KHÓC DẠ ĐỀ (2)



2.


Chợt nghe thấy tiếng người làm đồng ban sớm dắt trâu bò ngoài đường kêu họ họ, Lão Kinh mới chống người vươn vai, bỏ chân xuống phản. Lão đi đến cửa buồng, nhìn ra bên ngoài, nắng sớm chiếu qua cánh giại, nhiễu xuống nền gạch. Lão tưởng tượng khi mình nhấc đôi cánh giại lên, khắp gian nhà lão sẽ sáng trưng và ấm áp đến mức nào dưới những tia nắng giời ban đó. Rồi để đến lúc vợ lão đến nhấc lên thật, lão nhận ra hiện thực cũng không đẹp như những gì trong tưởng tượng của lão.

Rằng lão nhìn thấy gian nhà của mình trống huơ trống hoác, chỉ kê độc một bộ bàn ghế, trên bàn có bộ ấm sứ xanh xanh mà hiếm hoi lắm mới được đem ra dùng. Ban thờ đằng trước treo đầy những câu đối chữ Nhân, chữ Tín, mỗi khi lão chồn tay thì lại mài mực viết đó, mà viết thì phải treo lên, thành thử cả ban thờ bình thường trông không khác gì ngày Tết. Lão đi qua cụ bà đang rẽ ràng thắp nhang cúng bái trước linh cửu để tiến ra phía ngoài.

Cũng may thay nhà lão có số hạp với chăn nuôi, gà mái đẻ một đàn con, rồi đàn con lại đẻ thêm đàn con nữa. Lợn nái đẻ con, rồi bán đàn lợn sữa đi để mua thêm lợn nái gây giống. Mụ vợ lão vậy mà giỏi đáo để, một tay cáng đáng trong ngoài nhưng vẫn đâu ra đó.

Rồi lão chần chừ bước xuống bậc thềm nhà, thấy vợ mình đang khệ nệ gánh hai quang cỏ. Chả là hàng tháng mụ sẽ cắt cỏ trong vườn và gánh ra chợ bán cho mấy hộ nuôi bò, tiền cỏ bán không bù lại được tiền công khom lưng cắt cả ngày trời, nhưng để cỏ mọc không thì lại thấy phí làm sao ấy. Lão chợt nhận ra không biết từ bao giờ mà gia đình lão lại phải chắt chiu đến từng quang cỏ dại như vậy. Cái lo lắng vặt vãnh, tủn mủn của đàn bà khiến lão thấy sao mà nhọc người. Gánh xong hai quang cỏ đến đổ vào cái bồ lớn, mụ lại quay về oằn lưng xử tiếp đám mới, xong mụ lại xách lên. Lão nhìn cảnh này, cảm giác ngứa ngáy đến là kỳ cục.

Ngay lúc đấy, lão Kinh mới nhân cơ hội đi tới, đưa tay nhận lấy quang gánh trên vai vợ.

“Để tôi làm.”

Song vợ lão chỉ cười cười, giằng đòn gánh ra khỏi tay chồng, đoạn nói, “Thôi để em làm được rồi, mình vào đọc sách đi.”

Đọc cái gì mà đọc nữa? Hiểu không! Con chữ không nuôi sống được người ta, một bụng chữ cũng chỉ để tự mình vui mình. Lão lại giật lấy, mụ vợ lại chật lưỡi không muốn đưa. Lão cả thẹn, cố tranh việc cho bằng được. Nhưng vợ lão làm như mắc bệnh thích hầu chồng hay sao đấy, mụ sẽ sàng né đi chỗ khác. Lão càng thẹn hơn nữa.

