Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Con quỷ em ngược duyên ngược số

Chương 30 - Bình tâm lại, tôi đi tìm nhân quả giữa tôi và nó

Tối ấy về nhà, tôi nói dối với dì dượng là đã gặp được quỷ em để xin lỗi, rằng mặc dù nó chưa chịu tha thứ nhưng cũng không còn lạnh nhạt với tôi, cho dì dượng thôi vì chuyện của hai đứa mà muộn phiền lo lắng. Bước đầu dì dượng cũng tin thiệt, lại tiếp tục động viên và căn dặn tôi phải đối xử tốt với quỷ em. Riêng dì, dì còn không quên nhắc tôi về lời báo mộng của tổ tiên đã ứng vào ba tôi, kêu tôi phải toàn tâm toàn lực vun đắp cho tình cảm của hai đứa.

Kỳ thực, những chuyện sặc mùi khói nhang kiểu này tôi không tin, vì chẳng có gì bảo chứng được hết. Con người ta ở đời, chỉ có quá khứ và hiện tại mới có thể chắc chắn được. Còn tương lai? Nó là con đường mịt mùng với bao lối rẽ mà chỉ khi đặt chân tới đó rồi mình mới thấy nó ghồ ghề hay bằng phẳng, để mình lựa chọn dấn bước, hoặc bị dòng đời xô đẩy bắt buộc phải bước. Như ngày xưa tôi với em cũng vậy, cũng từng được mọi người hợp sức vẽ ra cái viễn cảnh tương lai về một mái ấm hạnh phúc đẹp như mơ, nhưng cuối cùng thì sao? Thì chẳng biết phải nói làm sao nữa.

Hồi đó, để giúp tôi vững lòng, thím tôi và dì còn đi coi quẻ. Người ta bảo em là một nửa cuộc đời hoàn thiện mà tổ tiên phải dày công xin rước về để bù đắp cho tôi những gì tôi còn khiếm khuyết. Vậy nhưng khi em phản bội tôi; quẻ ấy ở đâu, tổ tiên tôi đã đi đâu? Tôi chẳng nghe thầy nào hay ai trong số cửu huyền thất tổ báo mộng cho tôi một câu trả lời thỏa đáng. Thím và dì tôi cũng không nói gì. Tất cả đều làm ngơ, đều im lặng; để một mình tôi phải chịu đựng trái đắng trong ê chề, đau khổ. Vậy nên tôi không bao giờ tin nữa. Không bao giờ tôi tin vào những thứ mơ hồ mà mọi người chung nhau huyễn hoặc cho tôi nữa. Giờ tôi chỉ còn có thể tin một điều duy nhất liên quan đến tổ tiên tôi. Nghiệp báo mà ông tổ năm đời để lại cho con cháu; ngày mai, tôi sẽ qua nhà chú thím để hỏi thăm cho tỏ tường.

Nghĩ là làm. Sáng hôm sau, tôi dậy sớm ăn sáng cùng cả nhà rồi chở bé Chép đi học, xong thì qua chú thím để hỏi về cuốn gia phả của dòng họ tôi. Chú bảo đang cất ở nhà thờ bên đó, trong ngăn bàn thờ, ngay dưới bài vị cửu huyền thất tổ.

- Ủa mà nè, tự nhiên mày hỏi gia phổ chi vậy? Đó giờ chú có thấy mày quan tâm tới nó đâu con.

- Dạ, hôm qua anh Bo mới kể con nghe chuyện ông tổ năm đời để lại món nợ ác nghiệp cho con cháu á chú. Ảnh kêu chú kể cho ảnh nghe, ảnh còn cam đoan với con là ảnh không có bịa, vì nó được tổ tiên mình ghi chép lại trong gia phả đàng hoàng; mà con chưa dám tin lắm nên con muốn coi coi có đúng không.

- À...

Rồi bỗng nhiên chú nhìn vu vơ như muốn tránh né ánh mắt của tôi, bằng nét mặt nửa buồn, nửa suy tư hay sao đó.

- Chú, vậy là có chuyện đó thiệt hở chú?

