Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Gió Đông Bắc gào rú trên mặt sông Đại Hoàng, xô sóng lớn đập ầm ầm vào bờ sậy. Mưa trút xuống như trời nghiêng nước, hạt mưa to bằng hạt đỗ quất ràn rạt vào mặt, vào áo tơi, vào tấm bạt sậy. Sấm chớp rạch ngang trời, lóe lên từng chớp sáng trắng xanh soi rõ mặt sông cuộn sóng đen ngòm, rồi lại chìm vào bóng tối đặc quánh. Mùi bùn tanh, mùi rong rêu thối và mùi nhựa thông từ mạn thuyền giặc bốc lên trộn lẫn trong gió.

Hai chiếc thuyền hộ tống đã xuất phát từ sớm, kẹp hai bên thuyền chở lương, rồi cùng nhau đi về hướng bến đỗ.

Dị Nhân nằm bẹp bụng trên bờ đê, hai tay ôm chiếc nỏ tẩm nhựa sui, mắt nheo nheo nhìn xuyên qua mưa. Bên cạnh chàng, Minh Hải cởi trần dù mưa lạnh buốt xương, vết sẹo mới trên lưng vừa lành da kéo sần sùi đỏ tấy. Gã siết chặt trường đao, hơi thở điều hòa, mắt hoang dại chốc chốc lóe lên khi chớp giật. Phía sau hai người, hai chục gã đinh tráng nấp trong bụi, giáo mây cầm sẵn, run lẩy bẩy vì lạnh nhưng răng nghiến chặt.

Dưới sông, ba chiếc thuyền nan bọc da trâu của Trương Thị Ngọc nấp kín trong bãi sậy, buộc chặt vào gốc cây sú vẹt, chờ lệnh. Ngọc đứng trên mũi thuyền đầu, áo tơi lá cọ ướt sũng, tay nắm ngọn lao, mắt dán chặt vào mặt sông. Đám dân chài ngồi xổm trên thuyền, mái chèo sẵn sàng, dây thừng cuộn tròn bên cạnh.

Ở mép nước, Nguyễn Phụ ngồi xổm, cởi trần, mình chỉ quấn chiếc khố vải thô. Nước mưa chảy ròng ròng trên tấm lưng chằng chịt sẹo, nhưng gã không run. Bên cạnh gã là con dao găm cán gỗ cắm sâu xuống bùn. Gã nhìn dòng nước xiết đen ngòm, mắt bình thản. Gã đã sống trong đầm lầy từ bé, lặn mò tôm cá, quen thuộc từng con nước, từng xoáy ngầm. Dòng sông Đại Hoàng đêm mưa bão với gã cũng chẳng khác gì cái ao nhà.

Thời khắc ấy cuối cùng cũng tới. Chớp giật lóe lên, soi rõ ba cái bóng đen đang trôi trên mặt sông: hai chiếc thuyền hộ tống và một chiếc thuyền lương kẹp giữa. Trên mũi mỗi thuyền, ngọn đuốc nhỏ xíu nhấp nháy trong mưa, đủ sáng để người lái nhìn thấy mặt nước.

Dị Nhân giơ nắm đấm ra hiệu sẵn sàng. Tim chàng đập dồn nhịp nhưng mặt vẫn lạnh tanh.

Chớp lóe lần nữa, kéo dài, sáng trắng cả mặt sông.

Và Dị Nhân đã nhìn thấy. Dọc mạn ngoài hai chiếc thuyền hộ tống, những bóng người lố nhố ngồi co ro: đàn ông đàn bà, quần áo rách rưới, tay bị xích vào thanh gỗ ngang bằng xích sắt. Mưa quất vào mặt họ, nước mưa trộn nước mắt. Có đứa trẻ con chừng bảy tám tuổi ngồi thu lu, cổ tay bé xíu bị xích quá chật, sưng tấy tím bầm. Chúng run lẩy bẩy, răng đánh lập cập, thỉnh thoảng bị tên lính đi qua đạp vào lưng, rên rỉ khe khẽ.

