Hồi 9 - Thượng
Áo sờn gánh nặng vai gầy,
Đơn thương độc mã bủa vây trùng trùng.
Dùng mưu phá thế mịt mùng,
Ngờ đâu tim lạnh bỗng rung bóng hồng.
Cuối năm Kỷ Sửu.
Tin dữ từ phương Nam dội về Trường Yên như đợt sóng ngầm liên tiếp. Giản Định Đế bị quân Minh bắt sống. Trùng Quang Đế - vị vua cuối cùng của nhà Hậu Trần - liên tục gặp thất bại, quân tan tác, rút chạy vào Nghệ An. Đặng Dung đang đem tàn quân tử chiến từng ngày, mỗi trận lại mỏng hơn, mỗi đêm lại ít người hơn.
Về phía nghĩa quân Trường Yên, mọi việc cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Sau cuộc tấn công lên căn cứ nghĩa quân Trường Yên, quân Minh cũng chịu thiệt hại không nhỏ, đến cả viên tướng chỉ huy quân đồn trú là Trương Sung cũng bỏ mạng. Kẻ lên thay là Hạ Hầu Giai. Những người dân chạy loạn đều được hắn cho phép quay về xóm làng. Hắn gọi đó là “ân đức của Thiên triều”. Sau khi thấy mọi thứ đã đâu vào đó, Hạ Hầu Giai mới bắt đầu triển khai kế hoạch.
Thời kỳ Giai nắm quyền khiến bá tánh Trường Yên dễ thở hơn. Quân đội đồn trú được siết chặt kỷ cương, bị Giai quản lý rất nghiêm nên những vụ tấn công cướp bóc người dân cũng giảm bớt. Tuy vậy, Giai lại kế thừa sách lược triệt lương của Trương Sung nhắm vào quân đội nghĩa quân, và nâng nó lên một tầm cao mới.
Hạ Hầu Giai cho quân đóng giữ nghiêm ngặt ở toàn bộ khu vực dưới chân núi, lại cho quân đi chiếm giữ những khu vực bìa rừng nhằm triệt tiêu toàn bộ cơ hội vận lương của nghĩa quân. Và cũng theo lệnh Giai, giặc Minh giăng xích sắt chặn ngang sông Đại Hoàng. Ba đợt xích, mỗi đợt gồm hàng chục sợi xích sắt to bằng bắp tay, buộc chặt vào những cọc gỗ lim đóng sâu xuống đáy sông, nổi lên mặt nước như hàng rào răng sắt.
Thuyền nan của Trương Thị Ngọc nhiều lần cố vượt qua, bị xích cắt nát mạn, hai chiếc chìm, ba gã dân chài chết đuối. Tuyến hậu cần đường thủy thế là bị đứt đoạn. Cộng thêm việc tuyến hậu cần đường bộ cũng bị quân Minh kiểm soát, nghĩa binh trên núi coi như rơi vào thế chết đói dần.
Một thời gian sau, kho lương cạn kiệt. Gạo trong bao tải chỉ còn sót lại đáy, lẫn sạn và mọt. Muối cũng hết sạch. Đám đinh tráng ăn cháo loãng trộn rau dại, mặt mũi vàng vọt, tay cầm giáo run rẩy vì đói. Mùi đói bốc lên khắp nơi trong nghĩa quân Trường Yên. Mùi đói khác mùi chết. Mùi chết tanh và nồng, đến rồi đi. Mùi đói âm ỉ, ngai ngái, len lỏi vào từng kẽ đá, từng mái lều, từng giấc ngủ. Nó không giết người ngay mà nó gặm nhấm, bào mòn, cho đến khi người ta quên mất cảm giác no là gì.
Trương Thị Ngọc cố phá xích ba lần, ba lần thất bại. Lần cuối, nàng đích thân dẫn hai chiếc thuyền nan lao thẳng vào hàng rào xích sắt lúc nửa đêm, định dùng dao chặt xích dưới nước. Nhưng giặc Minh đã bố trí cung thủ canh xích suốt đêm. Hàng chục mũi tên rót xuống mặt sông, hai chiếc thuyền thủng lỗ chỗ, chìm dần. Thêm ba gã chài nữa bị tên bắn trúng, rơi xuống nước, bị dòng nước xiết cuốn trôi mất xác. Ngọc bơi vào bờ, quần áo ướt sũng, mặt cắt không còn giọt máu, tay vẫn nắm chặt cán lao. Nàng ngồi trên bãi bùn, nhìn ra dòng sông đen ngòm, lặng im hồi lâu. Rồi nàng đứng dậy, lội ngược về hang, không nói một lời. Những người anh em từng với nàng vào sinh ra tử từ trước khi tham gia nghĩa quân, đã bỏ mạng vô nghĩa.