Ngập ngừng giây lát, cuối cùng chú cũng cho tôi câu trả lời:

- Ờ, thực ra cái này chú cũng chỉ được nghe kể lại từ ông nội thôi. Ông biết chữ Nho nên ông mới đọc được gia phổ, chứ tụi chú có học chữ Nho đâu mà biết. Chú thì chú tin ông nội, còn thằng Bo chắc vì nó tin chú nên nó mới cam đoan với mày vậy đó con.

Là ông nội kể lại sao? Nhìn ánh mắt thoáng nét buồn của chú, cả điệu bộ chần chừ như ngại ngần không muốn nói ra mà chú vô thức bộc lộ cũng khiến tôi phải tin tới chín phần rồi. Ai chứ riêng ông nội, tôi vẫn thường được nghe ba và cô út kể rằng ông rất giống tướng Kỳ, là người chính trực khảng khái, nếu câu chuyện này được ông nói ra thì khả năng cao nó không phải chuyện bịa.

- Mà nè, chú hỏi thiệt. Có đúng là mày có lỗi gì với bé Bống nên thằng Bo nó mới phải nhắc mày chuyện tổ tiên không con? 

- Dạ cái này...

- Cứ nói thiệt đi. Giờ chỉ có hai chú cháu, mày cứ nói chú nghe đi! Có đúng là mày đang thương đứa nào ở ngoải mà mày giấu mọi người đúng không?

- Dạ không, con cam đoan là con không có. Con chỉ chưa biết tại sao em nó lại giận con thôi chú. Con sợ là do con phải trả nợ cho tổ tiên nên không lý do này thì cũng lý do khác nó tìm tới ngăn cản chuyện tình cảm của con á. Con nói thiệt là nhiều khi con thấy nản. Con nản lắm chú à! Cho nên suốt bảy năm ra ngoải, con chẳng muốn thương ai nữa hết, cho lòng con nó thảnh thơi. Tới bây giờ con cứ tưởng vận mình sẽ khá, mà đùng cái em nó quay lưng với con vậy, tự nhiên con thấy...

- Không! Không phải đâu con! Bình tĩnh nghe chú nói đã nè. Không phải như mày nghĩ đâu. Là do tinh thần mày đang xuống dốc thôi. Mày phải nghe chú, bình tâm lại, suy xét cho cẩn thận, rồi từ từ nghĩ cách giải quyết. Chú tin kiểu gì nó cũng chịu cho mày làm huề thôi chứ sao mà giận hoài được! Bởi vì bảy năm nay nó vẫn chờ mày đó. Mà bảy năm nó không hề đơn giản, con nghe. Quan trọng là tấm lòng của mày dành cho nó ra sao kìa. Chưa kể tổ tiên đã ưng nó rồi, đã chấm nó làm con dâu cho ba mày rồi; vậy thì giờ mày còn lo cái gì nữa?

- Con lo em nó đang đòi từ mặt con đó chú.

Tôi lo thiệt; mà chú thì coi bộ không có tin tôi, còn cười tôi chứ:

- Thiệt tình với mày! Từ mặt á hả? Nếu nó đòi từ mặt mày thiệt thì cũng đâu phải là lần đầu tiên đâu chớ con. Cái hồi tụi bây còn nhỏ, nó từ mặt mày ba lần rồi đó, có nhớ không?

- Dạ, con nhớ.

Thì chính là hai lần tôi có lỗi với nó và một lần tôi công khai tình cảm với em. Tôi nói vậy; chú càng cười lớn hơn trước, xong vỗ đầu tôi tỉnh queo vầy:

- Ờ thấy chưa? Rồi cuối cùng thì sao? Tới bây giờ nó vẫn thương mày, lại chỉ một lòng một dạ chờ mày về thì mày còn lo cái gì nữa?

Hừ.

- Chú, con nói thiệt. Chuyện của con, con biết. Đó giờ tình duyên của con chưa bao giờ nó êm đềm thuận lợi được giống như người ta. Đâu phải con không nghiêm túc hay không cố gắng đâu. Thương ai, con cũng chân thành, cũng một lòng một dạ với người đó, nhưng cuối cùng đều không có kết quả. Tới bây giờ thì như vậy. Con vẫn độc thân một mình. Con cũng sẵn lòng để tiến tới với em nó, nhưng rồi chú thấy không? Con không biết tại sao lại ra vậy nữa. Con chỉ đoán được là do quả báo của ông tổ năm đời đang trút lên đầu con thôi, để rồi thành ra con làm khổ lây cả em nó. Thiệt con không có muốn! Trong khi con đã nhận lời sẽ bù đắp thiệt thòi cho em nó với dì dượng rồi, vậy nên con mới lo.