Và rồi cơn ngứa thúc bách lão, đám cỏ tua tủa cứ đâm vào quần, vào áo khiến lão càng ngứa thêm. Hai quang cỏ lắc lư, lạng qua lạng lại giữa không trung, không chịu về tay phe nào. Lão nghĩ không ngờ vợ mình lại khinh chồng nó đến thế. Rồi lão tự suy ra do lão thi không đậu nên mụ đã nghĩ lão làm việc nhà chắc cũng không ra gì. Lão nghĩ rồi lão tức, lão thấy sai sai sao ấy! Lão xoay qua xoay lại, thấy mẹ mình đang ở gian trước nhìn ra. Chắc bà già nghĩ vợ chồng lão đang trêu nhau. Và lão Kinh biết, thật tình rằng mình đang không đùa. Bỗng, tiếng thằng con khóc từ trong nhà dội ra. Mụ vợ lão lại tiến lên với đôi quang gánh, chừng như muốn nhanh nhanh cho xong để vào dỗ con. Tiếng khóc làm lão thêm bực. Vợ lão cũng làm lão thêm bực.

Rồi lão giơ tay tát vợ mình một phát vào mặt khiến mụ ngã dúi dụi ra đất.

Ôi thôi! Lão tát vợ mình rồi, suốt bao nhiêu năm chung sống hòa thuận, cuối cùng cũng có lúc lão tát vào mặt mụ vợ lão. Lão Kinh thấy tay mình tê tê, như có ai dùng sợi chỉ cọ qua cọ lại trên lòng bàn tay lão. Mụ vợ lão chưa hết bàng hoàng sau cú ngã, mụ chớp chớp mắt, ngẩn ngơ nhìn mặt đất. Cái bạt tay khiến mụ chẳng còn biết gì, đến nỗi mụ chỉ kịp hiểu là mình vừa bị chồng đánh, chứ đến cả đau mụ còn không cảm nhận được.

Lão Kinh nhìn người vợ đang nằm lăn ra đất. Hai quang cỏ đổ bừa phứa. Xung quanh mụ toàn những cỏ là cỏ, như ai phủ lên người mụ một cái chăn rơm xanh mướt. Lão có lẽ còn bàng hoàng hơn cả vợ, nhìn lên không thấy mẹ già của mình đâu, tiếng khóc của đứa con nhỏ cũng đã bặt tăm. Chắc bà cụ đã vào dỗ cháu rồi. Lão lại nhìn xuống đám cỏ dại. Xem kìa, thấy chưa! Lão nói là lão thương vợ lão, mà nay, vì bao nhiêu nỗi thẹn dồn nén từ sớm đến giờ mà lão đã ra tay đánh mụ, lão thương gì ai nữa? Lão có thương gì ai? Lão đột nhiên nghĩ sao có nhiều người lại thoải mái đánh vợ như thế, lão chỉ lỡ tay thôi mà đã thấy mình vũ phu vô cùng.

Tưởng chừng như mụ vợ sẽ nằm ăn vạ tại đó luôn, nhưng không phải. Sau khi sực tỉnh, mụ liền đứng lên. Đứng lên mà không biết nên làm gì, mụ lại sượng xạo ngồi xuống, gom đám cỏ bị đổ ra ngoài chất lại vào trong quang, đầu cúi gằm, có lẽ là mụ xấu hổ.

Còn lão Kinh thì đương mấp máy, lời nói ra như bị một cái gì đó ngăn lại. Lão định bụng xin lỗi vợ mình vì hành động không kiềm chế được. Lão đang định đây. Nhưng rồi lão lại không nói. Vì một lẽ lão không biết có nên nói hay không, và cũng không biết phải nói thế nào. Lão trước nay có thấy người đàn ông nào xin lỗi vợ đâu mà biết cho. Lão chỉ thấy người ta đánh vợ, hay mụ vợ nào đó bị người ta đánh, chứ chưa thấy người chồng nào đi xin lỗi vợ mình bao giờ.

Và cuối cùng khi lời nói đã chạy một vòng quanh môi, lão Kinh vẫn không nói gì được. Lão co cẳng, quay đi, sải từng bước dài như đang muốn chạy, nhưng lão không chạy, vì chạy thì mất mặt, nên lão đi nhanh, cố đi nhanh hơn nữa. Ra đến ngoài đường, lão vẫn không mảy may ngoái đầu lại nhìn phía sau.

***

Lão đổ tội cho con ma nữ. Phải vậy chứ! Con lão khóc thì lão mới bực, mà con lão bị ai đó quấy thì nó mới khóc. Vậy nghĩa là con ma nữ mũi lợn kia đã phá gia đình lão rồi. Không phải lỗi tại lão, cũng không phải lỗi của ai khác, lão đổ hết cho một thứ siêu hình, và lão tin là như thế đó.

