Chương 19: Tương sinh tương hợp
Nhà chính lúc này đã được dọn dẹp tươm tất.
Bà Ánh ngồi ở ghế trên, bên cạnh là bà mối đang cười nói niềm nở. Trên bàn bày sẵn ấm trà nóng cùng mấy đĩa bánh, khói nghi ngút bốc lên xua bớt cái rét đầu đông.
Thấy phú ông bước vào, bà Ánh liền cười nói: “Ông sang rồi đấy à.”
Bà mối thấy vậy cũng vội đứng dậy chào hỏi: “Dạ chào ông.”
Phú ông gật đầu đáp lễ rồi ngồi xuống ghế.
Bà mối mà bà Ánh mời tới là người có tiếng trong vùng, quanh năm làm mai mối cho không ít gia đình. Tuy trong lòng có đôi chút thắc mắc khó hiểu vì giờ vừa sang đầu tháng Chạp, hiếm nhà nào quyết định chuyện cưới xin vào thời điểm này, nhưng bà vốn là người biết điều nên chuyện không nên hỏi thì tuyệt nhiên bà sẽ không hỏi.
Bà Ánh lấy từ trong hộp gỗ ra tấm canh thiếp của Lê Bách, cẩn thận đặt vào tay bà mối.
“Phiền bà sáng mai sang nhà gái một chuyến. Nhờ bà hỏi giúp ngày sinh tháng đẻ của con bé, rồi xin canh thiếp mang về đây. Nhà tôi sẽ mời thầy xem số đối chiếu tuổi mệnh của hai đứa. Nếu mọi sự đều thuận thì sẽ chính thức sang nhà thưa chuyện cưới xin.”
Bà mối hai tay nhận lấy tấm canh thiếp, mỉm cười đáp: “Dạ, ông bà cứ yên tâm. Chuyện này tôi nhất định sẽ lo chu toàn.”
Rạng sáng hôm sau, bà mối theo lời dặn của vợ chồng phú ông, mang theo đôi nhạn, một tráp trầu cau cùng vài vò rượu nếp sang nhà thầy đồ Quý ngỏ lời cầu hôn và xin canh thiếp của Đông Nghi.
Thầy Quý vốn đã chuẩn bị từ trước sau khi hai bên thưa chuyện xong, ông liền trao canh thiếp của con gái cho bà mối mang về phủ họ Lê.
Canh thiếp được đưa về phủ ngay trong ngày. Bà Ánh liền kín đáo sai người mang chút lễ tới biếu thầy xem số, nhỏ giọng dặn dò rằng dù thế nào cũng phải luận cho đôi trẻ là hợp mệnh. Ông thầy nhận lễ thì chỉ biết cười trừ, trong bụng còn nghĩ phen này đành phải thuận theo ý chủ nhà.
Đến giờ lành, ông theo lời mời của nhà họ Lê tới phủ xem lá số.
Giữa chính sảnh, bàn hương án đã được bày biện ngay ngắn, hai tờ canh thiếp được đặt song song trên mặt bàn.
Thầy xem số vuốt phẳng hai tờ canh thiếp rồi cẩn thận đối chiếu từng nét bút, từng can chi bát tự. Ban đầu ông chỉ định xem qua rồi luận vài câu cho xong chuyện. Thế nhưng càng xem đôi mày ông càng nhíu chặt hơn, vẻ hời hợt trên gương mặt cũng dần biến mất, thay vào đó là sự kinh ngạc không sao che giấu được.
Ngón tay ông dừng lại trên hai lá số hồi lâu. Một lúc sau, ông mới ngẩng đầu, vuốt chòm râu bạc, chậm rãi nói: “Thật tốt, hai lá số này chẳng những không hề có xung khắc, mà còn tương sinh tương hợp rất hiếm thấy.”
Bà Ánh khẽ mỉm cười, còn phú ông Lê Quân cũng gật đầu, vẻ mặt ông giãn ra thư thái hẳn.
