Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Tiếng còi xương rúc lên lanh lảnh. Minh Hải giật mình, bát cháo tuột tay, đổ ụp xuống đất. Gã chộp lấy trường đao, nhổm dậy.

Ngay sau tiếng còi là mấy chục mũi tên tẩm nhựa thông rít lên xé gió, bay vút qua lớp sương mù, cắm phập vào sân bãi hang đá Tràng An. Nhựa thông bắt lửa. Lửa bùng lên dữ dội. Những căn lều dựng ngoài cửa hang cháy rực, sương mù bị xua tan trong chớp mắt, để lộ ra hàng rào giặc Minh đang ào ạt xông vào. Dẫn đầu đám quân đó chính là tên tướng Cáp Sĩ trong bộ giáp vai sáng loáng.

Tiếng la hét hoảng loạn xé toạc buổi sáng tĩnh lặng. Đám đinh tráng nhốn nháo chụp giáo tre, xô nhau chạy ra. Mùi khét lẹt của rơm cháy trộn lẫn mùi tanh tưởi của bùn non lật nát tràn ngập. Khói đen cuồn cuộn phủ kín bãi đất trống, cay xè mắt mũi.

“Giặc! Giặc tập kích!”

Một gã đinh tráng gào lên, rồi một mũi tên ghim thẳng vào cổ họng, gã ngã gục giữa câu, mắt trợn ngược, tay vẫn giơ cao cây giáo tre chưa kịp phóng.

Minh Hải chém bay đầu một tên lính Minh vừa xông qua hàng rào sậy. Máu phun vòi, nhuộm đỏ cả vạt áo gã. Gã gầm lên, lồng ngực phập phồng, mắt quét nhanh qua chốn giao tranh. Đám đinh tráng này đều chưa qua trận mạc, tay cầm giáo tre run lẩy bẩy, mặt cắt không còn giọt máu. Giặc đông hơn gã tưởng - ít nhất năm sáu chục tên, có cung nỏ, đồ nhà binh gọn gàng. Chúng không đến để cướp bóc. Chúng đến để tàn sát.

Gã nghiến răng, vung đao chém thêm hai tên nữa, miệng gào lên ra lệnh:

“Kéo về cửa hang! Đừng đứng ngoài bãi trống để bọn chúng bắn! Ai không chiến đấu được thì chạy sâu vào bên trong đi! Địa thế hiểm trở che chắn được cho chúng ta.”

Giữa bãi đất trống lầy lội trước cửa hang chính, ngọn cờ lụa đỏ thêu bốn chữ vàng “Phù Trần Diệt Minh” vươn cao sừng sững trên cột gỗ lim. Gió rít qua, lá cờ phấp phới, chữ vàng lấp lánh giữa màn khói lửa. Với toán giặc, ngọn cờ ấy là biểu tượng phản loạn cần chặt đứt. Tên Cáp Sĩ hú lên tiếng man rợ, múa đao lao thẳng về phía cột cờ. Bốn năm tên lính Minh chạy theo sau, định chặt gãy cột lim.

“Giữ lấy cờ! Chết cũng giữ!”

Một gã đinh tráng trẻ tuổi, chừng mười bảy mười tám, gào lên vỡ giọng. Gã mặc áo giao lĩnh vải thô xám đã rách sờn, chân đất, tay cầm cây giáo tre vót nhọn. Mặt gã lấm lem bùn, mắt đỏ ngầu, cặp môi run rẩy nhưng hàm răng nghiến chặt. Gã là đứa con trai của nhà nào đó trong mười hai làng, mới cầm giáo được vài tháng, ôm trong lòng niềm tin ngây thơ rằng lá cờ nhà Trần là thứ thiêng liêng nhất trên đời, rằng giữ cờ là giữ nước, rằng nếu cờ gục thì mười hai làng sẽ mất hết sức mạnh.

Gã lao ra. Lưỡi đao của Cáp Sĩ đâm xuyên qua bụng gã, ghim gã vào thân cột cờ. Lưỡi đao nhô ra phía sau, dính theo miếng thịt và vải áo. Gã không chết ngay. Đôi tay co quắp ôm rịt lấy cột gỗ, máu trào ra khóe miệng, mắt vẫn mở trừng trừng nhìn lá cờ phấp phới trên đầu. Miệng gã mấp máy, có lẽ đang gọi tên mẹ. Rồi gã gục xuống, hai tay vẫn không buông.

