Chương 7: Nhổ neo nào! Bến tàu Ponavium
Đỉnh núi trắng cao sừng sững, dưới ánh trăng chiếu rọi muôn nơi, lớp tuyết trắng đang tan chảy dần theo thời gian. Trước hang động băng không còn ai, chỉ có những bức tượng băng đứng im một chỗ. Là đám tượng của đoàn kỵ binh đen, chúng bị Kinkon đóng băng khi đang cố tấn công cậu bé. Trên bề mặt của đỉnh núi, thứ nước ma thuật Kinkon đã dùng để giải băng cho Chris vẫn còn một ít. Nó không bốc hơi đi mà vẫn còn đọng lại chút ít trên mặt đất. Trước sức thổi của gió núi, một vài giọt li ti đã bị thổi đến một bức tượng gần đó. Khi thứ nước ấy chạm vào, bức tượng băng tan chảy dần, để lộ ra một tên kỵ binh với gương mặt vô cảm, tay cầm cây giáo và cưỡi trên con ngựa đen. Mắt hắn xám xịt và không có đồng tử.
Vừa được giải thoát, hắn liền nhìn ngó xung quanh. Thấy đồng đội của mình bị đông cứng, hắn không tỏ vẻ gì, vẫn giữ gương mặt vô hồn mà tìm kiếm gì đó. Y tiến thẳng vào hang băng, trước từng vó ngựa mạnh bạo, cái hang ấy liền bị phá vỡ ngay lập tức. Chỉ ngay sau đó, gã kỵ binh đi ra, vẻ mặt vẫn không để lộ cảm xúc. Biết rằng mình đã lỡ mất kế hoạch, hắn cưỡi con ngựa ô phóng thẳng xuống núi trắng, bỏ lại những đồng đội bị đóng băng của mình.
Lúc ấy cũng đã nửa đêm, không còn cơn bão tuyết nào nữa, người dân Suden cuối cùng cũng được ngủ yên sau một tháng bị cơn bão kia hoành hành. Họ ngủ yên trong ngôi nhà của mình, ngủ say đến mức không thể nghe thấy tiếng vó ngựa đêm của kỵ binh. Một người một ngựa cứ như thế phóng đi về phía Bắc, không biết hắn ta sẽ đi về đâu.
Màn đêm trôi qua trong tĩnh lặng, chẳng mấy chốc bóng tối đã lui mình về, nhường chỗ cho ánh sáng mặt trời đón chào ngày mới. Trên đồng cỏ xanh mướt, có một ngôi nhà bằng gỗ sồi nằm chễnh chệ trên ngọn đồi thoai thoải. Trước ngôi nhà ấy là tấm bảng để chữ “Nhà trọ Suden”. Jotus từ bên trong bước ra, cậu vươn vai chào đón ánh nắng bình minh. Mặt trời vàng rực từ đằng Đông ló dạng, đem lại cho chàng thanh niên cái nắng ấm áp và rực rỡ. Đứng từ nơi này, cậu có thể thấy được ngọn núi trắng, nơi mình vừa phiêu lưu và đạt được thành quả xứng đáng, cũng như làm quen với người bạn mới. Ngọn núi vẫn trắng toát, nhưng không còn vẻ khắc nghiệt nữa.