“Được như lời thầy vậy thì tốt quá. “ Nói rồi phú ông lại hỏi thêm “Thầy xem giúp cho nhà tôi trong tháng này có ngày nào hợp để tổ chức lễ không?”
Thầy xem số bấm đốt ngón tay tính toán một hồi rồi đáp: “Ba ngày nữa là ngày tốt để nhà trai mang sính lễ sang làm lễ hỏi. Còn ngày mười lăm tháng này là cát nhật, rất hợp để cử hành hôn lễ và rước dâu.”
Phú ông hài lòng gật đầu: “Được, vậy cứ sắp xếp theo lời thầy đi.”
Ông quay sang bà mối, dặn dò: “Nhờ bà sang nhà thầy đồ Quý báo giúp. Ba ngày nữa nhà họ Lê sẽ mang sính lễ sang làm lễ hỏi, đồng thời cũng báo luôn ngày mười lăm tháng này là ngày rước dâu để bên ấy sớm chuẩn bị.”
“Dạ, ông cứ yên tâm.” Bà mối cúi đầu nhận lời.
Sắp xếp xong mọi việc, phú ông lại sai người sang mời các vị trưởng bối trong họ Lê tới phủ để cùng bàn bạc, chuẩn bị chu toàn cho hôn sự của cậu cả.
Bà Ánh cũng tất bật chả kém, bà sai dì Sáu đi cùng bà mối sang nhà thầy Quý báo ngày đưa sính lễ và ngày rước dâu.
Sau khi truyền lại lời của bà lớn, dì Sáu lấy từ trong tay nải ra một túi vải nhỏ.
Dì vốn định đưa cho bà Phượng để bà ấy lo liệu việc cưới xin, nhưng thấy ánh mắt bà Phượng chăm chăm nhìn túi tiền không rời dì Sáu khẽ khựng lại. Nghĩ một lát, dì quay sang đặt túi tiền vào tay thầy Quý.
“Anh Quý, đây là mười quan tiền bà lớn sai tôi mang sang. Bà dặn thầy dùng số tiền này sắm sửa thêm áo quần, chăn màn và những thứ cần thiết cho cháu Nghi để ngày xuất giá được tươm tất, khỏi mang tiếng nhà gái sơ sài. Những thứ quan trọng như cỗ bàn, rạp cưới và mọi nghi thức hai họ ông bà lớn đã có sắp xếp riêng, ông bà sẽ lo sao cho tươm tất nên hai anh chị đừng bận tâm.”
Thầy Quý vội vàng từ chối đôi ba câu, nhưng dì Sáu chỉ cười đáp lại: “Đây là tấm lòng của ông bà lớn, anh cứ nhận lấy đi đừng ngại.”
Bà Phượng đứng bên cạnh cứ nhìn chằm chằm túi tiền, trong lòng đã sớm tính toán đủ điều. Bà định bụng sẽ cất đi phân nửa để tiết kiệm, chỉ sắm sửa qua loa cho có lệ mà thôi.
Nào ngờ vừa tiễn bà mối và dì Sáu ra khỏi cổng, thầy Quý đã cầm túi tiền quay sang nhìn vợ, nghiêm giọng ra lệnh: “Mười quan tiền này là để lo hôn sự cho con Nghi, bà đừng có nảy sinh ý nghĩ khác đấy.” Ông dừng một chút rồi nói tiếp: “Nếu để nhà trai thấy nhà mình chuẩn bị qua quýt, thiếu trước hụt sau, chẳng những họ trách nhà mình thất lễ mà người chịu thiệt cuối cùng vẫn là nhà mình thôi.”
Bị chồng nói trúng tim đen bà Phượng chỉ đành bĩu môi hừ lạnh, trong lòng tuy không cam tâm nhưng cũng đành gật đầu, tạm thời dẹp bỏ ý định giữ riêng số tiền ấy.
Ba ngày sau, đúng ngày đã định, nhà họ Lê mang sính lễ sang nhà thầy đồ Quý.
Từ phía xa, một đoàn người đông đúc đã xuất hiện.