Tâm trí dẫn dắt lão Kinh đi một hơi một hồi, đến lúc ngẩng mặt lên thì đã không biết mình đang ở đâu. Lão nhìn dáo dác, thấy mình đứng trước một hàng buôn vải Tây, và phía trước có thêm nhiều hàng buôn vải vóc, lụa tơ tằm trải dài khắp lối. Trong tiệm, mấy tay người ram rám đang khuân một khúc vải nhuộm màu cánh sáo, đệm thêm tiếng người nói bốp chát mắc rẻ gì đó. Lão nhận ra mình đã đi đến Hàng Đào từ lúc nào. Những cô gái mặt hoa da phấn, quần lĩnh áo the ngồi trên những chiếc xích lô chạy trên đường lớn ú ớ gọi nhau. Ít khi nào lão Kinh ra đến nơi này, lão không hay lượn phố, và hiếm hoi có việc lão phải ra đến tận đây lắm. Lão chỉ trốn trong cái hốc nhỏ nhà lão luôn, nên lão dần quên đi mình cũng đang ở đất kinh kỳ.

Thấy chỉ mới sáng sớm ra, đường cái đang tấp nập vậy mà mình lại quay gót về nhà thì phí quá, nên lão đi thêm một đoạn nữa, định bụng đến nhà chú Niên, một người bằng hữu khác của lão…

Đứng trước bức hoành phi sơn son đã ố màu nhùn nhụt, lão không ngờ hôm nay hàng vải của nhà chú Niên lại đóng cửa. Nhưng cửa lại khóa trong, nên chắc là người vẫn còn trong đấy. Song lão Kinh lại chần chừ không dám gọi, nhìn cái vẻ ngoài xuống cấp của cổng vào, lão thấy nó khác hẳn với lần trước mình đến. Nói là lần trước nhưng chắc cũng lâu lắm rồi.

Khi còn ở làng cũ, trong đám bạn của lão thì Niên là cậu nhóc tham ăn tục uống và kênh kiệu nhất, vì nhà Niên đã mấy đời làm bá hộ trong làng, ruộng nương rộng sải cánh cò. Lúc lão Kinh cùng nhà bìu díu nhau lên Kẻ Chợ, Niên đã lên từ trước, vì nhà tên nọ đã có sẵn một hàng vải tiếng tăm trên đây, chỉ cần xếp đặt đâu ra đó là có thể chuyển đi nhanh lắm.

Lão Kinh nhẩm tính xem mình đã bao lâu không ghé qua nhà bạn, hình như chừng nửa năm gì đó. Nửa năm thôi mà sao nơi đây khác quá, người đứng ngoài nhìn sẽ không khỏi thấy nó rệu rã hơn, tróc vữa hơn, dễ lung lay hơn trước. Đành rằng cái gì cũng sẽ cũ, từ bấy đến nay đã mười năm rồi chứ ít đâu, song ngôi nhà này lại trông tàn tạ lắm, tàn tạ như thể nó đã không được ai ngó ngàng gì đến lâu rồi. Ấy là cái vẻ tàn chỉ có ở những ngôi nhà vô sen vô chủ.

Dưới bức hoành phi được gắn một tấm biểu ngữ nhỏ, viết một dòng chữ Tây “40 Rue de la Soie”, tấm biển thì trông mới hơn một chút, nhưng theo tình hình cũng đã bắt đầu thấy có chim tha rác về làm tổ phía trên. Lão đương nhìn ngắm cánh cửa đóng kín im ỉm thì thấy một thanh niên cắp tay nải bên nách tiến đến.

Cậu thanh niên tóc cắt ngắn kiểu Tây cũn cỡn, thấy một lão già ở trước nhà mình thì cất tiếng hỏi:

“Cụ đến tìm cụ nhà con ạ?” Nó hỏi lão, hình như là một thằng nhỏ mà chú Niên mua, lão Kinh chưa từng thấy nó trước đây.

“Vâng, cậu cho tôi hỏi chú Niên nay có nhà không?” Lão đáp lại cậu chàng.

