Chiếc Thủ Lợn Lấm Bùn (2)
Lão già thọt đến thôn được hai ngày, vừa sang ngày thứ ba thì cả thôn đã bắt đầu nháo nhác vì cái họa từ trên trời ập xuống. Đám đàn ông có tiếng nói ở trong làng hùa nhau tụ tập ở nhà trưởng thôn, ầm ĩ đến tợn. Gian tiếp khách vốn đủ rộng rãi nay đã trở nên chật kín, có vài người không có chỗ chen vào buộc phải đứng ngoài bậu cửa chõ tai vào nghe. Trưởng thôn – người đàn ông tầm thước, tuổi độ bốn mươi sau một hồi đăm chiêu chợt cất tiếng bằng giọng dè dặt: “Hai hôm trước, có một lão thầy pháp đến thôn ta. Lão ấy dị lắm, nhưng tôi hỏi cái gì lão cũng đáp được cả. Lão còn biết thôn chúng ta chuyên đi mò trầm...” Gã dừng lại, nuốt nước bọt như để lấy can đảm rồi mới tiếp tục nói: “Lão thọt ấy phán thôn ta lâu nay lên non mò trầm khiến cho ông mường nổi giận. Mà ông mường... ông mường là người nhà của thần núi nên thôn ta mới bị quở phạt mãi chẳng thể có mưa!” Cả đám thôn dân nghe đến đấy liền ô hô thảng thốt, nhớn hết cả lên. Bọn họ là dân miền núi, xa chốn cửa quyền nên tự tung tự tác đã quen, không hề sợ hãi quan phụ mẫu đương nhiệm tí nào. Chưa kể xưa nay thôn có nhiều đứa được ăn học đàng hoàng, thành đám ông tú, ông cống, ông nghè được người đời kính trọng nên trước nay thôn dân nào biết sợ hãi gì ai. Thế nhưng cái gì cũng có điểm yếu riêng: Vì truyền thống làm nghề mò trầm ở tít trong rừng sâu nên bọn họ cực kì mê tín, hễ thứ gì kì quái đều quy về linh thần hiển thánh. Đám phu phen tìm trầm sợ nhất chính là cọp – thứ mà bọn họ gọi là ông mường. Bên dưới những gốc trầm to, đẹp thường có dấu chân ông mường lai vãng. Trong suốt bao thế hệ làm nghề tìm trầm ở cái thôn này, không biết bao nhiêu người đã chết dưới móng vuốt của ông mường rồi trở thành ma trành đi theo hầu hạ cho nó. Nỗi sợ này đã khắc sâu vào tiềm thức của đám dân thôn, tựa như con chuột sẽ trở nên rúm ró khi nhìn thấy con mèo đứng ngay trước mặt mình vậy. Một gã đàn ông trẻ, trên mặt có vết sẹo dài lên tiếng hỏi: “Thế bây giờ phải làm sao? Thôn chúng ta lâu nay chẳng có nổi một giọt mưa, sắp chết khô chết khát hết cả lũ rồi. Nếu lão thầy pháp kia không rặn ra được biện pháp thì mấy câu ba hoa bép xép kia phỏng có ích gì? Ai sẽ tin đây?” Trưởng thôn cau mày, nhăn mặt đầy khổ sở: “Lão nói thần núi rất giận dữ vì thôn ta không biết hối cải. Nếu không làm lễ cúng thì từ rày về sau ai lên núi tìm trầm đều sẽ bị ông mường bắt đi cả đấy!” Cả đám dân thôn nghe đến đấy liền run rẩy, chết lặng. Cái điệu bộ ngang tàng liều lĩnh, không biết sợ ai đã bay biến chẳng còn chút dấu vết. Trên từng gương mặt khắc khổ, khô héo do thiếu nước lâu ngày đều ướm đầy sợ hãi, bởi mới ngày hôm qua – cái ngày mà lão thọt kia vừa đi khỏi, đám ông Hai Tứ nhà ở rìa thôn vì ham mê tìm trầm máu mà bị ông mường bắt đi hết cả lũ, chỉ chừa lại có mỗi mảnh vải áo rách bem mắc vào bụi dúi. Bầy chó săn được dắt theo cũng chẳng tìm ra được dấu vết nào của đoàn người đông sờ sờ đấy. Suốt từ đầu mùa hạn đến nay, cả thôn bọn họ sống được đều nhờ cả vào việc tìm trầm để đổi đồ sinh hoạt. Bây giờ nếu ngay cả trầm cũng không tìm được thì cả thôn này chỉ còn đường chết nếu không dời thôn! Ngặt nỗi đây là đất tổ đất tông, mồ mả tổ tiên đều đặt để ở đây, sao có thể nói dời là dời cho được? Mặt mũi biết vất vào đâu? Trưởng thôn lại nuốt nước bọt. Dường như ông ta đang cắn răng hòng khiến cho nỗi sợ vơi bớt nên biểu cảm trên mặt vặn vẹo thấy rõ. Trước ánh mắt trông chờ của dân thôn, ông ta bóp chặt lấy hai đầu gối mình, gằn giọng nhả ra từng chữ: “Lão thầy pháp nói trong mâm cúng tạ tội với thần núi phải cúng kèm theo một đứa con gái còn trinh...” Trưởng thôn còn chưa nói xong câu thì đã có người buột miệng thốt lên: “Trời ơi! Con người sao có thể ác tới nhường ấy?! Cái đức hiếu sinh bỏ cho chó tha bò gặm rồi ư?!” Có người đã nói mào đầu, cả đám dân thôn lại được dịp nháo nhác ầm ĩ. Ai ai cũng chửi lão thọt là phường thầy bà thất đức, ngay cả hiến tế người sống cũng nghĩ ra được. Thế nhưng chửi rủa chẳng được mấy lâu đã bắt đầu có người bàn nhau về tính chân thật và hiệu quả của biện pháp “man rợ” kia. Nếu chẳng may lão thầy pháp kia nói đúng thì làm theo lời lão chẳng phải sẽ đỡ đần cho thôn nhiều lắm hay sao? Nghề mò trầm đã truyền đời hơn trăm năm nay, nếu bây giờ vì ông mường tức giận mà bỏ nghề thì dân khắp thôn lấy gì để sinh sống? Chưa kể nếu ông mường hết giận thì mưa sẽ về với thôn, và rồi bọn họ có thể tiếp tục canh tác hoa màu, giếng khô sẽ lại đầy nước... Trưởng thôn thấy cả đám đã thôi xào xáo, bèn lên tiếng: “Chuyện này đáng để thôn chúng ta liều mạng. Không bỏ con săn sắt thì sao bắt được con cá rô. Đám gái chưa chồng ở thôn ta tuy ít nhưng chẳng phải không có, cứ chọn bừa một đứa là xong. Nó xả thân hi sinh vì cả thôn, đấy là vật tẫn kì dụng, chết có vinh!” Gã vừa nói vừa thở phì phò, mắt trừng lên đầy dữ tợn. Từ cái vẻ sợ sệt lo âu ban đầu, bây giờ đọng lại trên mặt gã chỉ còn lại vẻ điên cuồng vốn chỉ xuất hiện ở những kẻ khốn cùng bị ép phải liều mạng. Không chỉ gã, giờ đây cả thôn đều chẳng khác gì những người sắp chết đuối lại may mắn được người ta chìa sào ra cho nắm, níu. So với cả một thôn, tính mạng của một đứa con gái quả thật chẳng đáng sá gì. Sống không vì tập thể, vì cộng đồng thì còn có thể vì cái gì khác? Vì bản ngã cá nhân ư? Nghe trưởng thôn nói năng lí lẽ đến thế, cả đám thôn dân đều gật gù tỏ vẻ tán thành. Thế nhưng có người vẫn lo xa, vội hỏi: “Vậy bây giờ chọn đứa nào đây? Nhỏ quá e rằng không được. Nếu sơn thần không thích thì thôn ta chẳng phải là mất cả chì lẫn chài hay sao?” Đây quả thực là vấn đề cần bàn bạc thêm kĩ. Một gã đàn ông nom có vẻ nhanh trí, suy nghĩ một chốc rồi hiến kế bằng giọng tự đắc: “Tao thấy chi bằng chọn đứa con gái thứ hai của lão Hai Tứ mới chết là hay nhất. Lão chết, bây giờ nhà đó mẹ góa con côi rồi. Sao cãi ý cả thôn được. Lí do bắt nó đi tế thần thì chúng ta chẳng thiếu. Cứ viện lí do cha nó đòi cướp lấy trầm máu, ăn trên đầu trên cổ ông mường là xong. Đời cha ăn mặn đời con khát nước, nhà nó còn cãi được chi!” Cả đám người nghe đến đấy đều khen là kế hay. Gái tơ mới lớn nom phổng phao, hẳn ông mường vừa lòng lắm. Thế mà cái người lo xa vừa nãy vẫn chưa hết khúc mắc. Gã lại hỏi: “Nhưng mà thằng năm nhà đó đang đi thi. Nhỡ nó đỗ đạt vinh quy rồi biết được chuyện này, nó có kết thù với chúng ta không?” “Chú mày khéo lo xa. Chuyện kết thù hay không chúng ta chưa rõ, chỉ thấy trước mắt nếu không làm ông mường hết giận thì đường sống đến đây coi như tuyệt hẳn. Một thằng sĩ hoạn èo uột thì có thể đấu lại cả đám dân thôn quanh năm đi rừng với làm đồng áng hay sao? Phép vua cũng phải thua lệ làng, nó có thể nói được gì? Lại vả, nó có phải là người có ăn có học duy nhất ở cái làng này đâu? Vênh váo với ai?” Sau mấy câu trao đổi ngắn cũn xuề xòa, chuyện đại sự liên quan đến tính mạng của cả thôn đã được định đoạt một cách chóng vánh. Dù chưa rõ phương thức này có đem lại kết quả như mong đợi hay không, đám thôn dân vẫn thở phào nhẹ nhõm, vui vẻ nghĩ đến cảnh mọi thứ ở thôn lại quy về trạng thái tốt đẹp muôn phần mà trước đây đã từng hiện hữu. |
0 |