết một nửa vì nhớ nàng."
Cậu đọc đi đọc lại, gật gù đắc ý, tưởng câu chữ mỹ miều lắm. Cậu Tộp nghĩ, với tài văn chương này, hẳn nàng Kiệu đọc xong sẽ động lòng, khuê phòng thao thức suốt đêm, để rồi mai gặp cậu mà hai má đỏ ửng. Nhưng cậu không ngờ, số phận mảnh thư ấy lại chẳng êm đềm như lòng cậu tưởng. Sáng hôm sau, một cơn gió mạnh từ đâu thổi qua, lách vào khe cửa, cuốn phăng mảnh giấy ra ngoài. Nó bay là đà, đáp xuống giữa đầu ngõ, đúng nơi đám trẻ con đang nô đùa. Chúng nó trông thấy liền nhặt lên, chạy ngược xuôi tới chỗ thầy đồ Nghiêm để thầy đọc cho.
"Thân tờ tân, gửi... Làng... làn Kiệu... Trăng hôm nay tòn... Cha nhìn."
Lão đồ Nghiêm, cha của Huê, đọc một lượt rồi trầm ngâm. Một lát sau, lão lắc đầu phán một câu chát chúa. Không phải là ý nghĩa của nó xấu xa, mà là nét chữ sai quá nhiều, rất vụng. Lũ trẻ nghe thấy thế, đứa nào cũng cười khanh khách. Cả bọn rú lên thích thú, mỗi đứa bắt chước giọng điệu sướt mướt đọc lại câu nọ câu kia, cười đến đỏ mặt tía tai. Tin tức lan nhanh, chẳng mấy chốc cả xóm trên làng dưới đều xì xào, kẻ cười kẻ chọc, kẻ xoa cằm tấm tắc.
"Đường đường là phú hộ mà viết thế này thì quá hỏng! Về học lại đi đã." Lão đồ Nghiêm răn.
Tin này đến tai cậu Tộp ngay sau đó. Thay vì xấu hổ, cậu lại càng lấy làm thích thú. Đã bao lâu nay cậu muốn lấy lòng lão đồ Nghiêm, nhưng chẳng có cớ mà tiếp cận. Nay lại có dịp trời ban, chẳng dại gì mà không nắm lấy! Thế là sáng hôm sau, cậu khăn áo chỉnh tề, đội khăn xếp, mang theo nén bạc đến nhà lão đồ, nghiêm túc xin học. Lão Nghiêm tuy có phần chê cậu chậm, nhưng thấy cậu thành tâm thì cũng gật đầu nhận lời. Cậu cứ thế học ngày học đêm, tay lăm lăm bút, miệng ê a đọc sách, mắt thì không quên trộm liếc về phía Thanh Kiệu mỗi khi nàng bước ngang qua. Tranh thủ những hôm nàng pha trà giúp cha, cậu còn cẩn thận bắt chuyện. Một công ba việc, vừa có cơ hội học chữ, vừa có thể lấy lòng cha nàng, vừa có thể thỉnh thoảng nói chuyện vài câu với nàng. Văn Tộp lấy làm mừng vô cùng.
"Văn chương lai láng rồi sẽ đốn tim nàng Kiệu!" Cậu nghĩ, hý hửng nắm chặt cây bút, vẽ lên trang giấy những nét chữ dẫu còn xiêu vẹo, nhưng chứa chan cả một tấm lòng si mê.
Những chiều hôm khác, cậu Tộp vẫn lò dò đến, lần này chẳng gửi thư nữa, mà chỉ đứng từ xa, nhặt một viên sỏi ném vào sân. Nàng Kiệu trong nhà cũng biết ai vừa đến, nhưng vẫn giữ vẻ thản nhiên chưa hay biết điều gì. Cậu cứ vậy, hết lần này đến lần khác, chẳng bao giờ bỏ cuộc. Đến mùa hội xuân, cậu lại bày một trò tán tỉnh. Biết nàng Kiệu thích những thứ tao nhã, cậu bèn mang con gà chọi quý nhất chuồng, dắt theo đến hội làng. Nhưng thay vì đem ra chọi gà, cậu lại ngồi xổm ngay bãi đất trống, tay ôm gà thủ thỉ: "Này, mày mà được nàng ấy nhận nuôi thì là phước ba đời. Gà thiêng, gà cưng, gà quý. Tao nuôi mày từ bé, bây giờ là lúc mày đền ơn. Nàng nhận, khi ấy đổi hồn cho tao nghe chưa? Tao hồn gà, cho mày hồn người luôn."