Người này ngã, kẻ khác bước lên. Hai gã đinh tráng nữa lao tới, dùng thân mình đỡ tên cho cột cờ. Mũi trường thương đâm xuyên qua ngực, qua bụng, ghim chặt họ vào thân cột gỗ lim. Máu tuôn xối xả. Một gã bị đâm xuyên phổi, thở khò khè sủi bọt máu hồng, nhưng tay vẫn siết chặt cột cờ, mắt vẫn ngước lên nhìn mảnh lụa đỏ đang bay. Cột cờ trơn tuột vì máu thịt nhầy nhụa, nhưng lá cờ chữ Trần vẫn phấp phới trên nền trời xám xịt. Rồi người thứ tư, thứ năm tiếp tục lao lên. Chẳng bao lâu, chân cột cờ đã bị lấp kín bởi những thân người.

Minh Hải chứng kiến cảnh ấy, hàm răng nghiến đến rạn men. Gã nhìn thấy máu đám trai trẻ Trường Yên - những đứa trẻ mới hôm qua còn ngồi bên đống lửa nghe Khoa kể chuyện tiếu lâm, cười hô hố - nay thành tường thịt bao quanh một miếng vải lụa đỏ. Và gã nhớ lại Đa Bang. Những anh em của gã khi đó cũng đã chết y như thế, chết vì một lá cờ, chết thay cho kẻ ngồi trên ngai vàng.

Nhưng gã không kịp nghĩ thêm. Bởi ở phía bên kia, một bi kịch khác đang diễn ra.

Mụ đàn bà bồng đứa con mới đẻ - người vợ lính đang sưởi ấm trong hang lúc nãy - đã bị kẹt cứng giữa vòng vây. Người chồng đã bị bọn lính Minh giết chết. Người đàn bà vì hoảng loạn nên đã lao ra ngoài để rồi bị lọt vào vòng vây của giặc. Nàng ôm khư khư đứa bé trước ngực, chạy lảo đảo giữa bãi sân bùn, mắt trợn tròn kinh hãi, miệng gào tên chồng nhưng tiếng gào lọt thỏm trong tiếng đao kiếm.

Lưỡi đao Cáp Sĩ chém trúng lưng nàng từ phía sau. Vết chém sâu từ vai xuống eo, xương sống lộ ra trắng hếu. Nàng ngã sấp xuống vũng bùn, máu trào ra khóe miệng. Đứa bé văng khỏi tay nàng, rơi xuống bùn non, tiếng khóc ré lên lanh lảnh xé ruột xé gan. Trước khi trút hơi cuối, tình mẫu tử thiêng liêng đã tiếp thêm sức mạnh, khiến nàng dùng chút sức tàn lật ngửa, che cho đứa bé khỏi ngạt. Thân nàng nằm ngửa trên bùn, máu loang ra, đôi mắt mở trừng nhìn lên trời xám, hai tay chới với như muốn ôm lấy tiếng khóc của con nhưng ngón tay đã cứng dần, co quắp lại.

Cáp Sĩ chầm chậm bước đến gần đứa bé, ánh mắt lóe lên tia lửa bạo tàn, định giẫm nát cái mầm sống nhỏ nhoi giẫy giụa dưới đất.

Minh Hải nhìn thấy. Cùng lúc, gã nhìn thấy hai cảnh tượng: bức tường thịt đám đinh tráng chết thảm vì lá cờ, và đứa bé sơ sinh sắp nát thây dưới gót giày giặc Minh. Trong đầu gã, tiếng khóc của đám trẻ con Đa Bang năm xưa vang lên, rền rĩ, xen lẫn tiếng khóc ngằn ngặt của đứa bé trước mặt. Hai tiếng khóc hòa vào nhau, xoáy vào tai gã như mũi khoan sắt nung đỏ.

Gã không còn thời gian để do dự nữa.

Gã gầm lên tiếng rống man dại, đạp văng xác tên giặc trước mặt, phi thân vào giữa đám giặc. Gã xé phăng vạt áo chiến bằng răng, hai tay vẫn cầm đao chém loạn. Gã lướt qua cột cờ đang tắm máu, trượt dài trên bùn non đến sát bên xác người mẹ.