Lão Kinh không hiểu sao chú Niên muốn mua một thằng nhỏ giúp việc cho nhà mà lại chọn đứa ốm tong teo thế này. Cậu chàng ốm tựa một cây sậy, lúc đi cứ ngã qua ngã lại như cờ lao trước gió. Khuôn mặt hốc hác khiến đôi bên má cứ tóp vào. Mà cậu lại có đôi lông mày rậm và hung tướng, đặt nó lên cái dáng vẻ vêu vao chỉ làm cậu trông lông lá, thô kệch và nặng nề hơn mà thôi. Y đúc một cái ổ rơm sau mưa vậy, xồm xoàm và thưỡn thẹo.

“Cụ cứ kêu rồi người trong nhà sẽ ra mở, có một đứa đang đợi cửa đấy ạ!”

Nói đoạn, cậu ta quát lớn một tiếng.

Tiếng lanh canh của chìa tra vào ổ vang lên, cánh cửa chầm chậm mở ra. Phía bên kia bậu cửa, một con sen nhỏ ló mặt nhìn bọn họ, rồi cô bé mở cửa lớn hơn, vẫn không nói gì. Lại thêm một cái đụn rạ nữa, lão Kinh nghĩ, sao trông người ở nhà chú Niên lại rầu rầu, rĩ rĩ mà còn luồn cúi, lặng lẽ như rơm như rạ thế này? Nhà mở cửa buôn bán mà cứ trưng cái mặt kiểu vừa đi đám tang về thì sao mà khấm khá cho nổi.

Lão Kinh và chàng trai trẻ bước vào. Nắng chiếu kẻ một đường xiên chạy dài trên nền gạch. Tối thật, sự xuất hiện của ánh sáng dường như chỉ càng làm nổi bật thêm cái tối tăm bên trong. Những thước lụa treo trên giá buông mành xuống hai bên gian hàng, lặng lẽ như hai hàng lính gác ẩn nấp ở nơi khuất sáng. Những cái áo the, khăn đóng, khăn nâu, yếm nhỏ, yếm to chất chật cả một cái bàn, nằm lẫn lộn với nhau. Lão Kinh nghe trong không khí có mùi hăng của vải, mùi ngột ngạt của bụi đóng lâu ngày không ai quét dọn đến. Những hòm xiểng cất trong góc cũng dần đóng mạng nhện, có cả trứng gián, phân chuột bám đầy trên mặt gỗ nhám.

“Quái lạ, nhà có người ở chứ nào phải bỏ hoang đâu. Sao lại thành ra thế này?” Lão Kinh vừa đi theo hướng thằng ở chỉ, không ngừng nhìn ngó xung quanh và thầm đánh giá.

Bước vào gian sau, khung cảnh lại khác ngay. Nhờ hai cái cửa sổ mở ra đón nắng nên lão có thể nhìn rõ xung quanh. Lão Kinh thấy bạn mình đang nằm nghiêng trên chiếc giường đóng gỗ phết sơn bóng lưỡng, trải một chiếc chiếu lớn, chân giường chạm dáng rồng, rất ra vẻ một món đồ đắt đỏ. Người nằm trên chiếu nhận ra nhà có khách, liền hé mắt nhìn sang rồi cười ồ lên một tiếng.

Tiếng cười của chú Niên vẫn lảnh lót như chim, nhưng không còn trong nữa mà có hơi bị khàn đi nhiều.

“Ô hay! Anh đến chơi đấy à? Sao không báo trước. Mặc, anh đến lúc nào mà chả được, báo trước gì… Nhưng ngặt nỗi tôi lại không chuẩn bị để tiếp anh cho ra dáng gia chủ.”