Jotus sau đó đi vào trong nhà trọ và lay Kinkon dậy. Thằng bé gầy ốm tay ôm cái gối nâu dài ngoằn, có khi còn dài hơn cả người nó. Bị Jotus lay dậy, nó chưa chịu dậy liền mà còn loi nhoi trên cái sạp tre. Nhưng khi Jotus nói đến việc đi tìm mẹ, Kinkon liền bật dậy với ánh mắt ngơ ngác, chính cái vẻ bối rối ấy khiến Jotus cũng phải bật cười trong vô thức. Sau khi vệ sinh các thứ xong, hai anh em rời khỏi nhà trọ, Jotus không quên trả tiền thuê phòng cho người chủ. Với số tiền thưởng của ông Hammal sau phi vụ bão tuyết trái mùa, Jotus có thể mua được rất nhiều thứ ở vùng Suden này. Từ đồ ăn đến nước uống, thậm chí là xe ngựa, Jotus đều có thể đáp ứng được. Nhưng cậu ta lại chọn đi bộ, nhằm tiết kiệm chi phí nhất có thể. Địa điểm tiếp theo là bến tàu Ponavium, nằm ở phía Nam thị trấn Suden. Nơi này được mệnh danh là cửa ngõ lục địa, là nơi giao thương lớn nhất nhì đại lục Deuskama, theo lời Chris kể. Jotus và Kinkon đã đi được nửa chặng đường, chỉ cần đi thêm một lúc nữa sẽ đến. Trên đường đi, cả hai không ngừng trò chuyện với nhau. Jotus đến giờ vẫn chưa nắm rõ quy luật tiền tệ nơi đây. Khi nãy cậu trả tiền trọ bằng một đồng vàng thì được thối lại bằng một nắm đồng bạc. Cậu đến giờ vẫn còn lú đầu trước túi tiền vàng này, Kinkon thấy thế thì liền giải thích:
“Một đồng vàng Hurrle bằng mười lăm đồng bạc Cylor, còn một đồng Cylor thì bằng năm đồng Tarfoon, anh cứ thế mà tính, cái này mẹ có dạy cho em.”
“Tiền gì mà nghe giống bão tố vậy?” Jotus khờ mặt nói.
“Em đâu có biết, mà tên như thế nghe cũng hay mà anh.”
Jotus sau đó mân mê đếm lại đống đồng bạc trong túi, cùng thêm một vài đồng vàng lấp lánh. Jotus vốn chẳng giỏi tính toán, nên đếm được một lúc thì đầu óc trở nên quay cuồng. Cậu đành cột túi tiền lại và cười dại khờ để đánh trống lãng, nhưng tính sơ sơ cũng được kha khá. Gạt chuyện tiền bạc qua một bên, Jotus sau đó cùng Kinkon tiếp tục hành trình hướng đến Ponavium.
Những đợt gió mát lành lạnh sớm bị thay thế bởi những cơn gió pha mùi cát, chúng thổi đến khiến Jotus cảm thấy mới lạ vô cùng. Chẳng phải là cái nóng của gió sa mạc, cũng chẳng phải là cái lạnh của đỉnh núi trắng, mà là mùi gió pha hương vị mằn mặn của biển cả cùng cát trắng, báo hiệu Ponavium đã gần hơn bao giờ hết. Đi thêm được một khoảng, khu vực đồng cỏ xanh biến mất dần, thay vào đó là các cung đường lát đá sỏi đẹp đẽ. Hai bên đường xuất hiện nhiều người vô cùng, họ tụ tập lại vừa bán hàng vừa cười nói rôm rả. Chỗ này thậm chí còn nhộn nhịp hơn khu chợ nông sản Suden, nơi đây quy mô vừa lớn vừa đa dạng.
Các mặt hàng trải dài từ những món ăn hấp dẫn, đến các vòng đá cẩm thạch đầy đủ sắc màu. Được đi đến một nơi hết sức mới lạ, Kinkon không giấu được sự phấn khích. Mặt nó tươi rói, ánh mắt thèm thuồng nhìn vào từng gian hàng thức ăn, mùi thơm bốc ra từ chúng khiến Jotus cũng phải chảy dải. Tính Jotus vốn phóng khoáng, nếu không vì lý do bắt tàu đi tìm mẹ cho Kinkon thì có lẽ mười đồng Hurrle cũng không đủ để cậu mua sắm. Ở mỗi sạp hàng đều có tiếng rao của người bán, họ vừa giơ đồ mình bán lên cao, vừa rao lớn với thái độ niềm nở vô cùng.