Gã vung đao chém đứt ngang hai chân tên giặc Cáp Sĩ. Hắn ta gào lên thảm thiết, ngã xuống kêu la. Hải chém ngang cổ hắn, máu phun vòi. Rồi gã quăng đao sang tay trái, tay phải túm lấy đứa bé đỏ hỏn nhỏ xíu, cẩn thận nhưng vội vã dùng vạt áo, xé ra rồi bó chặt sinh linh bé nhỏ vào vòm ngực trần đầy sẹo. Đứa bé vẫn còn ấm hơi da thịt, nín bặt một nhịp rồi khóc ré lên to hơn, như thể sức sống mãnh liệt đang tuôn trào.

“Giết thằng đó!”

Một tên lính Minh gào lên khi thấy Hải.

Hàng chục lưỡi đao và tên nỏ chĩa thẳng về phía con thú hoang. Hải không lùi. Đứa bé nằm trước ngực, gã chỉ còn cách dùng lưng hứng chịu. Gã xoay người, lấy tấm lưng trần làm lá chắn, vung trường đao tay trái chém đường máu lùi dần về phía cửa hang. Bùn đất hòa lẫn máu tanh ngập đến bắp chân, mỗi bước nhấc lên nặng nề như đeo đá.

Phập! Mũi tên thứ nhất xuyên thủng vai phải. Gã lảo đảo, mắt hoa đi, nhưng cắn răng bước tiếp.

Phập! Mũi thứ hai cắm sâu vào bắp đùi trái. Chân gã khuỵu xuống, đầu gối chạm bùn. Gã gồng gân cốt, gượng đứng.

Phập! Mũi thứ ba ghim thẳng vào giữa sống lưng. Gã khạc ra búng máu tươi, mặt trắng bệch.

Nhưng gã không ngã. Tiếng khóc ngằn ngặt của đứa bé áp chặt vào lồng ngực, nóng rực, đang đập liên hồi sát da thịt gã. Tiếng khóc ấy giữ cho gã đứng vững trên đôi chân đã rã rời. Gã vung đao chém nát đầu bất cứ kẻ nào dám bước vào tầm tay, bước chân lê lết kéo theo vệt máu dài ngoẵng trên bãi bùn. Từng bước. Từng bước. Mười bước. Hai mươi bước. Ba mươi bước. Mỗi bước một vũng máu.

Và rồi, tiếng tù và rút quân của giặc Minh vang lên khi đoàn quân chủ lực Trường Yên do Dị Nhân dẫn đầu kịp quay về ứng cứu. Hóa ra Hạo ở thủy doanh của Ngọc đã nghi ngờ và xét lại tin Khoa báo, thấy có vấn đề liền sai người phi ngựa báo anh trai quay lại. Hạo cũng lập tức mượn một đội thủy binh dưới quyền Ngọc, theo đường nước quay về Tràng An. Cùng lúc đó, ở phía Dị Nhân, Phạm Tung cũng lờ mờ nhận ra mưu kế của Trương Sung nên cũng khuyên Dị Nhân lập tức rút về. Vậy là đội Dị Nhân cùng với đội Hạo về kịp lúc. Cả hai chia nhau, bao vây lũ giặc từ hai hướng.

Lực lượng mà Dị Nhân dẫn đi đều là những đinh tráng to khỏe, sức lực hơn người. Chẳng mấy chốc, lũ quân Minh bị đánh cho tơi tả. Chúng không còn tên chỉ huy là Cáp Sĩ nên chạy loạn cả lên. Dị Nhân cứ thế mà cho quân truy quét, giết sạch toàn bộ. Để đề phòng, Dị Nhân còn lệnh Nguyễn Phụ dẫn gần trăm anh em đi kiểm tra xung quanh, quyết không để bất kỳ tên giặc nào còn sống mà xuống núi báo tin, lại tạm phá bỏ những con đường mòn lên núi để tránh việc lũ quân Minh còn lại lùng ra vị trí.

Bọn giặc tuy bị đánh tan nhưng chúng đã để lại khung cảnh tàn khốc.

Giữa bãi đất trống, lá cờ “Phù Trần Diệt Minh” rách bươm, vẫn bay phấp phới trong gió lạnh, được giữ đứng bởi hơn hai chục cái xác đinh tráng xếp chồng lên nhau quanh chân cột. Máu chảy thành vũng lớn, loang ra trộn lẫn bùn non, đặc quánh.

