Hồi 5 - Thượng
HỒI NĂM
Bước qua vũng máu chông chênh,
Đưa thân hứng trọn mũi tên quân thù.
Mặc cờ rách nát sương mù,
Lấy thân bọc trẻ, giã từ hư danh.
Đầu năm Kỷ Sửu.
Đầm lầy Tràng An chìm trong sương mù đặc quánh và cái rét căm căm của tiết xuân phương Bắc. Gió bấc luồn qua từng khe đá mang theo mùi rêu ẩm, mùi tro nguội từ những đống lửa trại đã tắt, và thứ mùi tanh nhè nhẹ của bùn non ướt sũng. Buổi sáng ở Tràng An bao giờ cũng bắt đầu bằng tiếng nước nhỏ giọt từ nhũ đá, tong tong đều đặn, vọng vào vách hang nghe buồn thảm vô cùng.
Trong khu vực Động Sóc, ngọn lửa trại nổ lách tách, hắt ánh sáng vàng vọt lên vách đá vôi loang lổ vệt nước. Dị Nhân ngồi lầm lì trên phiến đá, dùng vải thô nhúng mỡ trâu lau lưỡi đoản đao. Mùi mỡ nồng nặc xông lên, trộn lẫn mùi sắt gỉ và mùi máu khô còn sót lại trên vỏ bao da. Chàng lau từng đường dài chậm rãi, mắt nhìn xuống lưỡi thép nhưng đầu óc ở nơi khác. Chàng đang nhẩm lại phiên kỳ xe lương giặc Minh mà Khoa mang về hôm qua, tính toán xem phục kích ở khúc nào dọc bờ sông Đại Hoàng là thuận lợi nhất.
Cạnh chàng, chậu than hoa rực lửa tỏa hơi nóng, nhưng cái lạnh của đá vôi vẫn thấm qua lớp chiếu cói mỏng, buốt thấu xương sống. Dị Nhân đã quen với cái lạnh ấy. Cả năm qua, chàng sống trong hang đá, ngủ trên đá, ăn cơm gạo đỏ trộn củ mài, uống nước suối rỉ từ khe nứt. Da mặt chàng sạm đi vì nắng gió và thiếu ngủ, lông mày rậm chau lại thành nếp nhăn cố hữu, khiến chàng trông già hơn tuổi thật rất nhiều.
Tiếng bước chân lạo xạo ngoài cửa hang. Dị Nhân ngẩng đầu, tay siết chặt chuôi đao theo thói. Ánh mắt chàng thu hẹp, quét qua lớp sương mù ở cửa hang. Rồi chàng khựng lại, nhận ra bóng hình quen thuộc đã lâu không gặp.
Trần Thị Ngân bước qua màn sương.
Nàng mặc chiếc áo giao lĩnh củ nâu giản dị, vải đã sờn mỏng ở khuỷu tay, gấu quần lấm lem bùn đất từ mấy ngày đường. Mái tóc dài buộc hờ bằng dải lụa mỏng, vài sợi tóc con lòa xòa bám vào trán ướt mồ hôi. Khuôn mặt nàng gầy hơn ngày cưới, xương gò má nhô cao hơn, hai hốc mắt trũng sâu vì thiếu ngủ và lo âu. Nhưng đôi mắt vẫn y như ngày nào, phẳng lặng như mặt nước giếng khơi. Vừa nhìn thấy Dị Nhân, hốc mắt nàng đỏ hoe, nước lấp lánh ở viền mi. Nhưng nàng không khóc. Nàng mỉm cười, nụ cười của người đàn bà đã đi qua ngàn dặm để trở về đúng chỗ.
