Chương 4
Cảnh báo
Âm phủ vốn là nhà của hắn.
Nửa kiếp người chìm nổi trần ai, ngoảnh đi ngoảnh lại cũng chỉ như một cái chớp mắt. Trần Thừa Dạ đứng giữa khoảng không mịt mùng, nhìn ngắm cõi chết vẫn vẹn nguyên một màu tăm tối như ngàn năm trước.
Bước qua vùng sương mù đặc quánh tử khí, hương vị đất mục quen thuộc xộc thẳng vào tâm can, đánh thức hoàn toàn bản thể Lục Vương tử đã ngủ yên từ lâu.
Nơi đầu tiên hiện ra trước mắt hắn là chiếc cầu độc mộc nhỏ xíu, thân gỗ uốn cong vồng lên như một vành trăng khuyết tịch liêu, bắc ngang qua khoảng không thăm thẳm. Dân gian vẫn truyền tai nhau câu hát răn đời: “Ai mà chửi mẹ mắng cha, chết xuống âm phủ đi qua cầu vồng.” Cái tên “cầu vồng” nghe thì đẹp đẽ, nhưng tên thật trên sổ sách địa phủ lại là cầu Khảo Giác, nơi ngự trị của cửa địa ngục đầu tiên.
Bên trên là cầu vồng hẹp trơn, bên dưới lại là dòng Sông Lũy đỏ ngầu như máu, những vạc dầu khổng lồ đang sôi lên sùng sục, lửa quỷ xanh lè táp lên thành vạc cháy bừng bừng.
Trần Thừa Dạ đứng khoanh tay, chứng kiến những vong hồn mang đại tội bất hiếu, tội nặng nhất trong năm đại tội ngũ hình của đạo trời, đang run rẩy bò từng bước trên chiếc cầu cong vồng ấy. Đi đến giữa cầu, khi nỗi sợ hãi tột cùng làm đôi chân phàm trần khuỵu xuống, những bóng quỷ đầu trâu mặt ngựa lực lưỡng, tay lăm lăm dùi đồng, thương nhọn sẽ lao ra. Không một lời phán xử, chúng vung dùi nện thẳng vào lưng hương hồn, đẩy nhào tất cả xuống vạc dầu sôi bỏng rát phía dưới. Tiếng thét gào xé tai vang lên rồi chìm nghỉm, thịt nát xương tan, rồi gió âm thổi qua, hồn phách lại tụ hình để lặp lại nỗi đau đớn bất tận.
Đối với những vong hồn không phạm vào đại tội bất hiếu, họ sẽ được quỷ sai dẫn theo một con đường mòn heo hút men bên bờ sông Lũy để tiến vào cửa địa ngục thứ hai: núi Ốc Tiêu và núi Thiết Vi. Trước mắt Trần Thừa Dạ, hai dãy núi đá đen kịt, cao sừng sững như hai bức tường thành bao bọc lấy cõi chết hiện ra đầy ghê rợn. Những vách đá ở đây không phải là đá thường, mà sắc nhọn, lởm chởm như hàng vạn lưỡi dao cạo hướng lên trời.
Hắn nhớ rất rõ, đây là nơi trừng phạt những kẻ lúc sinh thời phạm tội ác khẩu, chuyên nói lời điêu ngoa, đâm chọc sau lưng, hủy hoại thanh danh và gia đình người khác. Những hương hồn ấy bị quỷ sai bắt đi chân đất, quất roi da bắt leo qua những ngọn núi đao này. Mỗi bước chân đạp xuống là một lần máu chảy thịt rơi, gân huỷ xương nát. Họ gục xuống, quỷ sai lại nắm tóc kéo lê qua những cạnh đá sắc lẹm, tiếng khóc than oán hận vọng vào vách đá, tạo nên thứ âm thanh u uất uất rợn người.
Nhịp chân của Trần Thừa Dạ thong thong dời bước. Đi qua khỏi hai ngọn núi đao rớm máu, con đường bỗng trở nên bằng phẳng, lót bằng những phiến đá xám lạnh dẫn đến địa ngục thứ ba: Bàn La Đá.