Ở cửa hang, Minh Hải gục khuỵu xuống nền đá. Một mũi tên ghim nơi vai phải, một mũi cắm sâu ở đùi trái, mũi còn lại ghim giữa lưng. Máu thấm đỏ cả tấm lưng trần. Thanh trường đao tuột khỏi tay, rơi keng một tiếng lên đá lạnh. Đám anh em xúm lại, kinh hãi. Nhưng khi Dị Nhân quỳ xuống, dùng dao cắt đứt mảnh áo quấn quanh ngực gã, một sinh linh bé nhỏ tứa ra từ trong lớp vải rách. Đứa bé không hề xước một vết, mặt đỏ hỏn, miệng mở to đang khóc ngằn ngặt, bàn tay bé xíu nắm chặt lấy ngón tay đầy sạn cát của gã dã nhân.

Hải ngước đôi mắt đục ngầu nhìn Dị Nhân, rồi quay mặt nhìn ra bãi lầy nơi đám đinh tráng bỏ mạng vì lá cờ. Gã thều thào, hơi thở đứt quãng:

“Cuối cùng huynh cũng về rồi! Đệ đã hoàn thành lời hứa rồi!”

Dị Nhân đỡ lấy đứa bé, nước mắt lăn dài trên gò má sạm nắng. Chàng ôm đứa trẻ vào lòng, cảm nhận hơi ấm bé nhỏ tỏa vào ngực mình, nhịp tim bé xíu đập thon thót. Chàng giao đứa bé cho Thúy, dặn tìm kiếm người nhà còn sót lại. Rồi chàng dìu Minh Hải bước vào trong hang, mỗi bước chân để lại dấu chân máu trên nền đá.

***

Trong góc hang tối, Minh Hải nằm sấp trên chõng tre, hơi thở nặng nhọc. Ba mũi tên đã được nhổ ra. Những vết thương ở vai phải, đùi trái và giữa lưng đều được đắp lá sài đất giã nhuyễn, nhưng máu vẫn rỉ qua lớp giẻ rách. Đôi chân gã sưng tấy, lở loét vì ngâm bùn độc, mùi phèn chua và mùi mủ tanh nồng quyện vào hơi ẩm hang đá.

Ngân bưng chậu nước thảo dược nóng hổi bước vào. Hơi nước bốc lên nghi ngút, mùi ngải cứu và gừng già xộc vào mũi. Nàng đặt chậu xuống bên chõng tre, nhìn tấm lưng đẫm máu của Minh Hải, khẽ thở dài, rồi lùi ra ngoài không nói một lời.

Dị Nhân bước vào, ngồi xuống cạnh chõng tre. Chàng không gọi ai giúp, lẳng lặng vắt vạt áo, kéo đôi chân bùn lầy sưng phồng của Hải đặt lên đùi mình, tự tay nhúng khăn vào nước thảo dược, cẩn thận lau rửa từng vết thương. Nước nóng ngấm vào da thịt rách, Hải giật mình cắn chặt môi, mồ hôi vã ra.

Gã giật mình tỉnh hẳn, gồng mình rút chân về, giọng hoảng hốt:

“Chúa công! Sao người lại đụng tay vào thứ bùn đất dơ bẩn?”

Dị Nhân ghì chặt cổ chân gã lại, giọng trầm đục:

“Phải gọi là huynh! Giữa ta và đệ không có cái phận trên dưới đó. Nằm im! Ngày ta chỉ có hai bàn tay trắng, đệ là kẻ đầu tiên chịu cúi đầu theo ta. Đôi chân này đã bước qua sinh tử mở đường cho nghĩa quân Trường Yên. Chẳng có bùn đất nào làm vấy bẩn được nó.”

Hải khựng lại. Sống mũi gã cay xè. Cả đời cầm vũ khí, dốc mạng cho triều đình cũ để rồi bị bỏ rơi, bị nhổ nước bọt, bị gọi là đồ lính quèn. Gã chưa từng được ai trân trọng đến thế. Gã nằm im, nhìn đôi bàn tay chai sạn của Dị Nhân nhẹ nhàng lau từng vết thương trên chân mình, nước thảo dược ấm sực ngấm vào da thịt, xót rát nhưng dễ chịu. Đôi mắt gã nhìn lên trần hang, nơi nhũ đá lấp lánh dưới ánh nến, nước nhỏ giọt tong tong.