Lần này chú không cười nữa, nét mặt dần chùng xuống, im lặng nhìn tôi bằng ánh mắt như đang suy tư. Dưới vòm hiên vắng và khoảng sân đang lộng gió, chú cứ đứng trầm ngâm một lúc, cùng với tôi, hồi sau mới bảo:

- Ừm, chú hiểu rồi. Vậy để chú nói mày nghe. Giờ qua bển, thắp nén nhang, hen, xong xin tổ tiên phù hộ cho công ăn việc làm, đặc biệt là tình duyên, gia đạo. Nhà mình có ông thủy tổ thiêng lắm đó. Ông làm tướng triều Tây Sơn, theo phò vua Quang Trung với Quang Toản, là người anh dũng, bất khuất. Tới khi Tây Sơn bại vong dưới tay Nguyễn Ánh rồi, ông nghe tin bà Bùi Thị Xuân hy sinh, liền tử tiết cùng với trăm quân sĩ bản bộ, quyết không có đầu hàng. Hồi đó ông chỉ mới ba mươi tám tuổi thôi, khát vọng, lòng nhiệt huyết với dân với nước còn lớn lắm mà chưa có hoàn thành được, nên hồn rất là thiêng. Mãi tới đời ông nội mày đó, ông còn hiển linh về hỏi ông nội nhiều bận rằng hai Đàng đã thống nhất được chưa. Ý hổng phải vì cái vĩ tuyến 17 chưa được xóa bỏ, mà ý ông nói tới cái nền tảng văn hóa, tư tưởng khác biệt của hai miền Nam Bắc đã được hình thành từ thuở chúa Tiên vô nam mở cõi á, nó có còn không. Ông vốn là người Bắc Hà, cũng chán ghét cảnh Trịnh - Nguyễn phân tranh làm chia ly dân tộc, nên khi nghe tin vua Quang Trung dẫn quân ra bắc, ông thâu tập tùy tùng theo vua lật đổ Lê - Trịnh để sơn hà nhất thống. Thành thử mỗi lần chú với ba mày làm lễ cúng lề cho họ nhà mình, bao giờ cũng phải làm cây cung, mũi tên với thanh gươm bằng tre để tưởng nhớ tới chí hướng với công trạng của ông đó con. Ờ, chú nói cái này ra để mày biết, đặng rồi có lòng thành mà xin ông, chớ miệng thì xin nhưng tâm tưởng hổng có biết gì về ông thì chẳng ai chứng cho mày được. Con nghe.

- Dạ, con nhớ rồi.

- Ừa. Thôi đi đi. Có gì thì a-lô cho chú, giờ chú phải đi cắt rau với thím đã, để kịp cho người ta lấy hàng.

- Dạ. Vậy con đi chú nghen.

Tạm biệt chú, tôi chạy xe qua nhà ba để đọc lại gia phả coi sao. Chú nói nó nằm trong ngăn bàn thờ cửu huyền thất tổ. Quả nhiên đã thấy nó. Cuốn sổ được cất trong một chiếc rương nhỏ, có hai lớp vải lụa niêm lại rất cẩn thận. Tôi nhẹ nhàng gỡ nó ra, mùi thơm của tinh dầu quế theo vạt lụa thoảng lên phảng phất. Cảm giác như sắp được tận mắt tua lại cuốn băng ký sự về những giai thoại thăng trầm của tổ tiên dòng họ, lòng tôi bỗng nghe hồi hộp ghê. Toàn bộ gia phả đều được viết bằng chữ Nho, ở bên Trung người ta gọi là chữ phồn thể truyền thống. Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan vẫn dùng chữ truyền thống này, còn đại lục thì đã chuyển sang dùng giản thể từ lâu. Hồi chuẩn bị qua bển học, tôi chỉ học chữ giản thể thôi, nên có nhiều chữ trong gia phả tôi không đọc được. Có điều, dựa theo đại ý của câu và suy đoán mặt chữ thì tôi vẫn có thể hiểu gần hết.

