Hồi 7 - Thượng
HỒI BẢY
Hẻm sâu rêu phủ lạnh lùng,
Sương giăng vách đá nấp cùng tử sinh.
Chờ khi hiệu lệnh lôi đình,
Ầm ầm bão đá vùi binh bạo tàn.
Mùa hạ năm Kỷ Sửu.
Buổi sáng nọ, trong doanh trại quân Minh, Trương Sung đột nhiên tổ chức tiệc rượu thịnh soạn để tiếp đãi chư tướng.
Hắn cầm chén rượu, hớp một ngụm to rồi nói lớn rằng:
“Bổn tướng quân tổ chức bữa tiệc ngày hôm nay, là để mừng cho chiến thắng vẻ vang của chúng ta trước bọn thảo khấu Trường Yên.”
Viên tướng Điền Phú cười rằng:
“Bữa giờ đánh trận toàn thua, lấy đâu ra trận thắng?”
Cả doanh trướng đều im lặng trước câu nói đó của Điền Phú. Viên tướng Hạ Hầu Giai ngồi kế bên bàn huých vai, nhắc nhở Phú cẩn trọng lời nói. Ai nấy đều tin chắc rằng Trương Sung sẽ nổi điên sau câu nói đó, nhưng không, Sung trái lại rất sảng khoái. Hắn ta bước đến, vỗ vai Điền Phú, cười rằng:
“Điền tướng quân nói chí phải! Bữa giờ quả thực chúng ta chưa thắng được trận nào quá lớn. Tuy nhiên, bữa tiệc này được tổ chức để mừng công cho chiến thắng nay mai: một trận chiến chưa xảy ra nhưng nhất định sẽ toàn thắng.”
Viên tướng Ngao Thục thắc mắc:
“Thắng thua là chuyện thường tình của binh gia. Chiến sự luôn tìm ẩn những biến số khó lường. Cớ sao lại đảm bảo là toàn thắng?”
Trương Sung đứng sững người, nheo mày nhìn Ngao Thục.
Hạ Hầu Giai biết ý bèn đứng ra, tay bưng chén rượu, miệng cười xòa:
“Trương tướng quân tinh thông binh pháp, đã dự đoán thế nào thì chiến sự thế đấy. Điền tướng quân, Ngao tướng quân, các ngài cớ sao phải nghi ngờ ngài ấy? Chi bằng bây giờ có rượu ngon thịt ngon ở đây, chúng ta ăn uống thỏa thích để mừng trận đại thắng không phải vui hơn sao?”
Trương Sung thấy vậy bèn cười lớn:
“Hạ Hầu tướng quân đúng là người hiểu chuyện! Nào, cạn chén!”
Một lát sau, khi thấy bên dưới đều đã ăn uống say sưa, Trương Sung bèn đập bể chén rượu, lớn tiếng quát rằng:
“Tiệc đã tàn. Giờ phải bàn việc quân!”
Điền Phú và Ngao Thục thấy vậy bèn nổi đóa, bước ra giữa trướng nói rằng:
“Ngài vừa lệnh chúng tôi ăn uống no say. Giờ lại lệnh chúng tôi phải bàn việc quân trong tình trạng say khước thế này. Ngài coi quân trướng là trò đùa sao?”
Trương Sung đập bàn quát:
“Các ngươi mới là trò đùa đấy! Quân tình khẩn cấp như lửa đốt. Các ngươi định kháng lệnh sao?”
Binh sĩ bên ngoài bèn đổ ập vào bên trong, tay lăm lăm đao kiếm khiến Điền Phú và Ngao Thục sợ mất mật, lắp bắp hỏi:
“Ngài…ngài…ngài định làm gì?”
Cơ mặt Trương Sung giãn ra, nở nụ cười trên môi, nói:
“Bình tĩnh! Những binh sĩ đó là ta đề phòng nếu các ngài làm chậm trễ việc quân thôi. Giờ các ngài bình tĩnh nghe ta nói được chưa?”
Hạ Hầu Giai bất ngờ đứng ra giữa trướng, quỳ xuống thưa rằng:
“Chúng tướng xin nghe lệnh của Trương tướng quân!”