Dị Nhân vừa lau vết thương, vừa cất giọng trầm buồn:

“Nhưng Hải này, đệ cũng là tướng chủ lực của ta, mạng đệ liên quan đến nhuệ khí cả nghĩa quân. Hôm nay, sao đệ lại liều mạng như vậy? Nếu mũi tên tẩm độc thì đệ tính sao?”

Hải im lặng. Đôi mắt gã nhìn đăm đăm ngọn nến leo lét cắm trên mẩu đá nhỏ ở vách hang. Bóng lửa nhảy múa, hắt lên khuôn mặt gã những mảng sáng tối liên tục thay đổi. Giọng gã chùng xuống, nói:

“Huynh à, năm đó cổng phía tây Đa Bang đóng sập ngay trước mặt tiểu đệ. Đám quân ngoài lũy tan vỡ, ai nấy chen nhau tìm đường sống. Tiểu đệ cũng chạy. Giữa bãi lầy, có một người đàn bà ôm đứa trẻ sơ sinh túm lấy vạt giáp của đệ mà gào xin cứu. Đệ đã nghe thấy, đã nhìn thấy. Nhưng kỵ binh giặc đã tới quá gần, đệ chỉ nghĩ đến việc giữ lấy mạng mình. Đệ giằng áo ra rồi quay lưng bỏ chạy. Khi ngoái lại, vó ngựa đã tràn qua chỗ hai mẹ con.”

Gã nuốt nước bọt, yết hầu giật lên.

“Sau những điều được nghe hôm ấy, đệ hiểu rằng mình không biết ai đã ra lệnh đóng cổng, cũng không thể quả quyết có kẻ cố ý đem dân ra làm bia. Nhưng người đàn bà ấy đã chết trong khi đệ còn sống. Tiếng khóc của nàng và đứa bé hôm ấy, đêm nào cũng vang lên trong giấc mơ đệ. Mấy năm rồi, khó có đêm nào đệ ngủ trọn giấc.”

Dị Nhân nghe đến đây sực nhớ lại cảnh tượng kinh hoàng ở trên trạm gác năm nào. Chính chàng cũng từng tận mắt chứng kiến những cảnh tượng tang thương như thế. Những thứ đó đến nay cũng vẫn ám ảnh chàng không nguôi.

Minh Hải ngước lên nhìn Dị Nhân, đôi mắt hoang dại bỗng dịu xuống:

“Hôm nay, nhìn thấy đứa bé bị bỏ rơi giữa biển lửa, tiểu đệ hiểu rằng nếu lại quay lưng để giữ mạng mình, đệ vẫn chỉ là thằng Minh Hải đã bỏ chạy ở Đa Bang năm xưa.”

Gã cắn môi, giọng khàn đặc:

 “Đệ lao xuống đầm lầy vì muốn chứng minh: thanh gươm Trường Yên vung lên là để che chở những sinh linh yếu ớt nhất. Mấy năm rồi, đêm nay... có lẽ đệ sẽ ngủ được.”

Dị Nhân dừng tay lau vết thương. Chàng lặng lẽ nhìn Minh Hải. Ánh nến hắt lên khuôn mặt chàng, đôi mắt sắc lạnh thường ngày lấp lánh ướt. Chàng từ từ xé một vạt áo lụa trắng sạch, cẩn thận quấn lại vết thương bắp chân Hải, thắt nút chặt.

“Lý Minh Hải, đệ nghe cho rõ.”

Giọng Dị Nhân trầm đục, từng chữ nặng như chì:

“Chỉ cần Đỗ Dị Nhân còn sống, Trường Yên mãi là nơi che chở cho những tiếng khóc ấy. Đệ vì lẽ đó mà đổ máu, thì ta dẫu phải đối đầu cả thiên hạ, cũng giữ cho thanh gươm của đệ không bao giờ bị gãy.”

Minh Hải nghẹn ngào. Gã khó nhọc chống tay, gục đầu xuống mặt chõng tre. Cái cúi đầu ấy trao gửi cả linh hồn.

Bên ngoài cửa hang, mưa bắt đầu rơi. Tiếng mưa gõ ràn rạt trên mái lá cọ, chảy thành dòng nhỏ trên vách đá, hòa vào tiếng tụng kinh trầm trầm từ trong hang sâu - ai đó đang cầu siêu cho những đinh tráng vừa bỏ mạng dưới chân cột cờ.