Khung cảnh nơi đây âm u đến nghẹt thở với hàng ngàn phiến thạch khổng lồ treo lơ lửng bằng xích sắt rỉ sét. Đây là chốn đền tội của những hạng người bội tín nghĩa, lừa thầy phản bạn vì tiền tài. Phương thức hành phạt ở Bàn La Đá thô mộc nhưng tàn khốc đến cực điểm. Hương hồn bị quỷ dạ xoa ấn nằm ngửa trên bệ, rồi những thớt đá nặng hàng ngàn cân từ trên cao dập mạnh xuống, nghiền nát linh hồn thành một bãi thịt vụn vặn vẹo. Khi thớt đá nhấc lên, quỷ sai lại dùng búa đồng gõ vào không khí, gọi hồn phách tỉnh lại, tiếp tục chịu cảnh ép xác giã xương từ ngày này qua tháng khác.
Nếu một đời thanh bạch, không mắc phải những ác nghiệp nặng nề kể trên, hương hồn sẽ lại được bước tiếp trên con đường bằng phẳng. Trần Thừa Dạ dõi mắt nhìn ra xa, nơi dẫn vào một vùng làng mạc hoang tàn, nghèo nàn xơ xác chìm trong màn sương mù. Đó là nơi tụ tập của vạn quỷ đói khát, loài ngạ quỷ bụng phệ như cái trống nhưng cổ họng lại nhỏ như cây kim.
Chúng vốn là những kẻ khi sống ích kỷ hại người, thấy người nghèo đói thì ngoảnh mặt làm ngơ, lãng phí cơm gạo, ghen ăn tích ở với sự no ấm của xóm giềng. Giờ đây xuống âm phủ, chúng phải lang thang bên lề đường, đói khát cào cấu đến điên cuồng. Hễ thấy một hạt cơm thừa, một chút nước cặn dọc đường, chúng liền lao vào bốc ăn. Nhưng cứ hễ đồ ăn thức uống vừa chạm vào môi, quỷ lực liền hóa phép biến tất cả thành than hồng rực lửa, thiêu cháy cuống họng, khiến chúng gào rú trong tuyệt vọng mà không cách nào lấp đầy cái bụng đói.
Thế nhưng, bấy nhiêu hình phạt vẫn chưa là gì so với ba vùng cấm địa Vô Gián khuất sau rặng núi Thiết Vi, nơi giam giữ những kẻ phạm đại tội nghịch thiên.
Trần Thừa Dạ nhìn về ngục Hỏa Thiêu Hồn, nơi trừng phạt kẻ phá miếu đào mả, đập tượng thóa mạ thánh thần. Linh hồn chúng bị xích sắt quấn chặt, biến thành những ngọn đuốc sống cháy rực từ trong cốt tủy giữa biển lửa âm hỏa xanh lè, ngày đêm gào rú khôn cùng.
Ngay bên cạnh là ngục Băng Hàn cô độc, dành cho những kẻ tâm địa rắn độc, chuyên hãm hại bậc trung thần hay người hiền đức giúp đời. Nơi đây quanh năm không ánh sáng, chỉ có cái lạnh thấu xương đóng băng linh hồn chúng trong những khối thạch tảng nứt nẻ.
U uất nhất là ngục Bạt Thiệt, nơi trừng phạt hạng buôn thần bán thánh, giả danh thần phật để gieo rắc u mê, lừa gạt dân lành. Quỷ sai dùng kìm sắt nung đỏ rút lưỡi chúng dài hàng trượng rồi cho trâu sắt cày dọc lên đó, bắt chịu cảnh câm lặng vĩnh viễn trong hang tối rỉ máu. Ba vùng ngục này là nỗi khiếp sợ tột cùng vì hình phạt diễn ra liên tục, giam cầm vong hồn ngoài vòng luân hồi cho đến khi tự hóa thành tro bụi.
Đột nhiên, một luồng ánh sáng dịu nhẹ, vàng óng như trăng rằm từ trên đỉnh cao xẻ đôi màn sương đen kịt của cõi u minh, rọi xuống vạn tầng địa ngục. Trần Thừa Dạ dừng chân, ngước mắt kính cẩn nhìn về phía đài cao. Giữa chốn hôi hám, đầy tiếng gào rú thê lương này, Địa Tạng Vương Bồ Tát đang tĩnh tọa trên tòa sen thanh tịnh. Đầu ngài đội mũ tỳ lư, tay phải chống tích trượng vàng, tay trái nâng viên minh châu phát ra vầng hào quang ấm áp soi thấu những góc tối tăm nhất của lòng đất.