Trương Sung cười lớn rồi nói rằng:
“Khi nãy, bổn tướng quân đã nói đến một trận đại thắng. Giờ là lúc để chúng ta bàn bạc về nó đây. Đúng là dạo gần đây, quân binh chúng ta dù cố sức truy lùng nhưng không tài nào lần ra được dấu vết của lũ thảo khấu Trường Yên, ngược lại còn bị đánh thua vài trận, đến cả Cáp tướng quân cũng một đi không trở về. Nhưng chúng tướng đừng lo, vì bổn tướng quân đã có cách để diệt tận gốc lũ giặc cỏ này một lần và mãi mãi.”
Trương Sung ra hiệu cho các tướng tiến lại gần tấm địa đồ rồi chỉ tay xuống vị trí của một hẻm đá, nói rằng:
“Bổn tướng đã phát hiện ra hẻm đá này gần đây. Xét theo địa hình và vị trí mất tích của đội quân Cáp Sĩ lúc trước, bổn tướng nhận định rằng đây chính là hẻm đá dẫn lên hang ổ của lũ thảo khấu.”
Rồi Sung nhìn hai tướng Điền, Ngao mà nói rằng:
“Chiến công lần này, ta quyết định nhường lại cho hai vị tướng quân đây.”
Điền Phú nhìn địa đồ rồi nói với vẻ lo lắng:
“Hẻm đá này nhìn cứ như tử địa vậy. Hai bên vách đá dựng đứng, rất thích hợp để đặt phục binh. Nếu lũ thảo khấu đặt mai phục ở đây thì chẳng khác nào đi vào đường chết.”
Trương Sung quả quyết nói:
“Lũ thảo khấu Nam man vô tri! Chúng không có mưu sâu kế hiểm thế đâu! Hai tướng quân đừng lo lắng mà cứ an tâm ra trận. Với kinh nghiệm trận mạc của hai người cộng lại, chắc chắn quân ta sẽ giành được đại thắng. Quân đội ở mười hai làng cũng đang được bổn tướng điều về đây để yểm trợ cho hai vị. Cứ an tâm mà ra trận!”
Điền Phú và Ngao Thục lo lắng nhìn nhau một lúc rồi thở dài mà lĩnh mệnh.
Trương Sung thấy vậy bèn đắc chí cười lớn, lệnh cho cả hai bốn ngày nữa sẽ xuất quân.
*
Động tĩnh của quân Minh nhanh chóng truyền đến lực lượng nghĩa quân Trường Yên.
Trong không gian leo lét ánh đèn cầy, Phạm Tung và Dị Nhân trải tấm bản đồ của Đỗ Sán lên mặt đá. Lão thầy đồ đăm chiêu nhìn từng con đường mòn, từng hẻm đá, từng khe nước quanh khu vực. Mực tàu đen nhánh đánh dấu quân doanh đồn trú giặc Minh; mực đỏ son đánh dấu đại bản doanh của nghĩa quân Trường Yên. Phạm Tung gõ nhẹ cán bút lông, giọng khô khốc:
“Bọn cẩu tặc đang muốn làm gì vậy? Theo tin báo về thì chúng sẽ hành quân vào hẻm đá Tràng An. Nhưng ở cuối hẻm đá đó là ngõ cụt mà, đâu có đường nào dẫn lên đây.”
Dị Nhân cười rằng:
“Có lẽ Trương Sung bị chúng ta chọc đến mức hóa điên rồi chăng?”
Lão ngước lên nhìn Dị Nhân, ánh mắt đục ngầu lóe sắc:
“Cũng có thể. Đây là cơ hội ngàn vàng cho ông trời cho chúng ta. Đây là cơ hội để các huynh đệ bên ta nâng cao sĩ khí.”
Lão dùng cán bút gạch mạnh một đường trên bản đồ, nối hai vách đá hai bên hẻm:
“Phải đóng sập cửa hẻm lại! Cho bọn chúng nếm mùi vách đá Tràng An, để từ nay chúng nghe đến cái tên này là rụng rời chân tay.”
Dị Nhân nhìn bản đồ, rồi nhìn Phạm Tung. Chàng gật đầu, chậm rãi nói:
“Xin nghe theo chỉ dạy của tiên sinh!”