Dẫn đầu là vợ chồng ông Quân cùng bà Ánh, theo sau là gia nhân nhà họ Lê, người khiêng lễ, kẻ bưng tráp, đội hình ngay ngắn như một hàng rắn dài chậm rãi trườn qua lối làng. Tiếng chân người, tiếng gỗ va vào nhau, tiếng gọi nhau khẽ khàng tạo thành một thứ âm thanh vừa trang trọng vừa rộn ràng.
Cả con đường dẫn từ đầu làng tới cửa nhà thầy Quý như bị lấp đầy bởi sính lễ.
Tráp đỏ nối tráp đỏ, hộp gấm xếp chồng ngay ngắn, trang sức vàng bạc lấp ló dưới ánh nắng. Những bộ y phục lụa là được gấp cẩn thận, từng nếp đều phẳng phiu như được đo ni đóng giày từ trước. Xen giữa là những rương bạc trắng nặng trĩu, được khiêng bởi mấy gia nhân lực lưỡng, bước đi chậm rãi nhưng chắc nịch.
Ngoài lễ vật quý giá, phú ông còn sai người chuẩn bị mấy chục vò rượu nếp to tướng buộc dây rơm chắc chắn, mùi thơm lan ra theo từng bước đi, khiến không khí thêm phần ấm áp. Và đặc biệt nhất là con lợn sữa quay vàng ruộm, da bóng căng, mùi thơm béo ngậy lan khắp cả một góc đường.
Bọn trẻ con trong làng chạy theo từ xa, mắt tròn xoe, vừa chạy vừa hít hà.
“Thơm quá đi thôi!”
“Nhà ai mà giàu dữ vậy trời!”
Người lớn đứng ven đường cũng xì xào bàn tán, vừa tò mò vừa ngưỡng mộ. Có người đoán là hỏi vợ nhà quan, có người lại chắc mẩm là chuyện đại hỷ của nhà phú ông.
Khi đoàn sính lễ dừng lại trước sân nhà thầy Quý, bà Phượng đã đứng chờ sẵn từ lâu.
Vừa thấy đoàn người nhà trai, bà lập tức nở nụ cười tươi rói đến mức gần như không khép miệng lại được, giọng nói bà cũng cao hẳn lên, vang vang đầy phấn khởi: “Ôi chao ôi! Quý hóa quá, quý hóa quá!”
Bà bước tới đón từng người, không sót một ai, hết người này lại quay sang người kia, miệng nói không ngừng:
“Dạ dạ, mời bác vào, mời ông bà vào trong! Ông bà đi đường xa vất vả quá rồi!”
“Ấy, sính lễ đẹp quá, nhà ông bà thật là có lòng!”
“Cẩn thận chút, để tôi gọi người ra phụ!”
Bà Phượng vừa nói vừa cười, tay chân tất bật dẫn đoàn người đi vào sân như thể đây là chuyện vui nhất đời bà. Ánh mắt bà lấp lánh niềm hãnh diện xen lẫn chút đắc ý, như thể chính bà là người hôm nay đi lấy chồng ấy.
Ngoài cổng tiếng kèn bỗng vang lên báo hiệu nghi lễ sắp bắt đầu.
Minh Thư chạy ù vào nhà trong, mái tóc còn rối vì chạy vội, hơi thở gấp gáp nhưng đôi mắt lại sáng rực vì phấn khích.
“Chị ơi! Ngoài kia đông lắm luôn!” Nó cứ nói liến thoắng, chẳng kịp để Đông Nghi trả lời. “Sính lễ nhà trai mang tới trải dài từ tận cổng làng tới tận nhà mình luôn á! Tráp đỏ, rương bạc, rượu, rồi còn có cả lợn quay thơm lắm lắm luôn.”
Đông Nghi đang ngồi bên khung cửa sổ, tay vẫn cầm kim chỉ may váy cưới, nghe em kể vậy thì khẽ dừng lại.