Ngài là Giáo chủ vị tha nhất của chốn u minh này, người đã phát nguyện đại bi rằng địa ngục chưa trống rỗng thì thề chưa chứng quả Bồ Đề. Tiếng tụng kinh trầm ấm của ngài vang vọng khắp các tầng ngục, như một dòng nước mát xoa dịu đi phần nào những vết thương rỉ máu, thức tỉnh những linh hồn biết sám hối ăn năn giữa biển tội vô biên. Trần Thừa Dạ ngắm nhìn ánh sáng từ bi ấy, lòng thoáng gợn sóng.
Vị Bồ Tát kia muốn độ tận chúng sinh, cứu rỗi vạn vật khỏi bể khổ tình thù, nhưng bản thân hắn lại tình nguyện chìm đắm trong thứ chấp niệm duyên tình sâu nặng, không mong cầu giải thoát.
Hắn vô thức nhìn xung quanh một lượt, thở phào một hơi vì tạm thời vẫn chưa thấy Nguyên Vũ phải ở trong mấy địa ngục đó. Hắn là người tốt, nhất định sẽ không phải chịu hình phạt.
Chịu hết thảy những tai nạn, gột rửa sạch bấy nhiêu tội tình trên suốt chặng đường dài, các hương hồn mới được đưa đến trước chính điện để trình diện Thập Điện Diêm Vương.
Nơi cung điện nguy nga, lạnh lẽo dựng bằng đá tảng chốn âm ty, Vua Cha Diêm La cùng các vị phán quan sẽ ngồi trên cao, lật giở sổ Sinh Tử, soi xét từng chút công chút tội của cả một kiếp người để đưa ra phán quyết cuối cùng: kẻ được đầu thai làm kiếp vương công, người phải hóa kiếp súc sinh trâu ngựa.
Và rồi, trạm dừng cuối cùng của họ chính là bờ sông Lũy vắng lặng, nơi các lính canh cõi âm múc từng bát cháo lú nấu bằng thứ gạo u mê ban phát cho từng người. Uống cạn bát cháo lú, quên hết thảy ân oán tình thù, yêu ghét của một đời, họ mới chui qua mật đạo tối tăm để bước vào một vòng luân hồi mới.
Trần Thừa Dạ khẽ thu lại tầm mắt, tiếng xích sắt lách cách của Ông Bảy và Ông Tám phía sau như kéo hắn về với thực tại. Bọn họ không hướng về phía cung điện của Vua Cha Diêm La, cũng chẳng dừng lại nơi bến nước sông Lũy.
Đi tới chân núi Thiết Vi, nơi vách đá đen kịt sắc lẹm như dao cạo che khuất tầm mắt của lính canh cõi âm, ba bóng người đột ngột rẽ sang một con đường mòn khuất nẻo.
Con đường này không lót bằng đá xám bằng phẳng, mà gập ghềnh những rễ cây khô khốc quằn quại trồi lên từ lòng đất mục, sương mù xung quanh đặc quánh đến mức ngọn lửa quỷ sai cũng trở nên lập lòe như đốm ma trơi.
Càng đi sâu, âm phong càng nặng nề gầm rú bên tai như tiếng hàng vạn oan hồn gào khóc. Nơi thâm sơn cùng cốc của cõi chết này chính là hang sâu cấm địa, nơi đặt trận pháp xoay ngược thời không, một bí mật nghìn năm bị phong ấn nghiêm ngặt.
Hiện ra trước mắt Trần Thừa Dạ là một khoảng không rộng lớn, sâu hoắm xuống lòng đất. Giữa hang động vĩ đại ấy, đại trận trấn yểm sừng sững hiện ra. Trận pháp được bố trí theo thế trận Ngũ Hành Trấn Yểm kết hợp với bùa chú.