Chưa đến Ponavium đã nhộn nhịp thế này, hai anh em tò mò rằng bến cảng ấy sẽ còn như thế nào nữa. Đi qua khu chợ sầm uất, hai người đã đứng trước một bức tường đá cao to sừng sững. Ngay trung tâm bức tường là cánh cổng gỗ, nơi nhiều người đi qua đi lại. Càng đến gần bến tàu, lượng người lưu thông một lúc một nhiều. Jotus để ý rằng có rất nhiều người khác nhau, từ những người tóc vàng hoe đến tóc nâu gỗ, dường như họ đến từ các quốc gia lân cận vùng này. Khi thấy một thanh niên đi cùng một chú nhóc, ai ai cũng thấy kì quặc. Với một bên mắt trái bị bịt kín, không lấy làm lạ khi du khách chung quanh đều nghĩ Jotus là một hải tặc, họ cứ nghĩ cậu đang bắt cóc Kinkon. Nhưng khi thấy vẻ bình thản của chú nhóc, họ cũng không nghĩ thế nữa.
Bước qua cánh cổng gỗ, hai anh em đã đến được cảng Ponavium, khung cảnh trước mắt hiện ra rõ rệt. Vùng biển xanh trong với nhiều con tàu lớn nhỏ, những cánh buồm trắng thu xếp lại trên mỗi chiếc. Vùng hải cảng này được lót bằng đá, cùng chất liệu với bức tường kia. Trên bầu trời, hải âu cùng bồ nông thi nhau lượn lờ nhằm tìm kiếm thức ăn, chúng vừa bay vừa kêu inh ỏi. Mùi gió biển thổi vào mũi Jotus khiến cậu cảm nhận được vị mặn của muối, cùng một chút tanh tanh của cá biển. Quanh khu đó còn xuất hiện nhiều gian hàng hơn, không chỉ thức ăn mà còn có cả quần áo. Nhìn cái áo rách rưới của Kinkon, Jotus không kiềm lòng được. Cậu lấy một vài đồng Hurrle trong túi, sau đó dắt Kinkon đến gian bán quần áo. Được dắt đi mua áo quần mới, Kinkon không giấu được cảm xúc mà nhảy cẩng lên. Nhìn thấy nhiều kiểu áo đặc sắc, nó không biết phải chọn cái nào để mặc. Hết cầm cái này rồi đến cái kia, cứ như thế mà nó vẫn chưa chọn được.
Sau nhiều phút lưỡng lự, Kinkon cuối cùng cũng chọn cho mình một cái áo màu nâu, với kiểu cách khá cổ. Nó đưa cho Jotus xem thử, anh chàng không hiểu sao nhóc ấy lại chọn cái áo như thế, nhìn nó cứ như phong cách của nhiều năm trước.
“Tính chọn cái này thật à nhóc?” Jotus nhíu mày mà nói.
“Em thấy kiểu này đủ đẹp rồi anh, với nó cũng không quá đắt nữa. Anh nhìn đi, chỉ có hai Cylor thôi.” Kinkon chỉ vào bảng giá treo gần đó.
Jotus lại cầm cái áo lên soi mói, chân mày cậu như muốn dính vào nhau khi thấy nó. Không ngờ đứa nhóc này lại thích kiểu cách cổ xưa như thế. Nhưng nghĩ kỹ lại thì điều đó cũng tốt, chỉ cần hai Cylor cũng có thể mua một cái áo mới, đỡ hơn phải dùng mấy đồng Hurrle quý giá. Hơn nữa, cậu chàng thấy Kinkon là một đứa trẻ tốt, nó không đòi hỏi cao siêu, chỉ cần có một cái áo lành lặn để mặc là đủ mãn nguyện.