Từ đêm ấy, nàng bắt đầu nhịn ăn, nhường phần cháo cho người khác, tự trừng phạt mình vì đã để anh em chết mà không phá nổi một sợi xích.
Dị Nhân kể từ sau trận chiến ở động Sóc đã trở nên ít nói. Chàng hiếm khi bước ra khỏi ngách đá riêng, nhưng mọi việc bên ngoài đều biết. Chàng biết tuyến đường thủy đã chết, tuyến đường bộ cũng bị phong tỏa. Chàng cũng biết nếu không tìm được lương thực thì trong vòng nửa tháng tới, Trường Yên sẽ lại phải chôn người. Mỗi lần nghe tiếng cuốc bổ xuống nền đất, chàng lại nhớ tới danh sách một trăm người sống sót mà Hạo đã đọc sau trận đánh.
Đêm ấy, Dị Nhân gọi Phạm Tung vào bàn việc. Trong ánh đèn cầy leo lét, Phạm Tung lật cuốn sổ đinh ghi tên tuổi những người còn lại trong nghĩa quân. Ngón tay gầy guộc của lão lần qua từng cái tên, miệng lẩm nhẩm. Sau trận động Sóc, những người không qua khỏi vết thương cũ và sáu người bỏ mạng trong các lần phá xích, quân số hiện chỉ còn khoảng tám mươi người.
“Tám mươi huynh đệ, thưa Chúa công. Chúng ta chỉ còn nhiêu đó người thôi. Gạo trong kho chỉ đủ mười hai ngày nữa nếu cắt phần cháo xuống một nửa. Qua ngày thứ mười hai, chúng ta sẽ bắt đầu chết.”
Lão gõ quạt mo xuống mặt đá:
“Chúa công, lão phu tính nhiều đường nhưng giờ chỉ còn một. Vào làng xin gạo quá mạo hiểm. Quân Minh canh rất gắt, làm không khéo lại liên lụy bá tánh. Chúng ta phải tìm nguồn lương từ mạn Tây, vùng Phụng Hóa. Ở đó có Quách Điền, một gã thổ hào khét tiếng, tích trữ lúa đầy kho, nuôi gần hai trăm gia đinh cầm nỏ, thủ thế chờ thời. Theo những gì lão phu biết, quân Minh chưa đặt chân tới tận trang viên của hắn.”
Dị Nhân ngồi khoanh tay, mắt nhìn cuốn sổ Đinh đặt trên mặt bàn đá, im lặng một lúc. Rồi chàng ngẩng lên, nhìn về phía cửa hang, nơi Hạo đang ngồi lặng lẽ ghi chép dưới ánh nến, bóng Hạo in lên vách đá mảnh mai, đơn độc.
“Hạo à!”
Hạo bước vào, cúi đầu chào, đứng chắp tay trước mặt anh trai. Ánh nến hắt lên khuôn mặt người em. Hạo lại gầy hơn trước nhiều, xương gò má nhô cao, đôi mắt sâu thẳm, tĩnh lặng. Y cũng đói như tất cả mọi người, nhưng y giấu cơn đói bằng sự tĩnh lặng và lý trí. Vạt áo giao lĩnh sẫm màu của y cũng khá sạch sẽ. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Hạo cũng giữ áo quần tươm tất. Đối với Hạo, đó là bộ giáp của y, bộ giáp của kẻ dùng trí chứ không dùng đao.
Dị Nhân nhìn em trai, rồi đẩy cuốn sổ Đinh về phía nó. Giọng chàng trầm đục, mỗi chữ đều nặng:
“Đệ cầm lấy cuốn sổ này. Đi thương lượng với thổ hào mạn Tây. Dùng cách nào tùy đệ, nhưng phải đưa được lương về mà không kéo quân Minh tới Trường Yên.”
Chàng dừng lại, nhìn thẳng vào mắt Hạo, giọng hạ thấp, chỉ đủ hai người nghe:
“Mọi việc nhờ cả vào đệ.”