**
Đêm trước trận đánh ở hẻm đá.
Trong góc hang sâu, ánh lửa trại nhảy múa trên vách đá, hắt bóng những người đang chuẩn bị cho trận đánh ngày mai. Đám đinh tráng mài giáo tre, vót tên, buộc bao cát. Tiếng đá mài kim loại rít lên xèn xẹt xen lẫn tiếng thì thầm bàn bạc. Có gã lặng lẽ ngồi viết tên mình lên mảnh vải, nhét vào túi ngực, để nếu chết, người ta còn biết mà đem về cho mẹ già khóc đúng tên.
Nguyễn Phụ ngồi xổm ở góc xa nhất, cách đám đông mấy trượng. Gã cởi trần, lưng tựa vào vách đá lạnh, vết sẹo trên vai - dấu tích trận thủy chiến sông Đại Hoàng - kéo dài thành đường gồ ghề bóng nhẫy dưới ánh lửa. Trên đùi gã đặt một nhánh gỗ thơm dài chừng một gang tay, vỏ cây còn sần sùi. Bên cạnh là con dao găm nhỏ mà gã thường dùng lột da thú.
Gã lầm lì gọt nhánh gỗ bằng con dao găm. Từng lớp vỏ mỏng bong ra, rơi xuống đùi, để lộ lớp gỗ trắng ngần bên trong tỏa mùi thơm dịu nhẹ. Đó là mùi trầm hương lẫn mùi nhựa cây, ngòn ngọt, ấm. Gã gọt chậm rãi, cẩn thận đến mức kỳ lạ. Đôi bàn tay to bè quen bẻ xích sắt và vặn gãy cổ giặc, nay khẽ khàng cạo từng cái dằm gỗ nhỏ xíu, vuốt nhẵn từng đường cong. Thỉnh thoảng gã giơ nhánh gỗ lên trước mặt, nghiêng qua nghiêng lại dưới ánh lửa, nhíu mày kiểm tra xem có chỗ nào còn sần không. Mồ hôi rịn trên trán nhưng không phải vì gắng sức, mà vì sợ gọt hỏng.
Gã đang mài nhánh gỗ thơm thành cây trâm cài tóc.
Lý Minh Hải đi ngang, liếc thấy, nhếch mép cười. Gã muốn chọc ghẹo nhưng nhìn vẻ mặt nghiêm trọng của Phụ thì lại thôi, lẳng lặng bước đi, khóe miệng giữ nguyên nụ cười.
Phụ gọt xong khi canh ba điểm. Gã giơ cây trâm lên trước ánh lửa, xoay qua xoay lại. Cây trâm nhỏ nhắn, mảnh mai, đầu vót nhọn, thân tròn nhẵn bóng, mùi gỗ thơm thoang thoảng. Trông nó lạc lõng trên bàn tay thô ráp khổng lồ, giống bông hoa mọc giữa bãi đá.
Tiếng bước chân nhẹ. Dương thị bưng rổ củ mài luộc đi ngang, định mang ra cho đám đinh tráng ăn lót dạ trước giờ hành quân. Từ khi được cứu về thì ngày nào Dương thị cũng xuất hiện ở đây, lấy lý do đem thức ăn cho anh em nghĩa quân nhưng ai cũng thấy cô nàng luôn để ý đến Nguyễn Phụ.
Phụ giật mình, vội giấu cây trâm sau lưng nhưng nào giấu được đôi mắt tinh anh của Dương thị. Nàng dừng bước, đặt rổ củ mài xuống, ngồi xổm trước mặt gã, ngước nhìn, chờ. Ánh lửa nhảy múa trên gương mặt nàng, nửa sáng nửa tối.
Phụ đỏ mặt, nuốt nước bọt ừng ực, yết hầu giật lên giật xuống. Gã lóng ngóng chìa cây trâm ra, mắt nhìn sang chỗ khác, giọng lắp bắp:
“Tóc... tóc rối quá…Cài lên…Để…để lúc chạy giặc đỡ vướng mắc cành cây.”