Sau khi đã mua sắm xong, hai người rời khỏi sạp quần áo và bắt đầu tìm chỗ để đi tàu. Họ lướt qua nhiều sạp hàng khác nhau, chứng kiến được nhiều món hàng độc đáo của mỗi gian. Nhưng thứ duy nhất Jotus để ý chính là người ở của mỗi sạp. Mỗi gian hàng đều có một chủ và một tớ. Mấy người đầy tớ hầu hết đều có nước da bánh mật, gợi cho Jotus nhớ về màu da của người dân ở ốc đảo sa mạc. Các đầy tớ đều có điểm chung, đó là họ đều phải làm việc quần quật, từ khuân vác đến dọn dẹp. Không chỉ vậy, họ còn bị chủ đánh đập bằng roi, trông không khác gì nô lệ. Mỗi lần các đầy tớ làm việc chậm chạp, hay làm đổ vỡ thứ gì đó đều bị chủ cho ăn roi, vừa đánh vừa mắng rủa thậm tệ. Những người da bánh mật ấy không phản kháng, chỉ có thể nghiến răng chịu đau. Mọi thứ đã bị Jotus nhìn thấy, nhưng cậu không dám xen vào, dù sao đó là chuyện của người ta, mình không nên chỉa mũi vào. Nhìn qua Kinkon, thằng bé đang run sợ trước cảnh tượng ấy. Mỗi khi nó run sợ là lại ảnh hưởng đến khí tượng xung quanh, Jotus cảm nhận được nhiệt độ đang giảm mạnh. Không để cho mọi chuyện rắc rối thêm, cậu nhanh chóng cúi xuống và trấn an thằng bé. Cũng nhờ có Jotus, Kinkon cũng có thể bình tĩnh lại, anh chàng sau đó dắt nó đi sang khu vực khác để cho yên thân.
Rời khỏi khu bán hàng, Jotus cùng Kinkon thẳng tiến đến khu của các con tàu. Đứng gần những chiếc tàu đồ sộ khiến Jotus choáng váng vô cùng, kiểu cách của mấy chiếc này khác hẳn với Hiskan, trông nó vừa độc đáo lại vừa vững chãi. Sự hùng vĩ của mấy thứ ấy giúp Kinkon quên đi cảnh tượng dã man khi nãy, nó trầm trồ thích thú khi đứng gần chúng. Ở đây có nhiều thủy thủ đang quan sát xung quanh, trên bắp tay họ là các hình xăm mỏ neo, trông thật khí phách và mạnh mẽ. Jotus đi đến gần và hỏi thăm:
“Tàu này có đi về phía Bắc không anh? Tôi cần một con tàu đi về phía đó.”
Nam thủy thủ đang thả neo, nghe chàng trai lạ mặt hỏi thì lắc đầu nói:
“Tàu này là tàu chở hàng, không nhận chở người, đi chỗ khác chơi đi!”
Bị trả lời hằn hộc như thế, Jotus khó chịu vô cùng. Cậu nhăn mặt vì bị khinh thường, nhưng sau đó đành nhắm mắt bỏ qua. Jotus vẫn nắm tay Kinkon đi qua những con tàu khác để hỏi. Nhưng cậu đi đến đâu cũng bị xua đuổi, ai ai cũng giữ thái độ ghẻ lạnh và xa lánh cậu ta. Có vài thủy thủ còn định lao vào đánh Jotus, nhưng cũng may cậu bỏ chạy kịp. Anh không thể hiểu tại sao mình lại bị xa lánh đến thế, không biết mình đã làm gì sai. Jotus cứ gãi đầu đầy bức bối, thấy vậy Kinkon chỉ dám thỏ thẻ:
“Em nói này anh đừng giận, nhưng em đoán là họ nghĩ anh là cướp biển đấy.”
“Cái gì?” Jotus nhíu mày hỏi.
“Chắc do anh bịt mắt, thêm cả bộ quần áo nâu hơi sờn cũ này nữa. Nhìn anh ai cũng tưởng hải tặc, nên họ không dám chở anh.”
Nghe Kinkon nói vậy, Jotus đứng đờ mặt ra. Cậu ta lấy tay xoa phần mắt trái bị hư hại, nỗi căm hận lại nổi dậy. Jotus vừa nói vừa nghiến răng:
“Khi nào tìm được mẹ của Kinkon, tao sẽ về tính sổ với mày, tên nhà văn khốn kiếp. Nghĩ sao mặt tao đẹp như thế mà lại bị nói là hải tặc.”
Cảm nhận được sự phẫn uất của Jotus, Kinkon không dám nói gì nhiều. Nhưng khi nghe đến cái tên nhà văn, nó liền tò mò hỏi:
“Nhà văn? Ông ấy là ai vậy anh?”