Lão Kinh định đến ngồi trên mép giường, song con sen đã nhanh hơn lão, nó bắt một cái ghế, hình như là cùng một bộ với cái giường, đến mời. Lão nhìn thấy bên cạnh Niên một bộ bàn đèn và khai đèn khảm ngọc, màu ngọc trong đã xuất hiện mấy vệt ố đen. Chú Niên vẫn không đứng dậy, chỉ nằm tựa tay lên gối mây cứng. Lão Kinh lấy làm kỳ cục lắm, vì lần nào khách đến Niên chẳng xởi lởi, nhảy cẫng lên hân hoan rồi chạy ù té đi mừng như một đứa trẻ. Chú Niên lúc trước sẽ ngược xuống bếp, rồi lại xuôi lên trên, chân nọ vấp vào chân kia, giọng líu ríu gọi người ở chuẩn bị bưng trà rót nước cho các ông. Nhưng bây giờ, chú ấy lại chỉ nằm một chỗ, hình như khách đến chơi thì chú Niên vẫn vui đấy, nhưng cái vui không biểu lộ qua hành động nữa, vì gần như Niên chả động đậy gì, chỉ rề rà nhấc cái người đến gần lão hơn.

“Đột ngột đến đây lại làm phiền chú quá, có vẻ nhà đương lúc không tiện?” Lão Kinh chống tay lên đùi, ngồi vững trên cái ghế, nhìn người bạn của mình.

Đối diện với lão, chú Niên chỉ cười xòa rồi phất tay ý bảo không nhằm nhò gì. Trên người chú vẫn mặc quần lĩnh áo the màu lam sang trọng, vậy là cũng không phải giai đoạn sa cơ thất thế chi hết, lão Kinh chưa rõ rốt cuộc tại sao cảnh nhà lại thành ra như bây giờ.

Và cả chú Niên nữa, tại sao chú Niên lại còn tàn tạ hơn cả cái nhà của chú?

Nom chú hốc hác và gầy – gầy đến nhận không ra. Vì thằng Niên lúc trước cũng đâu nhỏ con gì, cũng múp míp, khi đi thì mấy ổ mỡ trên người rung rinh nhìn hay mắt lắm. Người ta bảo cậu ấm nhà cụ bá thì vậy là xứng danh. Nhưng giờ chú lại gầy đến trơ cả xương, hốc mắt không híp lại mà mở trừng trừng, tròn vo như trứng chim cút, bọng mắt sâu hoắm như hai cái miệng lọ gắn trên đấy. Cả vô cảm nữa, chú Niên buồn cũng như vui, không ai biết, bởi lẽ tay chân chú cứ buông tuồng một vẻ thiếu sức sống, dáng người chú thì thuỗn ra, suôn đuột, vật vã như đang cố lấy hơi. Nhìn chú già, dẫu biết là chú Niên so với lão Kinh hay Đốc Linh thì trẻ hơn nhiều lắm, trẻ hơn tận nửa giáp. Thế mà giờ Niên lại già xọm, không thể nhìn ra tuổi thật mà chỉ thấy tuổi của một cái linh hồn đã ở bờ vực sắp lìa khỏi xác phàm. Lão Kinh tưởng đâu lớp da màu vàng nước tiểu của Niên đang chảy xệ xuống đầy sống động trước mắt mình, như thể nó sẽ rơi khỏi người Niên rồi đánh cái phẹp xuống chiếu tức khắc, theo đó để lộ ra những xương hàm, xương mặt đã mục rữa bên trong.

Thằng ở gầy nhom lúc nãy thủng thẳng đi đến, cầm một cây móc. Nó chậm rãi nạo ra mấy lớp tro cùng xỉ bám thành mảng bên trong ống điếu. Lão Kinh ngửi được mùi cháy ngát, cũng hơi thơm thơm ngọt ngọt của thuốc phiện hảo hạng.

“Thím nhà đâu mà chỉ có chú ở đây?” Lão Kinh hỏi, đoạn hướng mắt nhìn ra gian sau, nhưng ngoài con sen đang ngồi thu lu một đống, khua tay dàng dênh pha trà ra thì trong đó chẳng có ai nữa.

“Mả mẹ, con đĩ đấy bỏ đi rồi!” Niên đột ngột như có gì kéo dậy, bắt đầu đập tay xuống chiếu mà chửi đổng, “Nó rẽ dây cương, ôm con đi một nước. Tôi còn sống chứ đã chết đâu, tôi còn giàu có, còn của nả chứ có nghèo khổ gì. Con ả thấy tôi đã có chút sa sút thì liền dọn đồ bỏ đi. Vậy mà được. Đúng là đàn bà đây giờ, chả như hồi xưa nữa.”