Hạo nhận cuốn sổ đinh bằng hai tay, cẩn thận như nhận một đứa trẻ sơ sinh. Y cảm nhận được sức nặng của những cái tên còn lại trong đó. Chỉ cần chuyến đi này thất bại, danh sách ấy sẽ lại ngắn thêm.
“Đệ hiểu.”
Giọng Hạo đều đều, không gợn sóng. Nhưng khi nhét cuốn sổ vào trong ngực áo, bàn tay y khẽ run lên.
*
Canh tư đêm ấy, Hạo dắt con ngựa gầy tới cửa hang phía Bắc. Nó không giống bất kỳ con đường mòn nào trước đây. Nó là một khe đá hẹp nằm sau vòm nước cạn, chỉ vừa đủ cho người và ngựa lần lượt lách qua. Con đường này do Đỗ Sán, Phạm Tung và chính Hạo đánh dấu khi vẽ bản đồ Trường Yên. Nó xuyên qua lòng núi, trồi ra tận một khu rừng hoang phía bên kia vòng phong tỏa của Hạ Hầu Giai. Quân Minh có thể khóa đường cái, bìa rừng và bến sông, nhưng chúng chưa biết dưới lòng núi còn có một lối đi như đường ruột của con thú già.
Hạo mang theo một tay nải nhỏ, cuốn sổ Đinh của Trường Yên, một cuộn giấy ghi chú của Phạm Tung và thanh dao găm giắt ngang hông. Không áo giáp. Không quân lính hộ tống. Một thân một mình.
Sương mù đặc quánh trước cửa hang. Hạo vừa kiểm tra lại nút buộc tay nải thì nghe tiếng bước chân rất nhẹ phía sau.
Trần Thị Ngân đã đứng chờ sẵn trong sương.
Nàng khoác khăn vải thô quanh vai, mái tóc búi vội, gương mặt nhợt đi vì thiếu ngủ và thiếu ăn. Từ sau trận động Sóc, nàng gần như không rời hang đá. Hai bàn tay từng ép máu giữ mạng Dị Nhân vẫn còn những vết nứt đỏ vì rượu thuốc và nước lạnh.
“Đệ đi mạn Tây sao?”
Hạo gật đầu. Y không hỏi vì sao nàng biết. Trong căn cứ này, một con ngựa hí khẽ giữa canh tư cũng đủ khiến mọi người tỉnh giấc.
Ngân nhìn con ngựa gầy, nhìn tay nải mỏng và thanh dao găm. Đó là toàn bộ hành trang của Hạo cho một chuyến đi có thể mất mạng. Nàng im lặng một lúc rồi tháo chiếc vòng ngọc thạch trên cổ tay phải.
Vòng ngọc xanh biếc, trong suốt, là món hồi môn quý nhất còn lại của dòng họ Trần. Trong những ngày chạy loạn, nàng từng giấu nó dưới lớp vải quấn bụng. Khi vào Trường Yên, đó là vật duy nhất còn nhắc rằng nàng từng là con cháu một dòng họ vương giả.
Nàng đặt chiếc vòng vào tay Hạo.
“Đệ cầm lấy. Quách Điền không biết nghĩa lớn, nhưng có lẽ biết giá của ngọc.”
Hạo khép các ngón tay quanh chiếc vòng lạnh buốt. Y định trả lại, nhưng nhìn cổ tay trống trơn của Ngân rồi thôi.
“Đại tẩu không sợ đệ làm mất sao?”
“Mất vòng còn có thể tìm vật khác. Mất người thì không.”
Hạo nhét vòng ngọc vào trong ngực áo, đặt cạnh cuốn sổ Đinh. Một bên là món gia bảo cuối cùng của họ Trần, một bên là tên tuổi của những người đang chờ lương trong núi. Hai thứ cộm lên sát ngực, lạnh và nặng như nhau.
Y trèo lên lưng ngựa rồi nhìn Ngân.
“Năm ngày nữa đệ sẽ trở về.”
Ngân khẽ gật đầu.
Hạo thúc ngựa lách vào khe đá. Bóng người và ngựa bị màn sương nuốt dần. Tiếng móng ngựa va đá lộp cộp một lúc rồi tắt hẳn trong lòng núi.
Ngân đứng nhìn cho tới khi chỉ còn nghe tiếng nước nhỏ từ trần hang. Nàng quay vào nhóm bếp, đổ nắm khoai mài cuối cùng vào nồi cháo loãng.