Và những lời ông Bo nói với tôi hôm qua đúng là sự thật. Ổng với chú không gạt tôi, cũng như việc tôi tin ông nội và tổ tiên sẽ không gạt mình. Bởi gia phả là cuốn sổ thiêng vô cùng quý giá của cả một dòng họ, những gì được viết ở trong đó không phải để đùa giỡn. Vậy ra tổ tiên tôi đâu hề rạng danh, lừng lẫy, huy hoàng như nhỏ giờ tôi vẫn luôn tự hào tưởng nhớ. Ngoại trừ ông thủy tổ chín đời làm tướng triều Tây Sơn ra thì có thêm ông tổ bảy đời cũng là người tài đức thời Minh Mạng, còn lại những đời sau này... Buồn lắm! Thiệt! Càng đọc càng thấy buồn thêm! Đó là nỗi buồn day dứt đã kéo dài tới tận đời của ông nội, điều mà trong bức di thư để lại lời trăng trối cho con cháu, ông đã thẳng thắn thừa nhận những tội lỗi ông gây ra cho chính đồng bào miền Nam; bằng máu, bằng nước mắt, với nỗi đau giày vò lương tâm ông đến tận hơi thở cuối cùng.

Câu chuyện buồn về cuộc đời của ông, tôi chỉ được nghe ba kể lại. Ông là sĩ quan tình báo của chính quyền Sài Gòn, từng nhận không ít bằng khen và huân chương chiến tích. Thực ra, đối với nhiều anh em có cha ông đứng ở phía bên kia chiến tuyến, những người theo cách mạng, anh em sẽ gọi ông nội tôi, bác hai và ba tôi là “giặc”, là “ngụy quân”, làm tay chân cho “ngụy quyền”. Tôi biết. Tôi không bác bỏ. Nó là một phần của lịch sử, dưới góc nhìn chính nghĩa của đất nước. Nhưng tôi không thể đứng chung góc nhìn chính nghĩa của đất nước để tự thốt ra những từ ngữ đó mỗi khi nói về người thân ruột thịt của mình. Vì hổ thẹn, tủi nhục, vì mặc cảm giữa tình yêu và lòng tự trọng huyết thống đã ngăn cản tôi. Vậy nên tôi xin phép dùng những từ ngữ trung lập mang tính quốc tế, coi như ân huệ cuối cùng mà tổ tiên dân tộc, linh thiêng Tổ quốc vẫn luôn sẵn sàng bao dung cho lòng thành sám hối của ông nội tôi, để an ủi linh hồn buồn thương hối tiếc của ông nơi chín suối.

Và cũng vì lý do đó, tôi xin phép không kể ra những tội lỗi của ông. Tôi không muốn ông phải hứng chịu thêm lòng thù oán hay những lời nguyền rủa. Dẫu biết rằng nó là điều mà ông xứng đáng được nhận, nó là quả báo từ nhân ác mà ông đã gieo; nhưng dòng máu đang chảy trong người tôi không cho phép tôi được mở miệng. Thậm chí, nó còn thôi thúc tôi phải nói ra điều tốt đẹp duy nhất về ông: sự chân thành hối cải, dù cho đã quá muộn màng. 

Sau chiến dịch Tây Nguyên, 25 tháng Tư năm 1975, ngày mà năm cánh quân cách mạng chuẩn bị tiến công Sài Gòn cũng là ngày ông nhận ra bản chất tồn vong của chính quyền Diệm - Thiệu, lý do gì nó được nhắc tên trên bản đồ chính trị thế giới. Bấy giờ ông mới biết cả đời ông đã uổng hoài cống hiến cho một chế độ được kẻ thù dựng lên chỉ vì lợi ích của chúng ở Đông Dương. Ông đã nghĩ những người như ông mới là chính nghĩa, mới là những người tiếp nối sứ mệnh thống nhất đất nước, mang lại độc lập, tự do cho toàn thể quốc dân đồng bào. Nhưng không. Khốn nạn thay ông chỉ là một trong những “lính đánh thuê” được Hoa Kỳ bồi dưỡng, đào tạo, rồi hàng tháng nhận đô-la để nghe theo lời sai bảo không hơn không kém. 

Cho nên ông hận, là căm hận chính bản thân ông đã không sáng suốt, cũng hận cuộc đời xô đẩy khiến ông mang ơn và tin theo người thầy từ nhỏ đã rèn nắn tư tưởng cho ông.