Dị Nhân hạ nắm đấm. Chàng quay sang nhìn Minh Hải, mắt giao nhau trong bóng tối. Hải nghiến răng, nhổ toẹt bãi nước bọt.

Bên dưới bãi sậy, Ngọc cũng nhìn thấy. Nàng cắn chặt môi, hạ cán lao xuống, đốt ngón tay siết trắng bệch.

Dị Nhân gằn giọng:

“Phải phá xích trước!”

Chàng quay sang nhìn Nguyễn Phụ. Gã dã nhân hiểu ý. Phụ nhặt dao găm, ngậm cán bằng răng, rồi lặng lẽ trườn xuống mép nước. Gã hít một hơi thật sâu, phồng lồng ngực vạm vỡ, rồi lặn xuống không một tiếng động. Mặt nước khép lại sau tấm lưng khổng lồ, không sủi lên nổi một bong bóng.

**

Phụ lặn một hơi dài, chân đạp nước mạnh mẽ, hai tay rẽ dòng chảy xiết, luồn lách dưới đáy sông đen ngòm. Nước sông mùa lũ đục ngầu phù sa, chẳng nhìn thấy gì trước mũi. Gã chỉ dựa vào thói quen thợ săn, vào nhịp sóng đập vào mạn thuyền, vào tiếng khua chèo phía trên đầu để định hướng. Rong rêu quấn vào chân gã, gã gạt đi. Nước lạnh cắt vào da thịt thô ráp nhưng gã đã quen rồi. Những đêm đông nằm trong đầm lầy còn lạnh hơn thế.

Phụ trồi lên sát mạn thuyền hộ tống đầu tiên, giữa hai gốc sậy, đầu chỉ nhô lên tới mắt. Mưa quất, sóng vỗ che kín tiếng. Gã nhìn lên: cách tay gã nửa sải là một hàng người bị xích ngồi co ro. Gần nhất là một gã đàn ông gầy nhom, mắt nhắm nghiền, đầu gục xuống ngực, có lẽ đã ngất vì kiệt sức. Cổ tay gã bị xích sắt siết, da thịt sưng tấy, mủ vàng rỉ ra lẫn máu.

Phụ ngậm dao, bám vào mạn thuyền, nhấc mình lên. Gã ấn ngón tay vào miệng gã đàn ông, bịt lại trước khi gã kia giật mình tỉnh. Đôi mắt gã dân phu mở to hoảng hốt, nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt dã nhân dữ tợn đang ra hiệu im lặng, gã nuốt nước bọt, gật đầu.

Phụ rút dao găm, kẹp vào lòng bàn chân - bàn chân trần chai sạn vì leo núi đá - dùng cả hai tay nắm lấy sợi xích sắt. Xích sắt to bằng ngón tay cái, khóa vào thanh gỗ ngang bằng ổ khóa đồng. Phụ không chém xích vì tiếng sắt va sắt sẽ lộ ngay. Thay vào đó, gã dùng sức trâu bẻ cong mắt xích, vặn xoắn, siết, gồng bắp tay đến mức gân cổ nổi chằng chịt, mồ hôi trộn nước mưa chảy ròng ròng. Sắt nguội kêu rắc một tiếng khẽ, mắt xích bật ra.

Một người đã được giải cứu. Phụ nhìn người đó rồi ra hiệu: lặng, đợi.

Gã trườn sang người tiếp. Bẻ xích. Rồi người tiếp. Rồi người tiếp nữa. Chậm rãi, kiên nhẫn, từng mắt xích một, trong tiếng mưa gào và sóng vỗ. Mỗi mắt xích bẻ ra, Phụ phải gồng gân cốt đến mức mặt tím ngắt, gân trán nổi vồng lên. Bàn tay gã rướm máu vì sắt siết, nhưng gã vẫn cắn răng, quyết tâm không dừng lại.

Chiếc thuyền thứ nhất: mười hai người được giải xích. Phụ lặn xuống, bơi sang chiếc thứ hai.