**
Con đường ngầm đưa Hạo ra ngoài vòng vây lúc trời còn chưa sáng. Y dắt ngựa qua một thung đá kín, men theo triền núi về phía Tây. Đường từ Tràng An tới Phụng Hóa mất gần hai ngày ngựa, nhưng Hạo không dám đi đường thẳng. Y tránh các trạm gác, tránh làng có quân Minh đóng, chỉ đi theo những lối chăn trâu và đường lấy củi mà Phạm Tung đã ghi lại.
Ban ngày y đi, ban đêm dừng ở bìa rừng, không đốt lửa. Con ngựa gặm cỏ khô, còn y nhai rau dại và uống nước suối. Cái đói khiến bụng quặn từng cơn, nhưng mỗi lần tay chạm vào cuốn sổ trong ngực, Hạo lại ngồi thẳng lên.
Trong cuốn sổ là khoảng tám mươi cái tên còn lại sau trận động Sóc và những lần phá xích. Có người vẫn cầm được giáo, có người còn nằm trên chõng, nhưng tất cả đều đang đợi chuyến đi của Hạo quyết định họ có sống qua tháng này hay không.
Đêm đầu tiên, Hạo mở sổ dưới ánh trăng. Y đọc từng cái tên, từng quê quán và những dòng ghi chú ngắn bên cạnh. Có người mất một bàn tay, có người chưa đi lại được, có người vừa mất anh em ngoài sông Đại Hoàng. Mỗi dòng mực đều gợi lại một khuôn mặt trong hang đá.
Hạo đọc cho đến khi mắt cay xè. Y khép sổ, áp vào ngực và lẩm nhẩm:
“Tám mươi người. Ta sẽ cố.”
Rồi y lấy cuộn giấy Phạm Tung đưa trước lúc đi. Trên đó là hình vẽ sơ sài của trang viên họ Quách: tường đất phía Đông, rào tre khô phía Tây, các kho lúa dựng tách khỏi nhà chính và một cống dẫn nước qua vườn sau. Dòng cuối cùng được Phạm Tung viết bằng nét mực xiêu vẹo: “Muốn thắng kẻ tiếc của, đừng dọa lấy mạng hắn. Hãy dọa lấy thứ hắn quý hơn mạng.”
Hạo nhìn dòng chữ ấy hồi lâu rồi cuộn giấy lại.
Quách Điền là thổ hào khét tiếng. Gã không theo quân Minh vì chưa bị ép, cũng không theo nghĩa quân vì chưa thấy lợi. Gã nuôi gần hai trăm gia đinh, tích thóc trong kho, chờ xem bên nào thắng để cúi đầu đúng lúc. Dùng đạo lý đồng bào để xin gạo là vô ích. Dùng danh nghĩa Hậu Trần càng vô ích. Trường Yên chỉ còn khoảng tám mươi người, nhiều người chưa lành thương tích và tất cả đều đói lả, không thể đập vỡ cổng một trang viên có hai trăm người canh giữ.
Nhưng cần gì phải đập vỡ? Hạo chỉ cần khiến Quách Điền tin rằng những kho lúa của hắn không thể còn nguyên nếu Trường Yên chết đói là đủ rồi.
Đêm thứ hai, Hạo tới trước cổng trang viên họ Quách.
Trang viên nằm trên sườn đồi, tường đất cao quá đầu người, cổng gỗ lim đóng kín. Hai ngọn đuốc cháy rực hai bên. Mùi cơm nếp và thịt nướng bay qua tường, xộc vào cái bụng rỗng của Hạo như một mũi dao.
Tên lính gác vác nỏ chặn y lại, cười khẩy:
“Tàn quân Trường Yên hết gạo nên mò tới xin ăn sao?”
Hạo không đáp. Y lấy chiếc vòng ngọc của Ngân, ném thẳng vào ngực hắn. Tên lính luống cuống đỡ lấy.
Hạo dõng dạc nói:
“Đem vào cho Quách lão gia. Nói có người muốn dùng vật này mua của lão một mùa đông yên ổn.”
Nửa canh giờ sau, cánh cổng mở ra.
Quách Điền ngồi trong phòng khách sưởi ấm trước chậu than hồng. Trên bàn là đĩa thịt nướng còn bốc khói, vò rượu nếp và một bát cơm trắng đầy vun. Gã ngoài năm mươi, người mập, mặt đỏ au, áo lụa dày quấn quanh bụng. Ba gia đinh cầm gươm đứng sau lưng.