Đêm 29 tháng Tư năm 1975, Sài Gòn gần như sẽ thất thủ, ông cùng với nhiều thành viên nội các đã ủng hộ tướng Minh từ chối lời khuyên rút quân về vùng 4 tử thủ để chờ Trung Quốc đưa quân vào cứu viện. Tướng Minh khẳng định rằng cả đời ông ấy đã làm tay sai cho Pháp, cho Mỹ, như vậy đã quá đủ rồi, ông ấy không muốn tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc nữa. Nghe lời khảng khái đó, suốt đêm dài ông nội tôi không tài nào ngủ được. Trong lòng ông bộn bề bao nỗi suy tư; vì ăn năn, vì hổ thẹn.

Cuối cùng, ông cũng đã thông suốt. Ông tìm ra đích đến cho cuộc đời ông. 3 giờ sáng, ngày 30 tháng Tư, tiếng nổ rền vang vô tới nội thành; ông để lại lời dặn dò sau cuối, tỉ mỉ, chu đáo và cẩn thận. Rất nhiều đồng nghiệp, anh em, bạn bè, cả bà con đều gọi điện thoại khuyên ông nên dẫn gia đình lên đường di tản; nhưng ông không làm theo. Ông gửi lại nỗi u hoài khắc khoải cho bà nội tôi, bác hai, cả ba rằng thà bỏ anh em họ hàng, tuyệt đối không được bỏ tổ tiên, đất nước. Ông mong sau này con cháu sẽ thay ông đền món nợ máu với Tổ quốc non sông.

Rạng sáng hôm ấy, ông đã ra đi theo cách không ai có thể hình dung nổi. Đó là cảnh tượng đau đến thắt lòng, vì quá đỗi thê lương. Đặc biệt đối với bà nội tôi, bác hai, ba hay chú, rồi cô út của tôi cũng vậy. Đơn giản vì ông muốn chuộc lại một phần những tội lỗi của ông ở quá khứ, mà vì không thể nghĩ ra phương thức nào tàn nhẫn hơn để tự trừng phạt mình. Đó là điều ông lựa chọn. Dù phải trải qua tận cùng đau đớn thể xác; nhưng có lẽ nó giúp linh hồn ông ít nhiều được thanh thản, cũng giúp cho bác hai tôi và ba tôi ngộ ra những điều mà cả hai người thuở ấy vẫn đang nối gót theo ông đi trên con đường lầm lạc, để rồi sau này ba và bác quyết ghi tên xin nhập ngũ, chiến đấu chống lại Khmer Đỏ hòng trả món nợ đó thay ông.

Gấp cuốn gia phả lại, tôi cẩn thận đặt nó về vị trí ban đầu, gọn gàng, ngay ngắn. Giờ thì tôi đã hiểu lý do tại sao ba lại để bài vị của Bác ở ngay giữa ban, chung bàn với Phật Bà Quan Âm và cao hơn bài vị của tổ tiên tôi một bậc. Giờ tôi cũng đã hiểu vì sao cột chữ Nho trên bài vị của Bác lại được ghi là “Dân tộc đại anh hùng hiến thân cứu quốc” mà không phải “Hồ Chí Minh” hay “Nguyễn Sinh Cung”. Ba không thờ một người từng sống trên đời bằng xương bằng thịt. Ba thờ một lý tưởng, nhân cách, một tấm gương đạo đức sáng ngời và cao cả.

Con đường của Bác, những thế hệ tiền bối như Bà Trưng, Bà Triệu, vua Lê Thái Tổ hay vua Quang Trung cũng đã từng đi. Nó cũng là đích đến cuộc đời mà ông nội tôi vẫn hằng theo đuổi nhưng ông đã sai lầm khi lựa chọn đứng chung hàng ngũ với kẻ thù của đất nước. Tới hôm nay, có lẽ ba tôi đang hướng tới con đường chính nghĩa đó, như một sự tôn thờ trong tư tưởng, làm thước đo chuẩn mực cho con cháu, để tương lai sau này biết đâu sẽ có người làm thỏa ước nguyện thuở sinh thời của ông nội tôi. Giá như ông nhận ra sớm hơn để đi theo cách mạng, thì có lẽ những hoài bão, khát vọng của ông về một Việt Nam thống nhất, hùng cường đã được đền đáp; giống như cái tên Quốc Hiệp, Quốc Kiên, Quốc Khang mà ông đã dự đặt cho ba người cháu nội dù thời điểm ấy cháu của ông vẫn chưa có ai chào đời.