Nhưng đến chiếc thuyền thứ hai, một tên lính Minh tuần tra đi qua, đuốc soi xuống mạn thuyền. Ánh lửa loé lên, chiếu thẳng vào tấm lưng trần chằng chịt sẹo của Phụ đang cúi rạp trên mạn thuyền, hai tay đang bẻ mắt xích, máu nhỏ tong tong xuống nước.

Tên lính hét lên bằng tiếng Hán. Phụ không kịp nghĩ. Gã vung tay, chộp lấy cổ tên lính, lật nhào hắn qua mạn thuyền ném thẳng xuống sông. Tên thứ hai từ trong khoang lao ra, giương nỏ bắn liên tiếp. Mấy mũi tên sượt qua mặt nước, chỉ một mũi găm vào bả vai Phụ. Phụ lao đến chộp lấy cây nỏ rồi giật mạnh, kéo tên lính lao tới, khuỷu tay đập gãy sống mũi hắn. Tuy nhiên, đứng trước làn tên bắn tới, Phụ chống không nổi, đành phải nhảy ngược lại xuống sông.

Náo loạn nổ ra trên cả ba chiếc thuyền. Tiếng hô hoán, tiếng tù và báo động vang rền mặt sông.

Phụ gầm lên, tiếng gầm vang vọng mặt sông, át cả sấm:

“Nhảy xuống nước đi! Có người vớt!”

Đám người đã được phá xích trên chiếc thuyền đầu nghe thấy, thi nhau nhảy ùm xuống sông. Nước xiết cuốn họ trôi, nhưng thuyền nan Ngọc đã chờ sẵn. Thuyền rẽ sóng lao ra, đám dân chài thả dây thừng, kéo từng người lên thuyền, nhanh gọn như vớt cá. Có mụ đàn bà ôm đứa con nhỏ nhảy xuống, đứa bé sặc nước khóc thét. Một gã dân chài lặn xuống, túm lấy tóc mụ kéo lên thuyền nan, đứa bé ho sặc sụa nhưng còn thở.

Trên bờ, Dị Nhân hô lớn:

“Bắn!”

Hàng chục mũi tên tẩm nhựa sui phóng xuống chiếc thuyền hộ tống đầu tiên. Người đã nhảy hết, mạn thuyền trơ trọi, lính Minh mất lớp che chắn, trở thành bia tập bắn cho nghĩa quân Trường Yên. Tên nào tên nấy ngã gục, rơi xuống nước đen ngòm, vùng vẫy rồi chìm hẳn. Minh Hải dẫn mười đinh tráng nhảy xuống nước, bơi ra, leo lên chiếc thuyền chở lương, vung đao chém giết. Tiếng kim loại va nhau chan chát xen lẫn tiếng gào rú và tiếng sóng.

Nhưng trên chiếc thuyền hộ tống thứ hai, những con tin vẫn chưa được phá xích. Phụ không kịp bẻ hết khi bị phát hiện. Tên chỉ huy giặc Minh trên thuyền đó lùa đám dân phu còn bị xích ra mạn, dùng họ làm lá chắn, gầm lên bằng giọng người Nam lơ lớ:

“Che chắn cho tao! Lũ man di mọi rợ!”

Nguyễn Phụ bất ngờ trồi lên, máu từ vết cắt trên bả vai rỉ ra pha loãng trong nước mưa - lúc nãy bị mũi tên găm trúng. Gã nhìn lên: tên chỉ huy giặc đứng núp sau người dân, gươm kề cổ một cô gái trẻ. Nàng ấy là cô gái họ Dương ở cuối làng. Đứng trước lưỡi gươm của giặc Minh, Dương thị run lẩy bẩy, mắt nhắm nghiền, nước mắt chảy ròng trên gò má lấm bùn.

Phụ không đánh thẳng mặt. Gã lặn xuống, bơi vòng phía đuôi thuyền, trồi lên ở chỗ bánh lái. Bám vào bánh lái, nhấc mình lên, leo qua mạn sau, đặt chân lên sàn thuyền nhẹ như mèo rừng.