“Là một gã xảo quyệt, hắn tống anh đến lục địa này. Chính hắn đã khiến anh bị chột, cũng như đánh mất pháp cụ. Hắn đã lấy của anh tất cả, khi nào tìm được mẹ cho em thì anh sẽ tìm lão ta để tính sổ.”
Jotus sau đó đi một lúc gấp gáp hơn, cậu cùng Kinkon đi tìm cho bằng được một chiếc thuyền chở mình về phía Bắc. Nhưng dường như số phận trớ trêu, chẳng có tàu nào dám nhận chở cậu cùng Kinkon. Dù cho có giải thích cặn kẽ rằng mình không phải cướp biển, song kết quả vẫn vô nghĩa như thế. Càng bị từ chối, Jotus càng trở nên điên tiết hơn, chàng ta không tức vì bị từ chối, tức vì mình trong mắt người khác đã trở nên xấu xí. Cả đời cậu lúc nào cũng được nhiều người kính nể, vừa có nhan sắc vừa có tài phép vô biên. Ấy vậy mà chỉ trong một phút dại dột, cậu đã mất đi tất cả, trở thành một tên một mắt chỉ sử dụng được ma thuật cơ bản.
Nhưng sau cùng, Jotus đành phải gạt qua mà bước tiếp, cậu biết mình nên làm gì. Không tìm được tàu thì mình sẽ đi phương tiện khác, với đống Hurrle trong tay, việc tìm kiếm phương tiện di chuyển không thành vấn đề. Nhưng nếu không đi tàu thì sẽ phải băng qua vùng sa mạc khô cằn, nơi Jotus từng xém chết nếu không có cô gái mắt vàng kia cứu giúp. Chỉ nghĩ đến nơi ấy thôi cũng khiến cậu rùng mình, thề rằng sẽ không quay trở lại khu đó.
Khi còn đang không biết chọn phương tiện gì, một gã đàn ông từ xa đi lại chỗ Jotus và Kinkon. Vừa thấy ông ta, hai người liền thấy điểm kì lạ của lão: Là một tên bặm trợn, với nhiều vết thẹo tung hoành trên khắp cơ thể, nhưng điểm khiến hai anh em để ý là phần đầu của hắn. Tóc hắn ta có kiểu dáng kỳ quái, hai chùm tóc dựng đứng và dài sọc như hai cái râu gián. Hắn tiếp cận Kinkon và Jotus, sau đó nhe răng ra cười nham hiểm:
“Hai người đang kiếm tàu phải không? Tôi nghe phong phanh mấy lái buôn nói vậy.”
Vẻ ngoài của gã khiến Jotus bất an vô cùng, nhìn chẳng đáng tin chút nào. Jotus cứ có cảm giác không tốt mấy về gã này. Nhưng khi nghĩ kỹ lại thì cậu thấy mình không nên đa nghi như thế, vẻ bề ngoài không nói lên được điều gì.
“Đúng là chúng tôi đang cần tìm tàu, ông hỏi vậy để làm gì? Tôi không quen biết gì ông.”
Gã mặt thẹo kia cười mỉm đầy phấn khích, sau đó đáp:
“Thế thì cậu có muốn đi tàu của tôi không? Tàu tôi tuy nhỏ, nhưng có thể đi được khá xa đấy, không thua kém gì mấy con tàu hạng sang kia đâu.”
Jotus vẫn giữ vẻ nghiêm nghị, anh không có ý định giao du với tên bặm trợn này, do đó sẽ không có chuyện cậu sẽ đi tàu của hắn . Cậu chàng đứng khoanh tay, mặt hơi ngước lên cao, cậu muốn xem gã đàn ông kia tính khua môi múa mép đến chừng nào. Nhưng khi nhìn thấy Kinkon đang đứng nép bên mình, cũng như sờ vào con mắt đã mất, Jotus bỗng chốc khựng lại đôi chút. Cậu nhận ra việc mình đã và đang làm, cậu đã hứa là tìm mẹ cho Kinkon, cũng như tìm gã nhà văn kia và tính sổ. Kén chọn tàu là một việc không nên làm, bây giờ chỉ còn mình gã người thẹo kia mới cho cậu cơ hội để đi tàu. Sau một lúc nghĩ suy trong cơn bức rức, Jotus sau cùng cũng đành miễn cưỡng mà đồng ý đi tàu của tên kia. Vừa được đồng ý, gã đàn ông liền tỏ vẻ mừng rỡ, hắn trong chốc lát đã dẫn Jotus đi theo mình.
