Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Khoảng những năm Chính Hòa, ở huyện Phù Hoa thuộc trấn Hưng Hóa thường có một nhà sư chẳng rõ từ đâu đến, lai vãng khắp làng trên xóm dưới xin cơm ăn. Mỗi tháng đâu đó đôi ba ngày. Ông ta người ngợm chẳng ra làm sao, quần áo rách chẳng buồn vá, đi chân trần ôm cái bát mẻ thí thực. Hẳn ai cũng nghĩ ông sư này tu tròn cái hạnh đầu đà của mình, nhưng thực ra sư chẳng chê thịt rượu bao giờ, ai cho gì thì ăn nấy. Đến quá Ngọ, nếu an ninh vô sự là lại bặt tăm biệt tiếng. Từng có người nối gót đi theo để lần tung tích, nhưng vừa đến lưng chừng sơn đạo là nhân ảnh khuất dạng.

Ban đầu dân huyện ấy còn lấy làm sự lạ, cho là lão ăn mày ở đâu đó giả làm tăng để lừa miếng cơm ăn. Dù sao đương triều sùng đạo, chuyện mượn danh thiền môn để mưu sinh cũng là việc thường. Xưa nay lắm lúc Nho Phật chẳng hợp, hạng môn sinh vườn hạnh đâu mấy khi coi trọng nhóm tăng nhân rừng tùng. Nói chẳng chi xa, ngay ở trong huyện có anh cống, bụng dạ tự cho là nhiều chữ nên sinh ra ý vặn vẹo hòng vạch mặt lão ma tăng lâu nay cứ chực chờ lừa gạt cơm gạo lương dân.

Tiết Vu Lan[1], anh cống sinh vừa đi cấy về thì bắt gặp lão tăng đang nằm ngủ dưới gốc đa già, hai chân gác lên thân cây trông chẳng khác gì người treo ngược. Từ xa đã có thể ngửi được mùi rượu nồng nặc trên người lão. Vốn ý muốn vạch trần, anh ta bèn lại gần, dúng dắng hỏi: “Kìa ông tăng treo ngược! Tôi đọc sách, nghe người ta bảo vua Vũ xưa kia chia đất cũng chỉ có chín châu; những nơi biên viễn rậm rạp, mông lung vốn chẳng phải nơi dễ lí hội. Ông Trang nhà Lão âu cũng thừa nhận rằng trong khoảng lục hợp nên bàn luận chứ chẳng nên quả quyết, còn ngoài khoảng lục hợp, ôm tồn nghi chẳng nên bàn. Chẳng rõ Bụt Đà của ông có giải thích chi chăng?”

Nhà sư nọ nghe anh cống sinh hỏi bèn nhích mí mắt lên, thời đáp bằng giọng dửng dưng: “Mấy điều anh nói, tôi chẳng hiểu gì cả. Thâu đạo cả ba nhà quy nhất, khác chi đắp gốm bằng cát khô?”

Anh cống sinh lại hỏi: “Ý của Bụt Đà nhà ông là chi?”

Tăng đáp: “Nhạn phi bất lưu tích. Thâm hải vô chân hình.”

Anh ta chưa hiểu lắm, bèn chau mày hỏi: “Tạm bợ là bổn ý?”

Tăng gật đầu, đáp: “Chỉ thức kim nhật nguyệt, bất tri cựu xuân thu.[2]

Anh cống tỏ vẻ hoài nghi, lại hỏi: “Bụt Đà và chúng sinh, ai chủ? Ai khách?”

Nào ngờ tăng chẳng đáp, chỉ đắp quạt rách lên mặt ngủ tiếp.

Anh cống sinh cho là ông tăng áo rách này chẳng thấu ý được mình, cũng chẳng đủ kiến thức để giải đáp, bèn bỏ đi không hỏi nữa.