Nói xong, chú hé răng cười một tiếng khinh thường. Lão Kinh nghe xong thì không nói gì, lão buồn cho Niên song cũng ngầm trách chú ấy. Lão nghĩ có khi thím nhà không chịu được cái thói đua đòi, vô tri của chồng cũng nên. Mà Niên giờ có quật khởi lên được hay không còn khó nói trước. Chú cần thuốc phiện còn hơn cần mạng của mình. Giả lão mà là người nhà của Niên, không sớm thì muộn lão cũng bỏ đi cho mà xem.

Chú Niên nhìn từng động tác tay của tên hầu thuốc đang rê rê nại nại cái tẩu, mau mắn hỏi, “Xái thứ mấy rồi?”

“Dạ, thứ ba rồi.”

“Thứ ba rồi, nhanh nhỉ? Thôi cho tụi bây đấy, mang lấy mà dùng, nhất dương sinh, nhị dương sinh, tam dương khai thái, đến xái tư có cố hút cũng chẳng bõ.” Niên phất tay với tên hầu.

Cậu trai mở cờ trong bụng, gật đầu liền tòi tọi mấy phát, “Vâng, cụ nói chí phải. Để con lấy thuốc mới cho cụ.”

Cậu ta bắt đầu thắp đèn, hơ nóng tiêm bạc. Lão Kinh bấy giờ không thể chịu được nữa, phải lên tiếng cật vấn ngay:

“Chú Niên, tôi nhớ lúc trước chú đâu có nghiện đến mức này! Thôi đừng hút nữa. Nói chuyện với tôi một lát.”

Niên chơi a phiến mới được hai năm nay, ban đầu lão Kinh thấy cũng bình thường, không có ý bảo ban gì. Vì xung quanh lão, thứ này đã trở thành một thú vui quá đỗi thông dụng nên lão nhắm mắt làm ngơ đó, nghĩ là không phải chuyện chi to tát. Nhưng khi được trông thấy thần sắc sa sút của Niên, lão không nghĩ nó bình thường nữa. Lão cố nhớ xem từ lúc nào món hàng này được mang vào đất nước của lão, từ khi nào cái thú vui đáng sợ này lại được ủng hộ và hợp thức hóa, trở thành một lối sống bình thường đối với những bè bạn của lão. Song lão không biết là từ khi nào lại thế nữa. Và nhìn chú Niên, lão đoan chắc rằng chỉ cần hút thêm vài hơi là chú ấy chết ngay chứ không sống nổi.

“Thì vừa hút vừa nói chuyện có khác chi với việc vừa uống trà vừa nói chuyện đâu anh… Ô hay, anh xem, tôi ngớ ngẩn quá! Vậy mà không nhìn ra mới chết, xin lỗi anh. Thôi lần này tôi mời anh hút trước. Rõ khổ, phải đợi nhắc khéo thì tôi mới nhớ ra là phải lên tiếng mời anh cơ.”

Lão Kinh càng lắc đầu tợn hơn, vỗ đùi mình bôm bốp vì giận cái lối nói có phần giễu cợt của Niên, “Không, tôi không nhắc khéo gì chú cả. Tôi không hút.”

“Anh không hút?” Chú Niên càng khinh khỉnh nhìn lão, “Lạ lùng quá thể. Sao lại không hút? Hay anh chê gì tôi đấy? Đây nhé anh xem…”

Niên hơi rướn người tới trước, cầm lấy cái tẩu trên tay thằng nhỏ bên cạnh. Cậu người ở vừa mới nhồi thuốc vào lỗ tẩu chứ chưa kịp hơ đèn thì bị cướp ngang làm cậu giật cả mình. Niên đưa cái ống tre sần sùi đến gần lão, nói tiếp:

“Anh xem, ống điếu dùng lâu đến mức đã xỉn đen đi rồi đây, lại đóng cao dày mo. Đã dùng thì phải dùng loại này mới thú. Tôi cá với anh có đi kiếm khắp cái đất kinh kỳ này cũng không ra được cái ống điếu nào hảo hạng được như ở đây đâu nhé!”