Mấy người đi qua không khỏi phì cười với nước đi này của cậu Tộp. Cậu Tộp chẳng quan tâm, chỉ ôm gà quý ngồi dưới gốc cây me. Đến khi nàng Kiệu cùng người nhà ngang qua, cậu lập tức đứng dậy, ôm con gà đến, dịu dàng chân tình nói: "Nàng xem, gà này lông mượt, cựa sắc, gan dạ hơn cả đám trai làng! Nếu nàng nhận nuôi, nó nhất định chỉ gáy gọi tên nàng, không để mắt đến gà mái nào khác."
Nàng Kiệu nghiêng đầu ngắm con gà một lát, khẽ cười bảo nhỏ:
"Nhưng ta không biết nuôi gà chọi."
Cậu Tộp nghe thế, tưởng nàng có ý nhận, vội vàng đáp ngay: "Không sao! Ta nuôi giùm nàng, nhưng gà vẫn tính là của nàng! Như thế ngày ngày ta liền có cớ đến thăm... à không, không, có cớ để báo nàng biết nó lớn đến đâu!"
Thanh Kiệu chỉ cười mỉm trước mặt cậu nhưng vẫn không nhận. Mà cậu có nào cảm thấy buồn, cậu thấy vui chứ. Vui đến muốn điên. Bởi nàng ấy lần đầu tiên chịu cười với cậu. Nhưng rồi, một hôm, cậu Tộp không bày trò nữa. Cậu sai người làm một chiếc khung cửi gỗ mun, khắc lên đó câu thơ.
"Sợi tơ xe mối duyên lành,
Dệt bao nhiêu sợi, thương nàng bấy nhiêu."[1]
Chiếc khung ấy, cậu Tộp chỉ hi vọng mỗi khi nàng Kiệu ngồi dệt vải, đều gợi lên một ý niệm mơ hồ về một bóng dáng si tình nào đó, ngày ngày vẫn đứng chờ ngoài ngõ. Nhưng, đáng tiếc thay, chiếc khung cửi bị gửi trả. Lại lần khác, cậu cất công mua một đôi giày lụa thêu chỉ vàng ở tận kinh thành, vốn là thứ chỉ nhà quan lại mới dám mang. Nhưng cậu không đường đường chính chính đem tặng, mà sai một đám trẻ con đem đến cổng nhà nàng Kiệu, đặt ngay thềm rồi chạy biến đi. Khi nàng Kiệu bước ra, chỉ thấy một đôi giày lạ, mà không biết ai gửi. Người hầu trong nhà xôn xao, đoán già đoán non, cười thưa.
"Không chừng là của cậu cả nhà họ Bùi. Cái trò tán tỉnh này, ngoài cậu ấy ra thì ai mà nghĩ ra được thưa cô."
Thanh Kiệu không phản ứng, lần nữa sai người đem đôi giày lụa trả lại, còn dặn thêm: "Hãy nói với cậu ấy, lòng ta không phải thứ có thể mua được bằng những thứ đắt tiền.”
Nhưng cậu Tộp lại chưa hiểu ý nàng. Cậu vẫn tặng quà, nấp rình, ngày ngày bày trò tán tỉnh, nhưng đều không ăn thua. Cậu ngồi nghĩ mãi, cuối cùng cũng nhận ra rằng, nếu cứ dùng của cải, e rằng Thanh Kiệu sẽ càng xa lánh mình. Bởi nhà nàng cũng thiếu gì tiền đâu. Cậu bèn nghĩ cách khác: làm thơ. Cậu học bao nhiêu chữ nghĩa từ cha nàng cơ mà, lí nào lại không làm được? Hơn nữa, nàng còn thích người học tài, văn hay đầy mình. Bây giờ cậu làm được thơ, viết được văn, nàng sẽ có cái nhìn khác. Thế là, để chứng minh tài trí và chân tình lòng mình, cậu Tộp thức suốt một đêm dưới ánh đèn, vừa nhấp rượu vừa gãi đầu suy nghĩ, đến khi trời gần sáng mới viết xong hết tâm tư. Cậu Tộp sai người chép lên tấm lụa đào, rắc thêm chút hương sen rồi đem đến nhà nàng Kiệu.
Bốn câu thơ to đùng đập vào mắt:
"Mây trắng lững lờ trôi cuối nẻo,
Nước sông chảy xiết cuốn tình ai.