***

Bẵng đi một dạo, thôn có đám ma to. Tang chủ là phú hộ của thôn nên làm rình rang phải biết, đầu trên ngõ dưới không ai là không hay. Đương chủ sùng Phật, có ý phát thí thực nhưng e ngại bà vợ ăn dè hà tiện, đành thôi. Hôm tổ chức đám đưa ma, tang chủ bỏ tiền ra nhờ một vị cao tăng ở huyện về để di độ. Đám rước kéo dài hơn dặm đường, cờ minh tinh phất phơ bên cạnh chiếc vọng vong được che mát bởi cái lọng lớn. Nói chẳng ngoa, chỉ riêng cái con phong vì xinh xảo cùng dàn sáo trống cũng đã đủ chứng thực cho câu “sự vong như sự tồn”.

Lúc đám rước đi ngang qua bãi dâu ở rìa đông thôn, lão tang chủ chống gậy đi đầu nhác thấy ông tăng rách rưới hay lượn lờ xin cơm đang lăn kềnh ra đất ngủ khì, bên cạnh là cái bát con sứt mẻ nhưng láng coóng chẳng khác chi bôi dầu. Vốn tính thương người, lão tang chủ tiến đến gần, nói: “Sư đã xin được cơm chưa? Sao lại nằm vật ra giữa đường thế kia? Đà này thì…”

Ông ta chẳng dám nói hết câu vì ngại, chỉ biết thở dài ra chiều bất lực. Đám rước ma gặp người chắn đường, muốn đi chừng cũng khó.

Nghe có người gọi, tăng áo rách bèn ngước mắt lên nhìn lão tang chủ đăm đăm, thời nói: “Tội cho ông! Kẻ bạch y đàn việt[3]. Tự tôi thẹn với đạo, nên thay vì quải dép về Tây, tôi nằm đây chờ.”

Lão tang chủ nghe mà cảm thấy khó hiểu, bèn ngạc nhiên hỏi: “Sư thầy chờ ai? Chờ cái chi?”

Ông sư áo rách không đáp lời. Không gian im ắng đến mức gượng gạo. Ngay cả tiếng thút thít của mấy đứa trẻ tham gia đưa linh cũng nín bặt vì sự kì quái bất chợt xảy đến này.

Ấy thế mà người trong cuộc chưa vội, kẻ ngoài đã sốt sắng. Vị tăng nhân đương chức di độ thấy lão tang chủ cứ mãi dây dưa với gã ăn mày rách rưới ngáng đường kia bèn lên tiếng nhắc: “Thí chủ, nếu còn lần khân chỉ e trễ giờ lành đấy. Một gã ăn mày vệ đường há đáng để bận tâm? Bỏ cái thiện lớn để theo cái thiện nhỏ là điều chớ nên làm.”

Trễ thêm một khắc ở đây là mất đi một phần tiền ở các đám khác, ông ta dĩ nhiên cảm thấy khó chịu trong lòng. Thôn này kể ra cũng lắm sự lạ, không rõ từ đâu lại nhảy ra một gã ăn mày điên biết dùng chữ ‘thí thực’ để kiếm cơm ăn lần bữa. Quả thực đang làm ô uế không môn.

Ngờ đâu lão tang chủ lại nói: “Sư thầy có chuyện chưa biết. Vị này cũng là tăng nhân, thường xuyên đến huyện chúng tôi xin cơm thí thực.”

Vị tăng di độ nghe vậy bèn quay sang chất vấn kẻ “tăng chẳng ra tăng, ăn mày chẳng ra ăn mày”: “Người tu hành thế này, có chăng là đang phạm giới? Cho hỏi ông pháp hiệu là chi, ở sơn môn nào?”

Tăng áo rách đáp: “Không có trói buộc. Ông hỏi tôi thế, ai trói buộc ông?”

Tăng di độ nhíu nhẹ đôi mày, lại hỏi: “Đã vậy, pháp thân với pháp nhãn nên kiến giải ra sao?”

Đáp: “Pháp thân vô tướng. Pháp nhãn vô tích. Tôi là kẻ trên chẳng có mảnh ngói che, dưới chẳng có mũi dùi. Thiếu Thất, Ma Kiệt cũng chỉ thế mà thôi. Cà sa trên người ông đã cũ rồi, tôi đây áo mới. Không đổi được. Không đổi được.”