Phụ chầm chậm tiến từ phía sau. Tên chỉ huy thì đang quay mặt ra trước nên không để ý. Phụ bước tới, một tay bịt mồm hắn, tay kia vặn gãy cổ. Tiếng xương gãy khô khốc lọt thỏm trong tiếng sấm. Xác tên giặc đổ gục, gươm rơi leng keng.

Phụ cúi xuống, bẻ xích cho tất cả. Tay gã đã rướm máu vì bẻ quá nhiều mắt xích, da thịt rách toạc, nhưng gã không dừng. Từng người, từng người được gã tháo xích. Nhưng chưa kịp xong thì ba tên lính Minh từ trong khoang xông ra. Một tên vung đao chém gập xuống ngay phía Dương Thị. Phụ lao tới, đưa tấm lưng trần đỡ trọn nhát chém. Lưỡi đao cắm sâu vào vai, máu vọt ra. Gã không rên nửa lời. Một tay vặn gãy cổ tên giặc, tay kia chộp lấy Dương Thị bế xốc ném xuống dòng sông đen ngòm:

“Bơi! Bơi về phía thuyền nan!”

Rồi gã quay lại, một mình đối mặt hai tên còn lại. Gã chộp thanh gươm rơi trên sàn, gầm lên chém tới. Hai nhát chém và hai tên ngã gục. Gã lảo đảo, tựa lưng vào mạn thuyền, thở hổn hển. Vết chém trên vai rỉ máu ướt đẫm nửa thân.

Từ bờ, Dị Nhân gào:

“Vớt Phụ lên! Mau!”

Thuyền nan Ngọc rẽ sóng lao tới, đám dân chài kéo gã dã nhân xuống nước, lôi về bờ. Phụ nằm ngửa trên sàn thuyền, mưa quất vào mặt, mắt gã nhìn lên trời đen ngòm, miệng nhếch lên cười - nụ cười rệu rã nhưng mãn nguyện.

***

Đội nghĩa quân cướp lương thành công, đem về lương thực nuôi sống nghĩa quân Trường Yên trong ba tháng. Họ nhanh chóng đi theo con đường mòn mà Phạm Tung, Đỗ Hạo cùng những anh em còn lại vừa mở ra để phục vụ cho việc rút quân và vận chuyển lương thảo đợt này. Đám dân làng bị bắt cũng được anh em nghĩa quân hộ tống lên theo, chờ khi mọi chuyện êm xuôi thì tùy họ ở lại hay quay về. Sau khi đảm bảo mọi người và lương thực đã lên hết, Đỗ Hạo bèn tự tay đốt bỏ, phá sập con đường đó để che giấu vị trí trước quân Minh.

Đám dân làng được giải cứu ngồi co ro trên bờ đá, run lẩy bẩy, mắt ngơ ngác. Có người khóc thút thít. Có người quỳ sụp hôn mặt đất. Có mụ đàn bà ôm đứa con nhỏ vào lòng, siết chặt, mặt cúi gằm, vai rung lên vì nức nở. Một gã đàn ông gầy nhom quỳ xuống trước mặt Dị Nhân, dập đầu xuống đá, khóc rống:

“Ân nhân! Ân nhân ơi!”

Dị Nhân đỡ gã đứng dậy, không nói gì, chỉ vỗ vai rồi quay đi.

Ngân đứng ở cửa hang, chỉ huy mấy anh em nấu nước gừng nóng, chia cho từng người. Nàng bình thản, nhanh nhẹn, miệng không nói nhiều nhưng tay thoăn thoắt: chia quần áo khô cho dân làng, sắp xếp chỗ nằm cho thương binh, cắt giẻ rách làm băng bó, tính gạo chia phần, rành rọt rõ ràng. Ở giữa đám người hoảng loạn vừa thoát chết, nàng là cái neo giữ cho tất cả không chìm vào hỗn loạn.