Ba con người cùng đi về một hướng, họ càng lúc càng rời xa khu vực sầm uất, tiến đến khu vực ảm đạm hơn của bến tàu Ponavium. Nơi này ít thương buôn hơn, ít tiếng rao bán. Thay vào đó lại là tiếng xiềng xích kéo lê trên mặt đất, trước mắt Jotus hiện ra khung cảnh hàng dài những người với nước da bánh mật, bị trói bằng các cọng xích to và rắn chắc. Trên người họ là các vết bầm tím, theo sau là những tên bặm trợn, cầm trên tay các cây roi tua rua. Chúng vừa đi vừa dùng cây roi ấy đánh mạnh vào cơ thể đám người kia. Những người khốn khổ kia chỉ có thể cắn răng chịu đau, họ không dám phản kháng dù chỉ một chút. Cảnh tượng bạo lực ấy quá khủng khiếp, nó khiến Kinkon sợ gần như phát khóc. Thằng bé nấp sau áo choàng Jotus để trốn tránh khung cảnh ấy, nó không đủ gan dạ để chứng kiến.
“Này! Ông chú, những người da ngăm ấy làm gì mà bị đánh đập như vậy? Tôi thấy nãy giờ rồi đấy.”
Gã đàn ông đang bước đi thì đứng lại, ông ta sau đó giải thích bằng giọng khàn đặc:
“Ý chú em là đám dân di cư đấy à? Chúng là nô lệ, được mua về đây để làm việc khiêng vác hàng hóa, vậy thôi. Bộ lần đầu cậu thấy chúng à? Mà cũng phải, nhìn bộ dạng cậu chắc là khách du lịch, không biết rõ về mấy vụ này đâu nhỉ? Mà không cần biết làm gì, cứ đi tiếp đi, sắp đến chỗ tàu tôi thả neo rồi.”
Vừa nói xong, ông ta tiếp tục bước đi mà không màn để ý đến Jotus, người hiện giờ vẫn còn sốc trước mọi chuyện. Từng tiếng roi đập vào da thịt của nô lệ khiến Jotus khó chịu kinh khủng, cậu biết hiện tại mình không thể làm gì, do vậy chỉ đành nhắm mắt mà đi qua khúc đường đau khổ ấy. Jotus nắm chặt tay Kinkon, cậu cố gắng trấn an thằng bé để nó không tạo ra bão tuyết. Đi thêm được một quãng, họ cũng đã đến được chỗ neo đậu tàu. Nơi này không có lái buôn, cũng chẳng có nô lệ, chỉ có một vùng hải cảng hoang vu và vắng lặng. Jotus liền đưa mắt ra quan sát xung quanh, nơi này rất ít tàu bè, chỉ có lát đát vài con xuồng cũ nát, cùng mớ rác rưởi đã bốc mùi chua thiu. Thứ duy nhất Jotus thấy rõ nhất là một cái thuyền buồm tầm trung, với lá cờ cũ nát và bạc màu ở trên đỉnh. Vừa thấy nó, cậu chàng liền nhăn mặt tỏ vẻ ghê tởm nó. Một con tàu xấu xí nhất mà cậu từng thấy, cứ có cảm giác nó sẽ bị đánh chìm bất cứ lúc nào.
“Ông chú! Ta sẽ phải đi con tàu này à? Nhìn nó chênh vênh quá, tôi không tin là nó có thể giong buồm ra khơi được đâu.” Jotus nhíu mày chỉ trỏ.