Mặt gã sư di độ chợt lộ vẻ căng thẳng. Trước ánh mắt tò mò của đám người đưa linh, sư di độ cắn răng nhả ra từng chữ: “Tôi chưa ngộ. Ông hẳn là có ý lạ?”

“Ông đi ngủ, tôi tắt đèn. Ông nhóm bếp, tôi vo gạo. Ông làm di độ, tôi nằm chờ bách tính cho chén cơm ăn. Ý lạ chi đâu?” Tăng áo rách thủng thẳng.

“Ông tựa hồ thấu nhẽ chân như. Chẳng hay cái dụng của chân như ông mấy thấu?”

“Ông cho tôi bát cơm thí thực.” Tăng áo rách vừa nói vừa gõ vào cái bát sứt.

Câu trả lời của tăng áo rách khiến sư di độ vừa mơ hồ vừa tức giận. Ông ta bặm môi hỏi: “Tức là uổng công vô ích?”

“Lầu sò chợ bể, nhọc mà chẳng công. Ông chẳng tự vấn, còn hỏi tôi?”

“Rắn chết giữa đường, mong người cứu sống.”

“Chưa phải thiện tri thức, sao sám hối thay người? Ở đâu thì về đấy.”

“Giọt Tào khê sánh ngang thâm hải. Tự thấy xưa chẳng khác nay.”

“Thẹn thay! Li thế mích Bồ Đề, kháp tợ tầm thố giác.[4]

Tăng áo rách nói xong câu ấy bèn lắc đầu cười, đứng dậy bỏ đi về núi.

***

Cũng trong khoảng những năm Chính Hòa, ở trên núi Giai có một vị sư trẻ dốc lòng thiền na[5], dụng pháp chỉ thức để được du già[6], ưa thích việc tham ngộ tam tạng[7]. Tuy kiến giải rộng nhưng chưa từng giảng thuyết trước tăng kỳ[8], tay ôm quản trì[9] cùng mộc hoạn[10] tụng niệm tứ hoằng[11], trì hành lục độ[12] chẳng dám bê trễ một khắc. Sư tự tước bỏ năm thứ dục[13], chướng[14], độn[15] mong tam đức được sáng ngời.

Hiềm nỗi đạo vô cùng, dụng một pháp chẳng thể quán chiếu được bỉ ngạn[16]. Sư tự thấy pháp môn diện bích tư quá[17] nơi a lan nhã[18] lâu nay đã dùng chưa đạt được sở cầu, bèn học theo các bậc thiền giả, xuất sơn tham vấn các bậc thiện trí thức, tăng già quán chúng.

Thế mà đớn đau thay! Ròng rã bốn năm! Sư đi qua khắp chốn sơn địa, xin tham kiến nhiều chốn tăng già lam ma[19], gặp đủ các dòng dõi bà la môn[20], phệ xa[21], thủ đà[22], ngay cả sát đế lợi[23] cũng đã từng gõ cửa tham vấn. Tiếc là văn thù[24] như hoại diệt, di lặc[25] rỗng rang cùng tận, nhưng di lệ xa[26] lại thấy quá nhiều. Hễ nghĩ đến lời đức Thích Ca đã để lại trước khi nhập niết bàn, sư lại chẳng kìm được thất vọng.

Lúc sư đến huyện Phù Hoa, có xin tá túc tại một ngôi chùa. Vừa hay ở đó đang có vị sư đăng đàn giáo chúng. Giáo chúng đa phần đều là người quần trả áo nghê. Sư cũng đến ngồi nghe, nhưng chưa được bao lâu đã bỏ đi trong chán nản. Khi ngang qua chợ, sư bắt gặp một ông tăng áo rách đang ngồi ăn mấy miếng cơm đáy nồi ở trong bát. Ông ta ngồi ngay bên hông cửa lớn của một nhà giàu, tạo ra sự tương phản khiến khách đi đường ai cũng phải đưa mắt nhìn sang.