Ở góc hang, Nguyễn Phụ ngồi dựa lưng vào vách đá, mặt nhăn nhó. Tuy máu đã ngừng chảy nhưng vết thương khiến gã đau nhói. Gã lóng ngóng tự bôi nắm lá sài đất giã nhuyễn lên vai, nhưng tay gã to quá, cổ gã cứng quá, xoay thế nào cũng không với nổi chỗ đau. Gã nhăn mặt, gầm gừ bực bội, trông giống một con gấu đang cào vỏ cây.

Tiếng bước chân nhẹ. Dương thị - cô gái được Phụ cứu trên thuyền - quần áo rách tơi tả, tóc xõa ướt sũng, mặt mũi lấm lem, bước tới. Nàng chừng mười bảy mười tám, dáng người mảnh nhưng bước chân vững, đôi mắt tròn to, lông mày rậm, gương mặt xương xương có vẻ bướng bỉnh của con gái nhà nông quen nắng gió.

Nàng không nói một lời. Nàng giật lấy nắm lá thuốc từ tay Phụ, bỏ vào miệng nhai dập, rồi xé gấu áo khô đắp lên vết chém trên vai gã.

Phụ đỏ mặt lúng túng, đẩy nàng ra, giọng ồ ề:

“Ta không cần.”

Dương Thị giữ chặt lấy cánh tay thô ráp của gã, giọng nhỏ nhưng sắc:

“Ngồi im!”

Mắt Phụ nhìn xuống đất, tai đỏ rần, gân cổ giật giật vì lúng túng. Gã dã nhân sống giữa đầm lầy mấy chục năm, quen giết thú, quen ngủ trên đá, nhưng chưa bao giờ có ai chạm vào vết thương của gã bằng đôi tay nhỏ nhắn ấm áp như vậy. Hơi thở của nàng phả lên vai gã, nhẹ và ấm, khiến tấm lưng vạm vỡ ấy cứng đờ.

Dương thị đắp xong lá thuốc, dùng giẻ rách quấn lại, thắt nút cẩn thận. Rồi nàng đứng dậy, phủi tay, quay gót bước đi mà không nhìn lại. Nhưng trước khi khuất vào cửa hang, nàng dừng bước, khẽ ngoái đầu:

“Cảm ơn ngài đã cứu tôi!”

Rồi nàng rời đi. Phụ ngồi đó, nhìn theo, miệng há ra nhưng không thốt nổi một lời.

****

Ở ngoài kho, Dị Nhân nhặt một nắm gạo nếp từ chiếc bao tải bị rách, gạo dính đầy bùn máu. Chàng nắm chặt, cảm nhận những hạt nếp tròn mẩy ép vào lòng bàn tay chai sạn.

Chàng đi thẳng tới chỗ Hạo và Phạm Tung đang ngồi bên đống lửa, đưa nắm gạo đỏ lòm lên trước mặt hai người, giọng trầm đục:

“Cái này vẫn có thể ăn được. Rửa sạch máu đi là có thể nấu thành cháo!”

“Để đệ làm cho!”

Hạo nhận lấy nắm gạo, bọc vào vạt áo, đứng dậy rồi mang ra suối rửa.

Hạo vừa ra đến bờ suối thì Ngân đã đứng đó. Nàng nhận lấy vạt áo chứa nắm gạo dính máu từ tay Hạo, khẽ gật đầu. Ngân ngồi bên bờ suối, nước suối trong vắt chảy rỉ từ khe đá, lạnh buốt. Trăng lưỡi liềm mờ nhạt ló ra sau lớp mây, hắt ánh bạc xuống mặt nước. Nàng lầm lũi vo từng nắm gạo, cẩn thận xối nước rửa sạch máu bám trên từng hạt nếp. Máu trôi theo dòng nước, loang ra thành vệt hồng nhạt rồi tan biến trong bóng tối.