“Thì cậu cứ lên đi thì biết, nhìn bề ngoài vậy thôi, chứ nó đã đi ra khơi được gần mười năm rồi đó. Vượt qua bao sóng dữ mới thành ra như thế đấy.” Gã đàn ông vừa giải bày vừa sửa sang phục trang. “Cậu định đi đâu?”
“Tôi không rõ, chỉ cần ông đưa chúng tôi lên phía Bắc, vượt qua vùng sa mạc là được rồi. Còn lại thì tôi sẽ tự đi.”
Nói xong, Jotus liền nắm tay Kinkon dắt lên tàu, bất chấp vẻ cũ kỹ và hoang tàn của con thuyền buồm. Khi vừa mới lên, Jotus liền nhìn xung quanh. Vật chất trên đây cũng tồi tệ không khác gì con tàu, mấy cái thùng gỗ thì nứt toác, phần gỗ bị mọt ăn đến mức loang lỗ. Trong nhận thức của Jotus, nó không khác gì một con tàu ma, trôi dạt trên biển dữ nhiều năm rồi tấp vào đây đón cậu đi vậy. Gã đàn ông kia sau khi nhổ neo xong thì liền đi đến Jotus, ông ta chìa tay ra và nói:
“Tám Hurrle và mười ba Cylor, giá này cậu thấy ổn không?” Giọng điệu lão ta bình thản, cứ như số tiền ấy chẳng hề lớn lao.
Vừa nghe báo giá, Jotus liền giật nãy mình. Cậu không ngờ giá thành lại cắt cổ đến thế, quả nhiên cái tên này chẳng mấy tốt lành. Khi còn lưỡng lự, bỗng Jotus thấy mấy cái thùng đằng kia cử động nhẹ, ở sàn dưới tàu cũng có tiếng động. Tuy nghi ngờ lên đỉnh điểm, song Jotus vẫn giữ vẻ bình thản mà hỏi:
“Sao đắt đến thế được, thậm chí chúng ta còn chưa rời khỏi bến tàu nữa.” Jotus nhăn mặt.
“Thế thì có vấn đề gì sao? Phải có tiền mới khởi hành được chứ, cậu đã chọn lên đây, thì buộc phải trả tiền để đi, không có đường lui đâu.”
Jotus tuy bị ép vào thế khó, song chuyện này vẫn chẳng hề hấn gì với cậu. Anh chàng nhếch mép lên cười khinh và nhìn về lão kia. Về phần gã đàn ông đầu gián, hắn vẫn giữ nụ cười đắc thắng trên gương mặt đầy sẹo. Lão không biết rằng chàng trai kia đang có một mưu tính táo bạo. Ngay khi vừa dúi vào tay người đàn ông vài đồng vàng, Jotus đã liền nắm và siết chặt tay ông ta. Cậu siết mạnh đến mức khiến gã kia nhăn mặt. Chỉ trong chốc lát, ông ta bị nhấc lên không trung, sau đó bị ném xuống như một món hàng rác rưởi. Mọi chuyện xảy ra nhanh chóng khiến Kinkon hoang mang ra mặt. Thằng bé càng lúc càng sợ hãi hơn. Khi còn chưa kịp định thần, Jotus đã ôm thằng bé vào lòng, sau đó nhảy ra khỏi con tàu, trở về khu vực bờ đá hải cảng. Vừa đáp đất thành công, Jotus liền thở phào và lộ rõ vẻ đắc thắng. Cậu chàng sau đó ngước lên và nói bằng giọng khinh miệt.
“Tính dụ bọn ta lên tàu để bắt cóc à, ta thấy hết rồi. Bọn hải tặc chúng mày đừng tưởng có thể làm hại được ta đây.”
Người đàn ông kia sau bị vật ngã một cú đau điếng thì chật vật đứng dậy. Gã nghiến răng đầy cay cú, bàn tay của hắn bỗng hất lên như ra hiệu. Ngay lập tức, Jotus liền nghe tiếng các thanh gỗ bị đập nát, cùng với tiếng hô của những tên đàn ông khác. Chỉ sau đó, xuất hiện trên tàu là hơn chục gã đàn ông trông y hệt nhau, trên tay là những thanh kiếm gỉ sét. Đặc điểm của chúng là hai cái lọn tóc dài và cong vút lên trời, Jotus bấy giờ nhìn bọn đó không khác gì một đàn gián hôi hám. Từng gương mặt chi chít sẹo của chúng khiến Jotus kinh tởm, cậu sau khi thấy được sự thật thì liền nhìn sang Kinkon. Thằng bé vẫn đang ngớ người trước mọi chuyện vừa diễn ra.