Nếu duyên chẳng thể nên đôi lứa,
Chỉ mong như bóng với hình hoài."[2]
Nàng Kiệu cầm lấy mảnh lụa, đọc xong mặt trước liền cẩn thận lật lại mặt sau. Kiểm tra cẩn thận, tỉ mỉ mới phát hiện ra một tờ giấy kẹp ở bên trong. Nàng chỉ im lặng. Không ai biết Thanh Kiệu nghĩ gì, chỉ thấy ngón tay nàng vuốt nhẹ lên chữ viết, ánh mắt thoáng chút mơ hồ.
Bài thơ đằng sau ấy có tựa đề năm chữ: Kiệu làm vợ tôi đi. Câu văn chẳng xa hoa lắm, nghe có chút buồn cười. Giống hệt nghĩ gì viết nấy vậy. Nội dung bài thơ được con bé hầu đọc lớn.
"Kiệu ơi, trăng sáng lầu hoa,
Ta xin một mối duyên nhà cùng nhau.
Rước nàng kiệu đỏ hoa cau,
Mâm vàng tráp bạc, trầu cau kết tình.
Kiệu ơi, gió thoảng sân đình,
Lòng ta một mảnh chung tình với ai?
Về đây áo lụa trải dài,
Nhà cao cửa rộng, trăng soi song thềm.
Trọn đời giữ lấy êm đềm,
Nâng niu tiếng nói, êm rèm gió qua
Chẳng để nước mắt rơi xa
Chỉ mong má thắm như vừa xuân sang.
Kiệu ơi, gật nhẹ lời vàng,
Ta xin giữ trọn đá vàng cùng nhau."[3]
Người trong phủ bà Kiệu, từ thằng ở đến bà mối, nghe xong ai cũng cười nghiêng ngả, bảo rằng: "Ôi chao. Cậu Phú Tộp dẻo mồm quá! Bài thơ nghe có tình lắm chớ đùa."
Ngay cả cha nàng cũng gật đầu. Còn nàng Kiệu, nàng đọc xong thì mím môi.
"Quả thực văn thơ của cậu Tộp đã cải thiện mấy phần." Rồi nàng xoay người, má hơi đỏ, nhưng vẫn chỉ nói một câu ngắn ngủn với đám đầy tớ.
"Để xem lòng người có bền không đã."
Sau hôm ấy, cả vùng đều đồn rằng, trái tim nàng Kiệu có lẽ đã bắt đầu động rồi. Và thế là cậu Tộp lại có thêm lý do để ngày đêm đeo đuổi.
Cuối cùng, khoảng chừng đủ một trăng (2), giai nhân một vùng cũng xiêu lòng.
-Hết chương 8-
Chú thích:
(1) Cúi lòn: Cúi lòn là hành động tỏ ra hèn mọn, khúm núm, luồn cúi trước người khác để được lợi hoặc tránh bị tổn hại. Nó mang ý nghĩa tiêu cực, thể hiện sự thiếu tự trọng, sẵn sàng nhún nhường một cách quá mức, đôi khi đến mức đáng khinh.
(2) Đủ một trăng: đủ một tháng.
1. Hai câu thơ trong bài thơ Thương, Tinh An.
2. Bài thơ Mộng Tình, Tinh An.
3. Bài thơ Đằm Duyên, Tinh An.
Bình luận
Trần Thanh Huyền
Hay quá tác già ơi 👏👏🙌🙌👏 hóng quá lun
Trần Thanh Huyền
Có lịch đăng chương kh tác giả ơi
Lan Lyy 🐶🐶
Hay quá Tinh An ơi hóng chương mới
Trần Thanh Huyền
Chưa có chương mới à tg oi
Trần Thanh Huyền
Chưa có chương mới à tg oi
Trần Thanh Huyền
Hú hú
Thủy Trần
Ra chương tiếp đi tác giả ơi truyện đúng gu hay lawmz
tô mỳ tôm
Lâu quá tác giả ơi, từ ngày 26 tháng 3 tới giờ dồiii ra chương đi ạ mình thích truyện tavs giả lắm
Minh Nhi Mê GL
Chưa có chương tiếp à tác giả ơi, lâu quá zịii
tô mỳ tôm
Alo tác giả, tác giả còn sống không tác giả ơi 😃😃😃
Trần Thanh Huyền
Ôi tác giả owiii 😭😭😭😭😭😭😭 chương mới đâu