Nàng vo xong, bưng rá gạo sạch về hang, nhóm bếp. Củi ẩm khó cháy, nàng phải thổi đến đỏ cả mắt mới bùng lên ngọn lửa. Nàng đổ nước suối vào nồi đồng, thái gừng già thành từng lát mỏng thả vào, đậy nắp, ngồi canh. Lửa liếm đáy nồi, nước dần sôi, mùi cháo gạo nếp trộn mùi gừng già tỏa ra ngòn ngọt, cay nồng, ấm áp, tràn ngập gian hang tối tăm. Thứ mùi ấy len lỏi vào từng ngóc ngách, xua đi mùi máu, mùi bùn, mùi thuốc đắp vết thương. Mấy đứa trẻ con ngửi thấy, hếch mũi lên, mắt sáng rỡ. Lần đầu tiên kể từ ngày bị xích lên thuyền giặc, chúng ngửi thấy mùi cơm.

Bát cháo đầu tiên nấu xong, Ngân múc bằng chiếc muôi gỗ, bưng tận tay đến bên chõng tre nơi Minh Hải đang nằm. Gã võ tướng vẫn đau vết thương cũ, mặt nhợt nhạt, môi khô nứt nẻ. Ngân đặt bát cháo xuống mép chõng, giọng nhẹ:

“Hải đệ, cháo gừng nóng. Ăn cho ấm bụng.”

Hải ngước lên. Bát cháo bốc hơi nghi ngút, mùi gừng xộc vào mũi, ấm cả xương. Gã ngồi dậy, bê bát bằng hai tay chai sạn, húp một ngụm dài, nước cháo nóng chảy xuống cổ họng, xua đi cái lạnh và mệt mỏi.

Ngân lướt đi, bưng bát cháo tiếp theo cho những người dân vừa được giải cứu. Nàng đi từ người này sang người kia, bát cháo nối bát cháo. Có mụ đàn bà ôm đứa con nhỏ, tay run quá không bưng nổi bát, Ngân quỳ xuống, đút từng thìa cháo cho mụ ăn, rồi đút cho đứa bé. Có ông già ho khù khụ, Ngân thổi nguội bát cháo rồi mới đưa cho ông.

Dị Nhân đứng ở cửa hang, nhìn Ngân bưng cháo đi trong ánh lửa bập bùng. Chàng nhìn lâu, mắt dịu xuống. Bóng nàng mảnh mai, lưng thẳng, bước chân nhẹ nhàng nhưng vững, đi giữa đám người rách rưới tả tơi, bưng trên tay bát cháo nóng bốc hơi. Hình ảnh ấy in vào mắt chàng, khắc sâu hơn cả trăm trận đánh.

Rồi chàng quay lại, bước vào bóng tối, giắt chặt thanh đoản đao, ngồi xuống bên bàn đá cùng Phạm Tung, bắt đầu trải bản đồ tính toán những hành động tiếp theo.

*****

Cùng lúc đó, ở phía quân doanh giặc Minh, Trương Sung đang điên cuồng đập phá đồ đạc trong lều trướng. Tên lính vào báo tin thuyền lương bị cướp đã bị hắn ta một đao chém chết tại chỗ. Giờ cả doanh trại đều chìm ngập trong sự sợ hãi.

Ngồi một mình trong trướng nhiều giờ, cuối cùng Trương Sung cũng bình tĩnh trở lại. Hắn nghĩ rằng phải chuyển sự chú ý của quân lính sang vấn đề khác để lấp liếm nỗi nhục thất bại mấy trận gần đây. Hắn phải làm cho họ bận rộn để họ không còn tâm trí chê bai hắn. Ít nhất đó là những gì hắn nghĩ trong đầu.

Trương Sung bèn thông báo với toàn quân, lấy lý do nhận lệnh từ cấp trên, hắn lệnh cho binh sĩ dưới trướng đẩy mạnh việc thiêu hủy sách vở và thu đồng đúc vũ khí. Hắn lệnh cho quân sĩ lập tức đi khắp mười hai làng để thực thi nhiệm vụ.

Bọn lính đồn trú gõ cửa từng nhà trong mười hai làng Trường Yên, tịch thu vạc đồng để đúc vũ khí, gom đốt toàn bộ sách vở, gia phả, thần phả, hương ước.