Dương thị nhìn cây trâm trên bàn tay gã. Gỗ thơm nhẵn bóng, mùi dịu nhẹ ấm. Nàng đưa tay nhận lấy, cẩn thận cài lên mái tóc đen dài. Cây trâm nhỏ xinh nằm gọn trên búi tóc, tỏa mùi thơm thoang thoảng. Nàng quay đầu qua lại, để Phụ nhìn, rồi khẽ gật đầu tỏ ý rất ưng.
Phụ nhìn nàng cài trâm say đắm rồi giọng gã chợt trầm xuống:
“Trận ngày mai rát lắm! Nếu ta không về, cô phải tự lo thân nhé!”
Dương thị ngẩng đầu. Đôi mắt tròn to bỗng lóe lên sắc bén, sáng rực dưới ánh lửa. Nàng cắn đứt sợi chỉ thừa trên gấu áo, rồi dí thẳng ngón tay vào ngực gã dã nhân, nói nhỏ rằng:
“Mạng ta là do ngài vớt từ sông Đại Hoàng lên. Nếu ngài không về thì ta cũng chẳng thiết sống!”
Nói xong, nàng đứng dậy, bê rổ củ mài bước đi, lưng thẳng tắp, không ngoái lại. Nhưng trước khi khuất vào cửa hang, nàng dừng bước nửa nhịp, tay sờ lên cây trâm trên tóc, ngón tay vuốt nhẹ thân gỗ nhẵn, rồi mới bước hẳn vào bóng tối.
Trong bóng tối cách đó mấy trượng, Dị Nhân và Phạm Tung đứng nép vào vách đá, chứng kiến từ đầu đến cuối. Dị Nhân quay sang, mỉm cười:
“Phạm tiên sinh, mài mực đi! Ngày mai sau trận thắng, ta sẽ tổ chức cho gã thô lỗ này một cái lễ thành thân đàng hoàng.”
Phạm Tung vuốt râu, mỉm cười hiền hậu:
“Đôi trẻ này thật khiến lão phu nhớ về thời trai trẻ!”
***
Tờ mờ sáng hôm sau. Sương mù đặc quánh, lạnh cắt da.
Hẻm đá nằm giữa hai vách núi đá vôi dựng đứng, cao chừng mười trượng, kẹp lấy một con đường mòn hẹp chỉ vừa hai người đi song song. Đáy hẻm lát đá vôi trơn nhẫy vì sương, rêu xanh phủ kín, nước rỉ từ khe nứt chảy thành dòng nhỏ len lỏi giữa đám cỏ dại. Hai bên vách, cây cổ thụ mọc bám chênh vênh, rễ lồi ra cuồn cuộn như rắn. Chim lợn kêu quang quác đâu đó trong sương, tiếng kêu vọng vào vách đá nghe rợn tóc gáy.
Trên đỉnh vách phía Tây, Dị Nhân và Minh Hải dẫn ba mươi đinh tráng ép bụng xuống mặt đá vôi lạnh toát. Mỗi người nằm sát bên một tảng đá lớn đã được bẩy lỏng chân từ đêm hôm trước, sẵn sàng xô xuống hẻm bất cứ lúc nào. Bên cạnh mỗi tảng đá là một đống đá nhỏ hơn xếp gọn, chờ ném. Nỏ tẩm nhựa sui nằm sát bên tay.
Trên đỉnh vách phía Đông, Nguyễn Phụ dẫn hai mươi người, cũng nằm bẹp, tảng đá lớn ngay bên cạnh. Gã dã nhân nằm im, mắt nhắm nghiền, hơi thở đều đặn, trông như đang ngủ. Nhưng bàn tay gã đặt lên mặt tảng đá, ngón tay khẽ gõ nhịp. Gã đang đếm thời gian. Trên cổ áo gã thoang thoảng mùi gỗ thơm - mùi cây trâm mà gã đã gọt đêm qua. Gã hít vào, bụng gồng lại. Gã phải cố sống để về sau trận này.
Sương mù che kín mọi thứ. Cách ba bước không nhìn thấy mặt nhau. Cái lạnh ẩm ướt của đá vôi thấm qua lớp áo củ nâu, buốt vào xương sống. Rêu trên đá ướt nhẫy, lạnh ngắt, dính vào bụng, vào đùi, vào khuỷu tay những kẻ đang nằm bẹp. Mấy gã đinh tráng trẻ run lẩy bẩy, răng đánh lập cập, nhưng không ai dám cử động. Phạm Tung đã dặn: ai nhúc nhích, ai ho, ai hắt hơi làm lộ vị trí trước khi có hiệu lệnh, lão Trần Nguyên Thúy sẽ tự tay cắt cổ.