“Ống với chả điếu.” Lão Kinh không thèm nhìn đến, lại lắc đầu từ chối. “Tôi có hiểu mấy thứ này đâu mà anh cứ giới thiệu.”

Đưa lại cái ống tre cho thằng nhỏ, Niên dường như không chấp. Lão Kinh không hút thì chú hút một mình lại càng sướng chứ sao, tội gì phải ép người ta. Song, có lẽ không nghĩ ra được chuyện gì để tiếp tục nói cho mượt buổi trà, tay gia chủ đó lại tiếp tục trở về với vấn đề hút a phiến.

“Chậc, đáng thương cho anh. Vậy là bỏ mất một thú vui ở đời! Lần đầu hút có thể không quen, người sẽ hơi co giật, ngộ lắm. Rồi anh sẽ hít lấy hít để không khí, có hơi tức ngực chút chút, sẽ rát đấy, lúc đó tưởng như mình hối hận lắm. Rằng thứ này có hay ho gì, mình ước mình chưa từng hút. Nhưng rồi đây nhé, anh sẽ dần thấy lân lân phê phê, thấy mình trẻ ra và đời cũng đẹp hơn nữa. Đời tôi với anh thì có đẹp gì, nhà Nho bình dân thoái chí và bất mãn với thời thế, thêm nỗi yếu hèn nhu nhược, sướng gì? Mà thật chẳng hiểu sao lại sướng lắm, lại thêm yêu đời, lại muốn sống. Vài lượt đầu thì chưa thấy đâu, nhưng về sau sẽ thấy…”

Khói thuốc phiện bắt đầu bốc lên dưới sức nóng của ngọn đèn. Thằng nhỏ đưa ống cho chú Niên. Chú ấy rít một hơi, nghe ro ro. Rồi lại ro ro. Mắt chú lim dim, như muốn nhắm nghiền, lại như chực muốn mở ra. Tâm trí lưu lạc đến nơi đâu không biết, nhưng chắc chắn là không phải ở cõi đời khốn khổ này.

“Chú mà còn nói đến chuyện này nữa là tôi bỏ về ngay đấy chú ạ.” Lão Niên bắt đầu bực, nhìn chăm chăm người bằng hữu. Mà Niên hình như không nghe thấy lời lão cảnh cáo.

“Anh Kinh, anh vừa quặp râu lại vừa nhát cáy.” Niên cười cười, kẽ môi tuôn ra một làn khói mỏng và vấn vít, nhìn như miệng một con rồng trong chuyện cổ.

Bị chọc trúng nỗi thẹn, lão Kinh lườm nguýt bạn mình. Song le lão liền nhận ra một điều, rằng từ lúc gặp mặt, lão chỉ có lườm, hằm hè và cáu bẳn với Niên. Hình như lão đã mang cái nỗi tức giận với vợ con mình đến đây để trút lên bạn lão hay sao đấy. Lão thấy mình cũng quấy, Niên đã làm gì lão đâu, Niên vẫn đối xử với lão tử tế như thường. Nghĩ vậy, lão thở dài thườn thượt.

“Mụ vợ của tôi, mụ khinh tôi ra mặt. Đến vợ mà cũng khinh mình, tôi hẳn là sai rồi, tôi thương mụ quá làm gì, cưới về, dạy cũng không dám dạy. Để giờ nó đi khinh chồng nó. Lại thêm đứa con hay khóc quấy khiến tôi không đọc sách được chú ạ. Mà phải nó nhỏ nhắn gì, bé bỏng gì không nói. Trộm vía, cứ xem là con tôi vẫn bình thường đi, chỉ là khó nuôi hơn con người ta thôi. Thì đành rằng! Nhưng trước tôi cũng đã kể cho chú rồi đấy, tôi lo chuyện ma quỷ, lỡ bọn chúng có thật khôn thiêng, thì lại chết chửa!”

Nói xong, lão Kinh nhìn lên, chỉ thấy Niên đang hướng mắt đi xa xăm, ánh mắt không có định hướng. Và lão thấy mình cũng chán chường. Chán chường hơn chú Niên nhiều chứ! Chú Niên đang vui vẻ hưởng lạc kia kìa, lão nói chú còn không nghe thấy.