Ở bên ngoài, lão Bá Liêm vẫn chưa bị lộ thân phận, vẫn ngày ngày sinh sống với dân làng. Kể từ khi quân Minh siết chặt vòng vây thì lão quyết định ở luôn bên dưới, tạm ngưng liên lạc với những anh hào của nghĩa quân. Tuy vậy, ý chí kháng Minh trong lòng lão vẫn bừng bừng lửa cháy.

Khi hay tin quân giặc động vào thần phả và hương ước - những thứ mang theo văn hóa, lịch sử của dân làng- Bá Liêm bèn vận bộ áo the thâm, đi thẳng về sân đình chính của làng Gạo.

Đình cái đứng sừng sững giữa sân gạch ướt sương. Bốn cây cột đình bằng gỗ lim cổ thụ, to bằng vòng ôm hai người, đen bóng vì thời gian, mặt gỗ khắc chạm hoa văn rồng phượng đã mờ. Bá Liêm đứng trước cột đình cái - cây cột lớn nhất, đặc ruột, nặng hàng ngàn cân - rồi quỳ xuống, chắp tay vái ba vái.

Lão lẩm nhẩm khấn:

“Thần linh thổ địa minh xét, kẻ hèn này xin gửi hồn vía dân làng vào lòng gỗ lim, chờ ngày con cháu lấy lại đất!”

Lão mở chiếc tráp gỗ mang theo, lấy ra cuốn Hương ước làng Gạo viết trên giấy dó vàng ố, mực tàu nét chữ ngay ngắn, ghi rõ từng điều lệ, từng phong tục, từng bổn phận của dân Trường Yên từ thời dựng làng đến nay và quyển Thần phả mạ vàng, ghi tên các vị thần hoàng, gốc tích đình làng, lời thề của ông cha khi khai phá vùng đất này. Lão bọc hai cuốn vào lớp da trâu khô, trát nhựa cây kín mít cho không thấm nước. Rồi lão dùng đục và búa gỗ, khoét một hốc nhỏ ở thân cột đình cái, nhẹ nhàng nhét cuốn sách vào bên trong, lấy mảnh gỗ lim và nhựa cây bít kín lại. Lão vuốt phẳng mặt gỗ, xóa dấu vết.

Khi lính đồn trú ập vào sáng hôm sau, Bá Liêm đứng chắp tay trước sân đình, mặt lạnh tanh, để mặc bọn chúng lục lọi, gom mấy cuốn sách vô bổ đem đốt. Lửa thiêu giấy bốc lên ngùn ngụt, tro bay phất phơ. Bọn giặc thấy ông già quê mùa, chẳng đáng ngờ, phẩy tay bỏ đi. Chúng không biết rằng thứ quý giá nhất của Trường Yên đang nằm cách chỗ chúng đứng đúng ba bước chân, trong lòng cây cột gỗ lim mà chúng vừa đi ngang qua.

Khi trở về ngôi nhà xiêu vẹo, Bá Liêm ngồi xuống nền đất, tay ôm chén rượu nếp. Chân lão phồng rộp vì đi đường đêm, đầu gối sưng tấy, nhưng mắt lão sáng rỡ. Lão nhấp ngụm rượu, cất giọng trầm buồn:

“Đao kiếm giữ được mạng người. Nhưng chỉ có sách vở giữ được hồn dân. Làng ta có thể mất đất, mất nhà, mất gạo. Nhưng chừng nào Thần phả và Hương ước còn nằm trong lõi cột đình, chừng đó dân làng vẫn biết mình là ai, tổ tiên mình là ai.”

Rồi nước mắt lão rơi xuống chén. Lão thấy mình có ích vì vẫn còn giữ được thứ gì đó giữa cơn đại loạn. Giọt nước mắt rơi vào rượu, lão uống cạn, mặn chát.

 

 

Đêm dông bão táp gầm gào,

Thuyền lương giặc xích đồng bào xót xa.

Mình trần Phụ lặn xông pha,

Lửa hồng cháo ấm chan hòa tình thương.

 

— Hết Hồi Sáu —

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px