Minh Thư vẫn chưa hết hào hứng, tiếp tục nói nhanh như sợ quên mất: “Phú ông với bà lớn đang ở ngoài kia bàn chuyện. Bà lớn còn cười nhiều lắm, nói là rất ưng chị làm con dâu nữa!”
Nói xong Minh Thư cười lên khúc khích, rồi như chợt nhớ ra điều gì nó vội vàng quay người chạy ra ngoài: “Thôi em đi ra ngoài ăn cỗ nha, không là hết phần mất!”
Tiếng chân nhỏ dần rồi mất hẳn sau cánh cửa khiến căn phòng lại trở về yên tĩnh.
Đông Nghi ngồi lặng trong phòng, hai bàn tay vô thức xoa lên bờ má đang nóng ran. Tiếng cười nói ngoài sân, tiếng chiêng trống, tiếng chúc tụng vọng vào không ngớt khiến cô thấy mọi thứ như một giấc mộng.
Đến khi lễ nạp trưng hoàn tất, nhà họ Lê lần lượt cáo từ ra về. Nhà thầy đồ Quý thì mở tiệc đãi họ hàng, làng xóm đến tận chiều muộn, cả căn nhà nhỏ hiếm khi nào lại đông vui và rộn rã đến thế.
Những ngày sau đó, chuyện nhà họ Lê sang hỏi cưới Đông Nghi lan khắp làng như gió cuốn.
Đang ăn cơm người ta cũng bàn tán
Đang đi chợ người ta cũng bàn tán.
Đánh gánh nước người ta cũng bàn tán.
Ai gặp nhau cũng phải dừng lại bàn tán đôi câu.
“Hay tin gì chưa?”
“Con gái lớn nhà thầy đồ Quý ấy hả?”
“Là được cưới về làm vợ cả thật chứ không phải làm lẽ đúng không?”
Họ hàng cô dì chú thím gần xa cũng lục tục sang nhà thầy Quý hỏi han tình hình, có người còn muốn vay tiền nhưng đều bị bà Phượng từ chối khéo.
Đỉnh điểm là khi có bà hàng xóm còn dắt theo con gái đến tận nhà thầy Quý, bóng gió hỏi xem nhà họ có muốn mua người hầu không, nếu cần thì con gái nhà mình chịu khó sang hầu hạ mợ cả cũng được.
Nghe đến đó, bà Phượng tức đến đỏ mặt. Bà xắn tay áo, vác luôn cây cuốc dựng ở góc sân đuổi người ta chạy một mạch ra tận đầu ngõ, vừa đuổi vừa quát: “Tiên sư nhà chúng mày! Cút hết cho bà!” Bà Phượng chống nạnh chửi um lên. “Phúc nhà ai thì nhà nấy hưởng. Con gái nhà bà còn chưa về nhà chồng, chúng mày đã vội nhòm ngó rồi. Liệu hồn mà tránh xa cái cổng nhà bà ra, còn dám vác mặt sang lần nữa thì bà đào cả mả tổ nhà chúng mày lên đấy!”
Sau lần đó ít người sang thăm hỏi nhà thầy Quý hẳn.
Nhưng dù sao thói đời là thế, hễ có ai sung sướng hơn mình thì sẽ có người tiếc, có người ghen, có người lại than thân trách phận.
Nhưng có lẽ người đang thấy bức bối trong lòng nhất bây giờ là cậu ba nhà Xã trưởng.
Cậu Tú ngồi trong sân, nghe người hầu kể lại mà mặt càng lúc càng tối. Chiếc chén trà trong tay bị bóp vỡ tan tành.
“Mày nói lại cho tao nghe.”
Người hầu đứng bên khẽ nuốt nước miếng, lắp bắp thưa chuyện: “Con nghe bảo, cô Nghi được hỏi cưới cho cậu Bách nhà ông Quân rồi ạ.”
Cậu Tú gằn lên từng chữ: “Thằng Bách á? Thằng chó đấy thì có gì hơn tao? Tại sao Đông Nghi lại chọn nó chứ không phải chọn tao?” Hắn ta ngửa đầu cười nhạt: “Hay thật đấy, chẳng phải trước đấy thằng Bách còn chê cả tiểu thư quan tri phủ hay sao? Bây giờ nó lại quay ra cướp người của tao à?”