Nhà giàu kia dường như đang làm lễ đàm tất sau hai năm để tang. Đàn mông sơn bề thế bày cơ man những thứ đồ bố thí. Trông cũng ra trò ra dáng. Từ ngoài đường lớn vẫn có thể nghe được loáng thoáng tiếng tụng đọc kinh siêu độ. Thế nhưng tiếng tụng kinh gõ mõ nghe có vẻ trang nghiêm kia nhanh chóng bị tiếng cười vang cùng kèn chõa chập cheng của gánh diễn hề ngoài sân lớn che lấp hoàn toàn. Giọng tụng kinh ấy như luồng sinh khí mỏng manh của kẻ sắp chết: yếu ớt, bất định. Vừa dậy tiếng chưa bao lâu đã bị tạp âm ồn ã kia vùi dập hoàn toàn. Không khí quá đỗi tạp nham và kì quái này khiến vị sư trẻ cảm thấy bỉ ngạn diệu xứ cho đại thừa càng lúc càng lúc càng xa vời.

Khóc. Cười. Niệm trong một sát na chưa bao giờ đại diện cho thời lưu dằng dặc. Thôi khóc liền cười, hết đưa ma thì mời gánh hát.

Trong lúc vị sư trẻ đang đứng tần ngần nhìn vào căn nhà với bầu không khí kì quái kia, ông tăng áo rách đã ăn xong bát cơm cháy đáy nồi khô khốc nhạt nhẽo. Sau cái ợ hơi rõ to, ông ta bất chợt hỏi:

“Bốn thức mê gói trong một đám ma chay, thêm đàn na bố thí. Phúc đức thế nào?”

Vị sư trẻ hơi sững, nhưng vẫn đáp rất nhanh: “Bản vấn không có. Thực chẳng khác Lương Huệ, Tống Văn[27].”

“Biết rõ về chúng sinh chăng? Sống chết khác nhau thế nào?”

“Chúng sinh là giả danh gọi nhau. Bản chất chúng sinh không gì khác ngoài hơi thở đang chuyển động. Sinh tử chỉ khác ở hơi thở.”

“Ông giã gạo được bao lâu rồi?”

“Bần tăng là hạng khúc sĩ[28], chưa thắng quán[29]. Lâu nay kì dạ[30], gia đà[31] vẫn chưa thấy tỏ.”

“Thấy đã tới đâu?”

“Chẳng nên thuyết pháp, vì pháp bất khả hoằng.”

“Thấu đáo thay! Gió thổi phướn chẳng lay, lòng người lay[32].” Tăng áo rách bật cười ha hả. Cười đã hồi lâu, ông ta lại nói tiếp: “Nay hàng tăng ni nhiều kẻ mang tà kiến, không nghiêm tuân giới luật. Ông kiến giải ra sao?”

Vị sư trẻ hơi nhíu mày. Nghĩ đến những thói tệ ở chốn không môn ngày một quá lạm, sư bèn nói: “Không lìa thân, khẩu, ý. Cầm viên đất ném đi ắt rồi quy về đất. Tà kiến là nghiệp ác tối trọng.[33]

“Người đời lo theo đuổi phước điền, chẳng lo sinh tử. Thoát ra từ dục lậu, ngoài Phật còn ai chăng?”

“Quán hạ trí tâm, biết đoạn nhân thì chẳng còn sinh tử.”

“Tôi nghe hàng tăng ni hay nói chữ vô thường, bàn nhẽ sinh tử với kẻ bạch y. Hỏi cái chi vô thường?”

“Ngũ ấm[34] vô thường. Vì là pháp sinh diệt. Lạm bàn sinh tử, nhân duyên giới sát, chẳng phạm Ba la di thì cũng Thâu lan dá.[35]

“Sinh diệt ra sao?”

“Khởi đầu là quán về sắc. Quán sắc vô thường luôn luôn vô thường chẳng phân sát na. Quán sát nhân do bốn đại chủng là pháp hoại diệt. Tổng gọi là quán vô thường.”