****

Đúng lúc ấy, tiếng bước chân vội vã phá vỡ bầu không khí.

Hạo bước vào, cả người ướt sũng nước mưa, khuôn mặt trắng bệch. Mái tóc đen lánh bình thường búi gọn nay xổ tung, dính bết vào trán. Đôi mắt trong vắt thường ngày nay mở to, run rẩy.

“Đại ca...”

Giọng Hạo lạc đi:

“Có thám báo từ tiền phương. Quốc công Đặng Tất... vị tướng đại thắng Bô Cô... bị vua Giản Định lừa gọi vào thuyền ngự, sai lực sĩ bóp cổ chết rồi!”

Dị Nhân giật mình đứng bật dậy, đá phải chậu nước thảo dược. Chậu sành vỡ loảng xoảng trên nền đá, nước máu loang lổ dưới chân chàng.

Ngoài bãi đất trống, mưa dầm rả rích, nặng hạt hơn từng khắc.

Lại nói, có một gã thám báo phi ngựa bạt mạng từ mạn Nam về, con ngựa sùi bọt mép, bốn chân quỵ xuống rồi đổ gục tắt thở ngay phía bìa rừng. Gã thám báo ngã lăn xuống vũng bùn, giáp mây tơi tả, mặt mũi lấm lem, lưng cắm mũi tên lông vũ - mũi tên của chính quân Hậu Trần. Gã bị chính quân mình bắn khi tháo chạy. Nguyễn Phụ bắt gặp được trong lúc đi tuần tra, bèn đưa hắn về hang gặp Dị Nhân.

Dị Nhân bước ra từ cửa hang, theo sau là Hạo. Bá Liêm và Thúy vội vã chạy tới. Đám đinh tráng xúm quanh, mặt mũi vẫn lấm lem khói lửa từ trận đánh sáng nay.

Gã thám báo cố lết tới, ho sặc sụa ra búng máu đen, tay bám lấy vạt áo Bá Liêm, gào uất nghẹn:

“Vỡ rồi! Đại quân vỡ rồi! Vua Giản Định nghe lời gièm pha, lừa gọi Quốc công Đặng Tất và Tham mưu Nguyễn Cảnh Chân lên thuyền ngự... rồi vua sai lực sĩ bóp cổ Đặng Quốc công đến chết! Nguyễn Tham mưu thấy biến chạy lên bờ, cũng bị quân lính đuổi theo chém chết!”

Bá Liêm loạng choạng lùi lại hai bước. Khuôn mặt lão chìm vào bóng tối, chỉ ánh chớp từ xa hắt lên đôi mắt trợn tròn. Lão run rẩy:

“Nói láo! Thánh thượng vừa đại thắng Bô Cô, sao tự chặt vây cánh? Mi là gian tế giặc Minh phao tin!”

Gã thám báo dập đầu xuống bùn khóc rống:

“Tiểu nhân tận mắt nhìn thấy thi thể Quốc công được đưa ra khỏi thuyền ngự! Tiểu tướng Đặng Dung uất hận tột cùng, rút kiếm chém đứt mái lều ngự, dẫn tàn quân mở đường máu tháo chạy về Thanh Hóa! Triều đình giờ đang xua quân truy sát chính người của mình!”

Im lặng. Chỉ còn tiếng mưa rơi ràn rạt và tiếng thở hổn hển của gã thám báo sắp chết.

Đám đinh tráng - những kẻ từng được cha con Đặng Tất dạy cách đâm giáo chống kỵ binh - đứng trân trân, mắt hoang mang. Có đứa buông thõng cây giáo, mặt cắt không còn giọt máu. Vừa sáng nay, mấy chục anh em đã chết dưới chân lá cờ “Phù Trần Diệt Minh”, giờ thì vị vua mà lá cờ ấy phụng thờ đã tự tay giết đi người trung thành nhất của mình.

Từ góc hang tối, tiếng ho sặc sụa vang lên. Minh Hải nằm sấp trên chõng tre, vươn bàn tay đầy sẹo tóm lấy mép chõng, gượng chống nửa người dậy. Gã lắc đầu thở dài, nhìn bầu trời đang bị mây đen che phủ rồi ngán ngẩm quay vào bên trong.