“Uổng cho thời gian qua tao phải cất công đon đả ngọt nhạt với con bé kia, biết thế cứ đút cho nhà nó vài chục quan tiền có phải cưới được nó luôn không?” Tú hận tới nghiến răng nghiến lợi.
Dù sao hắn cũng ưng ý Đông Nghi từ lâu, cũng không ít lần tìm cách tiếp cận, ngỏ ý cưới hỏi thế nhưng lần nào cũng bị cô khéo léo từ chối. Hắn vốn tưởng chỉ cần kiên nhẫn thêm chút nữa, sớm muộn gì một cô gái nhà nghèo như Đông Nghi cũng sẽ gật đầu. Nào ngờ giữa đường lại xuất hiện Lê Bách. Chỉ trong chớp mắt, người con gái mà hắn nhắm tới đã sắp trở thành vợ của kẻ khác.
Thằng hầu đứng bên cạnh thấy sắc mặt cậu chủ nhà mình càng lúc càng khó coi thì không dám hé nửa lời.
Sau một hồi suy tính Tú mới cười khẩy: "Chẳng phải vẫn còn chưa rước dâu sao? Là vợ của ai còn chưa biết được đâu!”
Tên hầu nghe vậy thì giật mình ngẩng đầu lên, thăm dò hỏi: "Ý cậu là..."
Tú nhếch mép, ánh mắt hiện lên vẻ hiểm độc. "Tao chỉ thấy tiếc thôi, một con bé vừa có nhan sắc, vừa khéo léo như thế lại để rơi vào tay thằng Bách thì thật uổng phí."
Hắn ta cầm chén trà khác lên, xoay xoay trong tay rồi chậm rãi nói: "Đã thế thì tao càng muốn xem xem thằng Bách có rước được vợ về nhà không.”
Đúng lúc ấy ngoài sân vang lên tiếng bước chân, ông Xã trưởng từ ngoài đi vào. Vừa nghe thấy lời nói ngông cuồng của cậu con trai, ông đã cau mày.
"Mày lại định làm trò gì đấy hả?”
Tú lập tức thu lại vẻ mặt, đứng dậy hành lễ. " Dạ, thưa thầy."
Xã trưởng liếc nhìn chén trà bị bóp nát rơi dưới đất, lạnh giọng nói: "Nghe nói nhà ông Quân sáng nay đã mang sính lễ tới hỏi cưới con gái nhà đồ Quý xong xuôi rồi, thầy cấm mày đi gây chuyện với nhà người ta đấy nghe chưa."
Tú mím môi không đáp lời.
Xã trưởng nhìn con trai một lúc rồi nói tiếp: "Nhà đồ Quý giờ đã là thông gia nhà ông Quân, mày mà dám động đến con bé ấy thì đừng gọi tao là thầy nữa.”
Xã trưởng nhìn đứa con trai út mà chỉ thấy đau đầu. Hai người con trai lớn của ông đều đã yên bề gia thất, biết lo làm ăn, chỉ có mỗi thằng Tú suốt ngày lêu lổng, ăn chơi phá phách, lại chẳng biết trời cao đất dày là gì.
Nay nó còn dám ôm lòng hơn thua với thằng Bách nhà ông Quân cơ chứ.
Ông chỉ biết khẽ thở dài. Người ngoài nhìn vào cứ tưởng chức Xã trưởng của ông oai phong lắm, nhưng trong lòng ông hiểu rõ hơn ai hết. So với gia thế và thế lực của nhà họ Lê, cái chức Xã trưởng của ông chẳng đáng đáng nhắc đến. Nhà họ Lê giàu có nhiều đời, giao thiệp rộng, trên huyện dưới phủ đều có người quen biết. Nếu thật sự đắc tội với họ, chỉ e người chịu thiệt trước lại chính là nhà mình mà thôi.