Chiếc vòng ngọc được đặt giữa bàn. Quách Điền vuốt nó bằng đầu ngón tay rồi nhìn Hạo.
“Một món đồ đẹp. Nhưng chưa đủ mua mạng ngươi đâu. Hậu Trần đã tan, Trường Yên chỉ còn là ổ thảo khấu. Ta chặt đầu ngươi đem nộp quân Minh, có khi còn đổi được chức Huyện thừa.”
Hạo phủi những giọt sương trên vai áo, tự kéo ghế ngồi xuống đối diện. Y không nhìn bát cơm dù miệng đã ứa nước.
“Quách lão gia hiểu lầm. Tôi không tới mua mạng mình.”
“Vậy ngươi tới mua gì?”
“Mua cho nhà họ Quách một mùa đông không cháy kho.”
Ba tên gia đinh đồng loạt siết chuôi gươm. Quách Điền nheo mắt.
Hạo lấy cuộn giấy của Phạm Tung đặt lên bàn nhưng không mở. Y chỉ dùng một ngón tay gõ nhẹ lên mặt giấy.
“Tường phía Đông của trang viên cao và chắc. Cổng chính có nhiều lớp then. Nhưng rào tre phía Tây đã khô từ đầu mùa, các kho lúa lại nằm xa nguồn nước. Chỉ cần mấy mồi lửa cùng bén, gia đinh của lão gia có giỏi đến đâu cũng không thể vừa cứu nhà, cứu kho, vừa giữ cổng.”
Sắc mặt Quách Điền đổi hẳn.
“Ngươi cho người dò xét trang viên của ta?”
Hạo mỉm cười không đáp.
Quách Điền gằn giọng:
“Đám đói rách các ngươi còn lại mấy tên mà dám dọa ta hả?”
Hạo khẽ nhếch môi, nói:
“Tôi không nói nghĩa quân Trường Yên thắng được người của lão. Tôi chỉ nói, trước khi chết, chúng tôi đủ sức biến thứ lão quý nhất thành tro bụi.”
Hạo im lặng một lúc rồi tiếp:
“Tôi vào đây một mình nhưng huynh đệ của tôi bên ngoài đều đã có chuẩn bị trước. Nếu lão gia không chịu nghe theo thì tôi sẽ đập đầu tự vẫn tại đây. Chỉ cần mấy canh giờ nữa không thấy tôi ra ngoài, họ sẽ cùng nhau phóng hỏa. Lão gia đừng nghĩ bản thân có đủ thời gian di chuyển chỗ lương thực đó. Huynh đệ tôi đã vào sẵn vị trí hết rồi. Chỉ cần một động tĩnh nhỏ của người bên lão thì tất cả cũng sẽ đồng loạt hành động. Khi đó thì ngọc đá cùng tan. Lão gia thực muốn như vậy sao?”
Rồi y nghiêng người về phía trước.
“Hạ Hầu Giai đã khóa sông Đại Hoàng, chiếm các đường dưới chân núi và bắt đầu dò sang mạn Tây. Lão gia nghĩ hắn cần biết lão theo Minh hay theo Trần sao? Hắn chỉ cần biết trong kho này có lúa. Khi quân Minh tới, chúng sẽ lấy sạch mà không để lại cho lão một đấu. Nếu lão giết tôi, Trường Yên sẽ xem nhà họ Quách là kẻ thù. Nếu lão cho gạo, chúng tôi sẽ giữ các đường núi phía Đông, ngăn thám mã của Giai mò tới đây. Một bên là mất một góc kho. Một bên là có thể mất cả kho lẫn mạng. Lão gia tự chọn.”
Quách Điền nhìn chiếc vòng ngọc, rồi nhìn cuộn giấy chưa mở. Hắn cố cười nhưng khóe miệng giật nhẹ.
“Ngươi muốn bao nhiêu?”
“Sáu mươi thạch.”
Quách Điền đập bàn.
“Không thể!”
“Vậy năm mươi. Gạo mốc cũng được. Người của lão dùng xe bò đưa tới khe Trâu Quỳ, rồi cho ngựa thồ và người giúp chuyển tới cửa núi. Chiếc vòng để lại làm tin. Sau này Trường Yên có lương, chúng tôi sẽ trả.”
Quách Điền lặng im. Hắn đưa mắt sang ba gia đinh. Không ai dám nói. Than trong chậu nổ lách tách. Ngoài sân, gió lùa qua rào tre khô tạo thành tiếng xào xạc kéo dài.