Bá Liêm ngửa mặt lên trời, nước mưa tuôn xối xả trên khuôn mặt già nua, lão gào lên ai oán:

“Trời ơi! Đông A hết thật rồi sao! Xương máu bá tánh vừa đổ xuống Bô Cô, cớ sao ngài lấy máu công thần ra rửa? Bệ hạ ơi!”

Trần Nguyên Thúy quỳ sụp giữa sân đình ngập nước, ôm mặt khóc không thành tiếng. Lão không khóc vì Đặng Tất. Lão khóc vì triều đình nhà Trần, vì hai chữ “Đông A” lão ôm ấp từ thuở trai trẻ, giờ tự tay giết chết người trung thành nhất của nó. Chòm râu bạc ướt sũng, dính bết vào cằm, run lẩy bẩy. Lão trông giống một ông già vừa bị trời đánh sập.

Ngân đứng ở cửa hang, ôm lấy vai Thúy, mắt đỏ hoe nhưng không khóc. Nàng nhìn người chú quỳ gục, nhìn Bá Liêm gào rống, nhìn đám đinh tráng ngơ ngác, lòng dấy lên nỗi xót xa khó tả.

*****

Tiếng khóc than của Bá Liêm, tiếng mưa rơi xối xả ngoài sân, tiếng tụng kinh trong hang - tất cả đột ngột trôi tuột đi, lùng bùng và xa xăm như vọng lại từ kiếp khác.

Dị Nhân đứng trân trân giữa hang. Mắt chàng nhìn xuống vũng nước máu của Hải đang loang lẫn bùn non đen ngòm dưới mũi giày. Chậu nước vỡ nát dưới chân, mảnh sành ngổn ngang, nước thảo dược pha máu chảy tràn theo khe đá, rỉ ra ngoài sân, hòa vào mưa.

Cái lạnh thấu xương không đến từ mưa rừng sương muối. Nó dâng lên từ bên trong, từ một sự sáng suốt đến rợn người. Chàng nhớ lại khuôn mặt uy nghi của Đặng Tất trong trướng lạnh ngày nào. Lưỡi kiếm kề dưới gót chân chàng, giọng lão quốc công vẫn còn vang vọng. Chàng đã cúi đầu, đã chấp nhận bài học ấy, đã tự nguyện buộc Trường Yên vào cỗ xe lớn tên là đại cục. Chàng tin rằng ấy là con đường sống cho Đại Việt.

Nhưng chàng lầm rồi.

Bàn cờ này vốn dĩ không có phép tắc. Nó bị giật dây bởi cơn hoang tưởng của kẻ ngồi trên ngai vàng. Đặng Tất anh minh một đời nhưng ngờ đâu chính ông rốt cuộc cũng chỉ là một con tốt thí cho ván cờ đa nghi của kẻ khoác áo long bào.

Chàng đảo mắt nhìn ra sân. Lá cờ lụa đỏ thêu mấy chữ vàng ngày hôm qua còn là bùa hộ mệnh thiêng liêng, nay trong mắt chàng lại trở nên tầm thường đến lạ. Mấy chục mạng anh em đã chết dưới chân nó sáng nay; vị vua mà nó phụng thờ thì đang giết hại công thần.

Ánh mắt chàng dần sáng trở lại, lạnh ngắt, sắc bén. Chàng từ từ ngẩng đầu, bước gót giày giẫm thẳng qua vũng bùn máu, sải bước ra sân đình nơi ngọn cờ “Phù Trần Diệt Minh” đang tả tơi trong mưa gió.

Chàng đứng trước cột cờ. Mưa quất ràn rạt vào mặt, vào tấm lụa điều trên vai, vào lá cờ đỏ rách bươm đang phấp phới. Dưới chân cột, máu đám đinh tráng đã bị mưa rửa trôi, chỉ còn vệt sẫm loang lổ trên nền gạch và mấy mảnh vải rách dính tóc. Phải chăng chàng đã chọn sai con đường? Đại Việt có còn hy vọng nào không?

Dị Nhân nhìn lá cờ một lúc rồi buồn bã quay vào bên trong.

Hy vọng ngày mai trời có thể đẹp hơn.

 

Trường Yên máu nhuộm ngọn cờ,

Hài nhi thoát chết giữa bờ tử sinh.

Ngờ đâu chúa giết trung trinh,

Phù Trần cờ rách, bóng hình vỡ tan.

-  Hết Hồi Năm -

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px