“Giết sắc là giết sắc ở quá khứ, hiện tại hay vị lai?”

“Chỉ giữ hiện tại. Giết sắc hiện tại là sát sinh.”

Tăng áo rách nghe đến đấy, gật gù ra chiều ưng thuận. Tựa như ngẫm nghĩ đã chín, ông ta cất lời: “Trước ở đâu thì ông hãy về đấy. Cái ngưỡng tam thân tứ trí người ta mong đạt được cũng chỉ đến vậy mà thôi.”

“Tam thân tứ trí trong Lăng già, ông có kiến giải chi?”

“Tam thân là gốc của tứ trí. Tam thân đại diện cho tính, trí, hạnh của ông vậy. Ngày ngày đọc mà chưa ngộ thì dễ ra chỗ mê lầm. Tính thanh tịnh, tâm vô bệnh, không chấp trước, và đại viên cảnh trí gom lại thành tứ trí.[36]

Vị sư trẻ nghe xong lời này liền rơi vào trầm mặc. Sự hiện diện của hai người giữa chốn phố thị huyên náo và hỗn tạp này chẳng khác nào giọt sơn thừa rơi vào bức tranh rực rỡ. Lạc quẻ vô cùng.

Sau rốt, vị sư trẻ chắp tay cúi người trước lão tăng áo rách, cười nói: “Lành thay! Thương thiên thấu lòng thiện. Ngay chỗ chuyển mà chẳng dấy niệm, chẳng tại lưu tình thì xứ xứ thảy đều là đại định Na già.”

HẾT



[1] Tiết Vu Lan là tiết cứu chúng sinh khỏi cảnh treo ngược.

[2] Dịch: Chỉ biết nay chứ chẳng cần biết hôm qua ra sao.

[3] Ý chỉ người yêu thích làm việc thiện.

[4] Ý cả câu: Xa lìa nhân thế mong tìm được bờ giải thoát, viển vông không khác gì tìm sừng trên đầu thỏ.

[5] Tĩnh lự (tập trung, yên tĩnh).

[6] Thuận ứng với tâm chân như.

[7] Tức: kinh (tu đa la), luật (tỉ nại đa), và luận (a tì đàm).

[8] Đại chúng.

[9] Cái bình (đựng nước) trong sạch.

[10] Tràng hạt.

[11] Tức bốn điều thệ nguyện lớn: độ chúng sinh, đoạn phiền não, học pháp môn và thành phật đạo.

[12] Bao gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh thông, tĩnh lự và trí tuệ.

[13] Ngũ dục: của cải, sắc đẹp, danh vọng, ăn và ngủ.

[14] Ngũ chướng: dối trá, lười biếng, nóng nảy, hờn dỗi, oán giận.

[15] Ngũ độn: tham lam, giận dỗi, si mê, khinh nhờn, ngờ vực.

[16] Bờ giải thoát.

[17] Quay mặt vào vách (pháp của Lục Tổ).

[18] Nhàn tĩnh xứ (nơi vắng vẻ, xa rời trần tục).

[19] Chúng viên (nơi các tăng tu tập).

[20] Giới tịnh hành (tu hành thanh tịnh).

[21] Thương nhân.

[22] Nông dân.

[23] Vương tôn.

[24] Đạo đức màu nhiệm.

[25] Ý nghĩ từ bi.

[26] Kẻ chỉ hiểu những điều độc ác.

[27] Lương Huệ đế và Tống Văn đế.

[28] Kẻ cố chấp, quê mùa, ít học.

[29] Chưa thấu được các ‘quán’.

[30] Trùng tụng (tóm lược kinh sách)

[31] Tụng đọc kệ.

[32] Kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm thứ nhất.

[33] Luật Thiện Kiến, quyển 5, chú giải về tà kiến

[34] Tức ngũ uẩn. Gồm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

[35] Luật Thiện kiến, quyển 11.

[36] Kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm thứ 7.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px