Tâm trận là một bệ đá cổ hình tròn, trên mặt khắc chìm hình mặt trời với các tia sáng tỏa ra bốn phương tám hướng, giống hệt hoa văn trên mặt trống đồng Đông Sơn cổ đại. Bao quanh bệ đá là năm chiếc cọc gỗ thị, cắm sâu xuống đất theo năm hướng Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trên mỗi thân cọc quấn chặt những sợi dây thừng bện bằng xơ gai, treo lủng lẳng hàng trăm lá bùa màu vàng rơm, viết đầy mật tự bằng mực chu sa đỏ chói, tỏa ra thứ ánh sáng đỏ rực hừng hực như lửa đốt.
Để trấn giữ trận pháp nghịch thiên này, Vua Cha Diêm La đã dùng bùa trấn yểm cực nặng đô. Phía trên bệ đá, một đạo sấm sét vô hình liên tục chớp nháy, luồng điện màu tím đen xè xè quét qua quét lại, sẵn sàng đánh tan hồn phách bất kỳ kẻ nào dám gan to bằng trời bước vào phạm vi cấm địa.
Trần Thừa Dạ đứng bên mép vực, vạt áo bào bị gió âm thổi bay phần phật. Hắn nhìn đại trận gầm rú trước mặt, ánh mắt không một chút sợ hãi, chỉ có sự kiên định đến điên cuồng. Hắn quay sang nhìn hai người chú đã nuôi dạy mình trưởng thành.
Ông Bảy nhìn đại trận, khẽ thở dài một tiếng đầy bất lực, nụ cười thường ngày hoàn toàn biến mất, thay vào đó là nét mặt nghiêm nghị của một vị tôn thần tư pháp. Ông Tám bên cạnh không nói một lời, bắp tay lực lưỡng gồng lên, xích sắt quanh người bắt đầu khua vang lách cách, âm thanh trầm hùng chấn động cả hang sâu.
“Chỉ một lần này thôi, tiểu vương tử. Nếu ngài không quay lại được, hai lão già này cũng chịu cảnh vùi xác nơi đáy ngục.”
Ông Bảy trầm giọng nói, bàn tay gầy guộc thò vào vạt áo, rút ra một chiếc gương đồng cổ ố vàng, mặt sau đúc nổi hình rồng thời Lý uốn lượn.
Không chần chừ thêm một giây, Ông Bảy vung tay ném chiếc gương đồng lên không trung. Chiếc gương xoay tít, phát ra một luồng bạch quang khắc chế tà ma, rọi thẳng vào đạo sấm sét vô hình đang cuộn xoáy trên tâm trận. Cùng lúc đó, Ông Tám gầm lên một tiếng như sấm dậy, hai sợi xích sắt khổng lồ đen kịt trên tay lao vút ra như hai con hắc long, quấn chặt lấy năm chiếc cọc gỗ bùa chú xung quanh bệ đá.
"ẦM!"
Một tiếng nổ kinh thiên động địa vang lên, chấn động khắp cả vùng núi Thiết Vi. Những lá bùa chu sa bốc cháy đùng đùng, luồng điện tím đen điên cuồng chuyển hướng đánh vào hai vị tôn thần. Sức ép từ đại trận dội ngược lại khiến vai Ông Tám run lên bần bật, khóe miệng rỉ ra một vệt máu đen, nhưng hai tay hắn vẫn giữ chặt xích sắt, dùng thần lực vô song cưỡng ép giữ cho năm chiếc cọc trấn yểm không được dịch chuyển. Ông Bảy hai tay kết ấn, cắn đầu lưỡi phun một ngụm máu thần vào chiếc gương đồng, ép cho luồng bạch quang đè chặt lấy luồng sét dữ.
“Vào đi! Mau lên! Chúng ta không giữ được lâu đâu!”
Ông Bảy hét lớn, giọng nói lộ rõ sự vội vã tột cùng.Trần Thừa Dạ nhìn bờ vai đang gồng lên chịu trận của hai người chú, trong lòng dâng lên một niềm cảm kích vô hạn. Hắn không chần chừ, cũng không để lãng phí một giây nào nữa. Thân hình hắn khẽ động, lướt nhanh như một làn khói xám, lao thẳng vào tâm trận.