Giờ nhắc lại, nghĩ tới mà thấy thương ông. Thương luôn cả con cháu của ông, nhất là tôi khi tôi đang tự thấy thương cho chính mình. Có lẽ vì đời cha ông đã trót gây nhiều lỗi lầm như vậy, nên đời con cháu hôm nay phải gặp nhiều khó khăn trắc trở cũng là dễ hiểu thôi.

Dòm đồng hồ đã 8 rưỡi sáng, nắng lên cao rồi, tôi ra sân lấy nước, giặt khăn để vô lau chùi dọn dẹp. Hôm qua sửa nhà nên không thể tránh khỏi bụi bặm từ vách gỗ và mái tôn. Lúc ấy nhìn lại từ trong nhà ra tới đầu cổng, khắp sân vườn, cảm giác tiêu điều xơ xác quá. Chợt thấy mình sao mà vô tâm. Bữa giờ đã ghé thăm và ở lại làm việc tới hai lần nhưng tôi lại không hề để ý đến, mãi hôm nay mới nhận ra mình bỏ bê trách nhiệm với ông bà tổ tiên tệ hại như thế nào.

Hôm nay coi bộ sẽ làm nhiều việc, tôi tính không về dì dượng nữa. Tôi muốn ở lại nguyên ngày bên nhà ba tôi. Thế nên tới chừng giữa buổi, tôi tạm ngưng việc quét dọn phòng ốc để đi chợ mua đồ về tự nấu, thêm một ít cây cảnh, hoa và dây kẽm, đặng sửa sang lại sân vườn.

Khá bất ngờ là vừa ra tới chợ, tôi tình cờ gặp con nhỏ Len. Lúc đó tôi đang đứng lựa hàng ở một quầy thịt, bỗng nghe cảm giác hơi đau ở sau lưng như có thứ gì chọc vào. Ngoái đầu quay lại, té ra là nhỏ. Thứ chọc vào lưng tôi có lẽ là mũi chìa khóa xe mà nhỏ đang cầm trên tay.

- Trưa trờ trưa trật còn đi đâu đây?

- Anh mua ít đồ về nấu ăn thôi.

Nhỏ hết nhìn tôi lại nhìn xuống quầy thịt, vẻ coi thường hay sao đó:

- Rồi có biết lựa không mà bày đặt đứng dòm dòm nghía nghía như rành lắm vậy?

Hừ.

- Có chứ. Ở ngoải nhiều bữa anh phải tự lo mấy cái này mà.

Nhỏ liền cắc cớ:

- Tự lo mà không biết muốn có đồ tươi đồ ngon thì phải đi sớm hả?

Tất nhiên tôi biết, nhưng đâu đến nỗi không thể ăn được. Thành thử tôi vẫn muốn lựa một miếng để về làm món kho. Lúc ấy tôi tính gọi chủ hàng rồi; mà đột nhiên nhỏ kéo tay áo tôi, giữ lại:

- Lát qua nhà chú thím anh ăn cơm luôn đi. Tui nấu.

Hở?

- Khỏi lựa, mắc công, tốn thời gian. Cứ về nhà ba anh lau chùi dọn dẹp tiếp đi, tới bữa qua ăn được rồi.

Ủa?

- Sao em biết anh đang làm ở bên nhà ba anh?

- Cô tui biểu.

À.

- Thôi về làm đi, chừng 11 giờ thì qua ăn uống nghỉ ngơi rồi chiều làm tiếp. Đi đi!

Hừm, biết là chú thím cũng thương và quan tâm tới tôi; nhưng hôm nay tôi muốn được làm việc và ăn uống ngủ nghỉ bên nhà ba, hay đúng hơn là tôi muốn ở với ông bà tổ tiên tôi một ngày một đêm trọn vẹn, nên tôi khéo léo từ chối. Vậy mà chẳng hiểu sao nhỏ lại lườm tôi, còn quẳng lại cho tôi một tiếng cộc lốc “Tùy!” trước khi quay bước bỏ đi mới hay chứ? Con nhỏ đúng kỳ cục ghê.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px