Và Thúy nằm ngay đầu hàng, bàn tay gầy guộc nắm chặt con dao nhọn, mắt dõi theo từng gã trai trẻ như diều hâu canh gà con. Lão đã làm tai mắt cho triều đình nhà Trần mấy mươi năm, biết rõ một tiếng ho sặc sụa có thể giết chết rất nhiều người.
Một gã trai trẻ - con nhà nông, bàn tay chai sần vết cày cuốc, nay nắm chặt thân giáo tre run bần bật - chợt giật mình vì tiếng chim lợn kêu quang quác trong sương. Vai gã nhúc nhích, giáo tre khua vào mặt đá kêu cạch một tiếng nhỏ.
Thúy trườn tới nhanh như rắn. Lão dí lưỡi dao lạnh ngắt vào cổ gã, rít khẽ qua kẽ răng:
“Mạng chúng ta nằm ở tay ngươi. Cử động thêm một cái, lão phu tự tay cắt cổ ngươi trước khi giặc phát hiện!”
Gã trai trẻ cứng đờ, nước mắt ứa ra, nhưng toàn thân bất động. Hai bàn tay siết chặt thân giáo tre đến mức đốt ngón tay trắng bệch. Thúy rút dao, nằm xuống, mắt dõi vào sương.
Nửa canh giờ trôi qua. Rồi một canh. Rêu trên đá thấm lạnh vào xương, tê cóng cả lưng. Có gã đinh tráng phải cắn vào vạt áo để không run. Có gã nhắm mắt, lẩm nhẩm khấn vái thần linh, xin thần linh cho giặc đến mau, vì nếu nằm thêm nửa canh nữa, gã sẽ chết cóng trước khi kịp ném đá.
Tiếng vó ngựa vang lên. Tiếng gõ lộp cộp, nhịp đều, vọng vào vách đá nghe rền rền như tiếng trống trận xa. Rồi tiếng giáp sắt va nhau lanh canh. Tiếng nói chuyện lao xao bằng tiếng Hán. Đội quân do Điền Phú và Ngao Thục chỉ huy đang lọt vào hẻm.
Dị Nhân nằm sát mép vách, mắt nheo, nhìn xuống. Lớp sương mỏng tan dần, để lộ hàng người và ngựa lần lượt bước vào hẻm. Chàng đếm. Mười... hai mươi... ba mươi... bốn mươi... năm mươi ba tên, gồm kỵ binh lẫn bộ binh. Điền Phú và Ngao Thục cưỡi hai con ngựa nâu đi giữa hàng, ánh mắt như diều hâu, cẩn thận quan sát xung quanh.
Dị Nhân kiên nhẫn chờ. Tên lính cuối cùng bước qua vạch sương mù mà chàng đánh dấu bằng nhánh cây khô cắm lệch bên vách đá.
Và rồi chàng hô lên một tiếng:
“Giết!”
Không có tiếng trống trận. Không có tiếng hô xung phong. Chỉ có tiếng gầm rống của đá tảng từ hai bên vách trút xuống.
Năm mươi tảng đá lớn bằng bụng trâu, xen lẫn hàng trăm viên đá nhỏ bằng đầu người, ào ạt lăn từ độ cao mười trượng xuống đáy hẻm hẹp. Tiếng đá va vào vách đá vôi vang lên như sấm nổ liên hồi, rung chuyển mặt đất. Bụi đá trắng xóa tung lên phủ kín hẻm, trộn lẫn sương mù thành lớp mờ đục.
Dưới đáy hẻm, bọn lính Minh không có chỗ xoay xở. Con đường mòn hẹp kẹp giữa hai vách dựng đứng, chạy tới chạy lui đều bị đá chặn. Giáo dài vướng vào vách, giơ lên không nổi. Tên lính bộ binh đi đầu bị tảng đá to bằng cái cối giã gạo đè bẹp ngực, giáp sắt móp méo vào trong, xương sườn gãy hết, máu phun ra từ miệng và mũi thành bọt hồng. Tên đi sau hắn toan quay đầu chạy, bị viên đá nhỏ bằng nắm đấm giáng trúng thái dương, mắt trợn ngược, gục tại chỗ.