“Họ là ai vậy? Nhìn thấy ghê quá.”
“Là hải tặc, chúng tính bắt chúng ta để làm nô lệ đó. Nhìn sơ quá là anh cũng tự biết rồi. Đánh được một tên rồi, giờ chúng ta chạy khỏi đây thôi nhóc.”
Vừa dứt câu, Jotus liền kéo Kinkon chạy khỏi khu vực vắng lặng này. Họ bỏ chạy trước cơn thịnh nộ của bè lũ cướp biển kia. Hai anh em vẫn cứ chăm chăm mà chạy đi, mặc kệ những tiếng gào rú ở đằng sau. Khi đã trở về khu sầm uất và tấp nập, nơi có nhiều người qua lại Jotus và Kinkon mới thở phào nhẹ nhõm. Vẻ mặt Jotus vừa toát lên vẻ sợ hãi, nhưng cũng phấn khích đến lạ, còn Kinkon thì chỉ có sự kinh sợ đến khiếp đảm. Khi thở được một chút, Kinkon liền hỏi Jotus:
“Anh hay quá vậy, sao biết họ là hải tặc?”
“Nhìn vào lá cờ đấy, dù bị bạc màu nhưng anh cũng nhìn ra nó có hình đầu lâu xương chéo, đã thế anh còn thấy trong mấy cái thùng gỗ động đậy, cũng như sàn tàu rung lắc. Chỉ có thể là có người hay vật gì trong đó mới vậy thôi.”
Tim Kinkon giờ vẫn còn đập thình thịch, nó không nghĩ mình lại gặp chuyện như thế. Ngẫm đi nghĩ lại, Kinkon thấy nơi này quá nguy hiểm, nó liền thúc giúc Jotus. Chàng trai kia liền đáp lời:
“Chúng ta vẫn sẽ bắt tàu đi, nếu hỏi bằng lời không được thì ta sẽ dùng tiền để giải quyết.” Jotus mặt tự mãn, tay xòe ra mấy đồng vàng ban nãy. “Với số tiền này thì khó lòng mà từ chối được, chỉ cần đừng làm cho người ta hoảng sợ là được.”
Vẻ tự tin ấy khiến Kinkon được tiếp thêm sức mạnh, thằng bé gật đầu đồng ý với Jotus. Hai người sau đó hòa mình vào đám đông để thẳng tiến đi tìm tàu. Đúng với dự đoán của chàng pháp sư, khi thấy Jotus đến hỏi thuyền, mấy người trên đó ban đầu còn dè chừng mà không chấp thuận yêu cầu. Nhưng khi Jotus đưa ra mấy đồng Hurrle sáng rực, thái độ của bọn họ liền quay ngoắt rõ rệt, họ tiếp đón và dìu Jotus và Kinkon như những vị khách quý. Nếu ngay từ đầu nghĩ ra cách này thì có lẽ cả hai sẽ không gặp rắc rối với đám hải tặc đầu gián kia. Hai anh em ngồi trên hít thở khí trời và trò chuyện được một lúc khá lâu, sau đó con tàu cũng bắt đầu nhổ neo, cánh buồm căng ra và bắt đầu rời khỏi hải cảng Ponavium.
Trong cái góc vắng lặng của bến tàu, đám hải tặc đầu gián đang đứng quan sát con tàu của Jotus không ngừng, chúng nhìn với sự lặng thinh đáng sợ và bí hiểm. Sau khi đã ghi nhớ đặc điểm của con thuyền ấy, đám người đó liền quay về chỗ cũ, nhổ neo và cho con tàu xập xệ ra khơi, quyết truy cùng đuổi tận hai anh em kia.