Song không phải thế, Niên vẫn đang nghe, xoay qua bảo với lão bằng cái giọng bị kéo dài ra thành chủng chẳng:

“Thế anh đã xem quẻ chưa? Hay đi xem thầy chưa đấy, chắc chưa rồi, vì anh đâu có tin. Nhưng anh tin Kiều không? Tin Nguyễn Du không? Anh có cuốn Kiều ở nhà chứ?”

“Thì có.” Lão gật đầu với Niên.

“Thế này nhé…” Chú bắt đầu bày cách cho lão, “Anh Kinh thử bói Kiều đi, cầm cuốn truyện Kiều đưa lên trán, thành tâm vái rằng: Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều…

Lão Kinh nghe thấy mấy lời khấn thì rùng mình một cái, vì tưởng đâu mình đã đi lạc vào một câu chuyện cổ quái nào đó. Lão hét tướng lên:

“Giời hỡi, chú nói bậy bạ cái gì đấy hử?”

Thấy người trước mặt mình đã bị dọa cho hoảng hồn, chú Niên bật cười, nghẹo cái đầu qua một bên mà cười, cười đến ho khụ khụ. Chú lại lấy tay đập đập vào lồng ngực mình, vừa ho vừa cười ra nước mắt.

Biết mình vừa bị chòng ghẹo, lão Kinh cay cú đứng bật dậy khỏi ghế, dấn bước định ra về.

“Ấy ấy… Anh đừng đi. Tôi chỉ đùa với anh thôi. Tôi biết có một cách thật này.” Niên gọi với theo lão.

Lão Kinh trù trừ đứng lại nghe chú ta nói.

“Gần Hồ Hoàn Kiếm, cái chỗ dân hay gọi là vườn Dừa ấy, có một cây dừa bêu đầu. Lâu lâu tụi người Pháp sẽ mang đầu của mấy lão Nho yêu nước ra đó, treo lên để răn người qua kẻ lại về số phận sẽ đến của những tên phản chính quyền, bên dưới thì dán một tờ giấy kể rõ tội trạng của cái đầu bị treo. Tôi nghe người ta kể lại anh ạ, rằng anh lấy tờ giấy kể tội đó, hứng máu từ cái đầu rơi xuống, rồi mang về dán ở đầu giường thì sẽ trừ được ma quỷ.”

Niên đặt ống điếu lên khay, thằng ở chỉ chờ có thế, nó lấy khăn lau qua cái ống một lượt, tay run run vì vui sướng.

Nghe vậy, lão Kinh còn hãi hơn, mặt mày tái xanh tái mét.

“Có lẽ ông giời cùng tổ tiên các đời đã phù hộ cho anh Kinh lần này.” Chú Niên lại tiếp tục, còn cố nói chậm hơn khi nãy, cứ như từng chữ nói ra đều muốn làm cho ra vẻ khề khà. “Hình như anh vẫn chưa biết chuyện gì… Hôm nay là ngày Đốc Linh cùng nghĩa quân của anh ấy bị chặt đầu và mang đi bêu. Tối ra, anh hãy đến đó và muốn làm gì thì làm ngay đi, kẻo không kịp thì lại mất dịp. Mà tôi lại khuyên, nếu lấy tờ giấy và máu của người thủ lĩnh thì có khi lại ứng nghiệm hơn chăng! Cái đầu của Đốc Linh ra sao thì chắc anh còn nhớ rõ chứ? Nên là...”

Đầu óc lão Kinh tối sầm lại, như thể ai đó vừa khua bấc đèn dập tắt ngọn nến đang thắp lên bên trong, lão chết cứng như một pho tượng, mãi sau cũng không nói được gì.

0

Hãy là người bình luận đầu tiên nhé!

Bình luận

Chưa có bình luận
Preview Settings

Try It Real Time

Layout Type
    • LTR
    • RTL
    • Box
Sidebar Type
Sidebar Icon
Unlimited Color
Light layout
Dark Layout
Mix Layout