Hai con ngựa nâu của Ngao Thục và Điền Phú bị trúng đá, hí lên điên loạn, chồm hai chân trước, giẫm đạp nát thây chính đồng bọn đang cố bò dậy, rồi khuỵu gối ngã đè lên chủ. Ngao Thục kêu lên một tiếng ngắn rồi bị trọng lượng của con ngựa chiến bọc giáp sắt đè gãy nát xương sống. Điền Phú thì khá khẩm hơn khi lết được ra bên ngoài nhưng rồi cũng bị đá tảng rơi trúng đầu mà chết.
Tiếng gào thét, tiếng kêu cứu vang lên, dội vào vách đá, vọng lại hỗn loạn. Có tên bám rễ cây trèo lên vách, Dị Nhân giương nỏ, mũi tên tẩm nhựa sui ghim thẳng vào cổ, gã tuột tay rơi xuống đáy hẻm đập đầu vào đá, óc văng tung tóe. Minh Hải cầm nỏ bắn không ngớt, mỗi mũi tên một mạng, mắt gã đỏ ngầu, hàm răng nhe ra, giọng gầm gừ từng nhịp theo phát bắn. Bên kia vách, Phụ dùng hai tay bê tảng đá to bằng cái thúng, ném thẳng xuống đáy hẻm, tiếng đá nổ rền vang.
Chưa tàn nửa nén nhang, trận đánh kết thúc. Xác lính Minh nằm la liệt dưới đáy hẻm, chôn vùi dưới đống đá tảng. Máu chảy thành suối nhỏ len lỏi giữa khe đá, nhuộm đỏ rêu xanh. Mùi máu tanh trộn mùi phân ngựa và mùi đá vôi ướt bốc lên nồng nặc. Một cuộc đồ sát một chiều.
Khi bụi đá lắng xuống, Dị Nhân leo xuống đáy hẻm. Chàng đi giữa đống xác chết và đá vỡ, mũi giày giẫm lên thứ gì đó nhão nhoẹt, có thể là ruột ngựa hay ruột người, chàng không phân biệt nổi.
Minh Hải đi bên cạnh, cười gằn đắc thắng. Mặt gã vẫn còn lấm tấm bụi đá trắng trộn máu.
Dị Nhân quay sang, nhìn đám đinh tráng đang leo xuống thu vũ khí giặc. Chàng tuốt gươm, cất giọng dõng dạc:
“Hỡi các huynh đệ nghĩa quân! Quân Trường Yên chúng ta vừa có một trận đại thắng đáng tự hào. Chỉ cần kiên vững niềm tin, huynh đệ chúng ta sẽ có thể đánh đuổi quân Minh ra khỏi Trường Yên, giành lại thái bình cho bá tánh mười hai làng, giành lại sự sống cho hương thân phụ mẫu chúng ta!”
Các anh em nghe vậy đều hô to hưởng ứng. Tiếng hò reo chiến thắng vang dội cả một vùng.
Trên mép vách đá, Hạo đứng nhìn xuống hẻm. Y chứng kiến đá tảng nghiền nát lính Minh thành đống bầy nhầy. Mùi ruột ngựa và óc người bốc lên xộc thẳng vào mũi, khiến y phải quay mặt đi, cổ họng ọe khan. Y khạc nhổ, tay ôm bụng, mồ hôi lạnh vã ra trán.
Y từng thích ngâm thơ về trận mạc rực rỡ. Từng tưởng tượng cảnh tướng quân vung gươm dưới ánh trăng, ngựa phi nước đại, cờ bay phấp phới, máu giặc đỏ tươi rực rỡ. Nhưng trận mạc thật không có ánh trăng. Máu giặc thật không đỏ rực rỡ mà nó đen ngòm, sền sệt, bốc mùi tanh lợm, trộn lẫn phân và bùn và đá vôi nghiền thành thứ bột nhão nhớp nháp.