Dị Nhân buông thõng thanh đao, miếng vải thấm mỡ rơi xuống phiến đá. Chàng đứng dậy, lóng ngóng, bàn tay chai sần cứ xoắn lấy vạt áo. Chàng khựng lại, lồng ngực đập thình thịch. Rồi chàng sải bước tới, vươn đôi bàn tay to bè đan chặt lấy đôi bàn tay lạnh buốt của nàng. Hơi ấm truyền qua kẽ tay, chậm rãi, nóng bỏng. Ánh mắt hai người găm vào nhau, thay cho ngàn lời. Nàng không hỏi chàng đã sống ra sao suốt mấy tháng qua, không hỏi bao nhiêu trận đánh, bao nhiêu vết sẹo mới. Nàng chỉ nhìn. Và chàng cũng chỉ nắm tay nàng, siết chặt, như sợ buông ra thì người trước mặt sẽ tan vào sương mù.
Từ phía sau, tiếng ho húng hắng vang lên, kéo theo tiếng cười khà khà sảng khoái:
“Thôi thôi, hai đứa bây định nhìn nhau đến bao giờ? Lão già này đi đường xa mỏi nhừ cả gối, có ai cho một chén nước ấm để thấm giọng không?”
Trần Nguyên Thúy xách tay nải bạc màu, phe phẩy vạt áo bước vào. Lão vận áo giao lĩnh chàm cũ sờn vai, tóc bạc trắng búi gọn bằng chiếc trâm gỗ, chòm râu phất phơ trong gió lùa. Ánh mắt lão nheo lại trêu chọc, khiến gò má Ngân ửng hồng, khẽ rút tay lại.
Dị Nhân vội mời lão ngồi xuống bên đống lửa, tự tay rót bát nước lá vối nóng hổi từ cái ấm sành sứt vòi. Nước vối trong vắt, thoang thoảng mùi lá khô, bốc hơi nghi ngút. Chàng nhìn Thúy, rồi nhìn Ngân, giọng trầm ấm:
“Thúy thúc... hai người đi đâu suốt ngần ấy thời gian?”
Lão Thúy nhấp ngụm nước, chậm rãi, vẻ mặt trầm ngâm. Bàn tay gầy guộc ôm bát nước cho ấm, chép miệng rằng:
“Lão phu cùng với Ngân nhi bôn tẩu khắp nơi, nay đây mai đó. Rồi một hôm, hay tin lão bằng hữu Đỗ Sán đã qua đời, còn Dị Nhân cậu đứng ra dựng cờ khởi nghĩa.”
Lão ngừng lại, nhìn thẳng vào Dị Nhân.
“Chính Ngân nhi đã thuyết phục ta dẫn nó về gặp cậu. Ta cũng tán đồng với nó nên mới ngày đêm dắt nhau về làng Gạo thăm dò tình hình. Thằng giặc Trương Sung bức ép người bên dưới ghê gớm lắm! Chúng nó đánh đập bà con xóm làng dã man, nhằm moi ra thông tin vị trí nghĩa quân. Lão cùng với Ngân nhi cũng suýt bị bắt nhưng may mắn được vài huynh đệ nghĩa quân ứng cứu. Khi nhận ra lão phu cùng với Ngân nhi, họ đã đích thân dẫn chúng ta lên đây, để cả nhà có thể đoàn tụ.”
Dị Nhân rủ mắt, bàn tay siết chặt thành nắm đấm trên đầu gối. Chàng im lặng hồi lâu. Rồi chàng gật đầu, giọng khàn khàn:
“Ngần ấy tháng ngày, con không một đêm nào ngủ yên vì lo cho thúc và Ngân. Nay nỗi muộn phiền ấy đã được cởi bỏ rồi.”
Ngân đứng bên cạnh, lặng lẽ nghe. Nàng không xen vào câu chuyện của hai người đàn ông, chỉ cúi đầu đặt thêm một thanh củi vào đống lửa, ánh lửa bùng lên soi rõ khuôn mặt nàng. Gương mặt ấy ánh lên nét bình thản, kiên nghị, không một tia oán trách vì bị đưa đi xa suốt mấy tháng trời. Nàng hiểu. Nàng luôn hiểu.
Đống lửa cháy bùng, soi rõ nếp nhăn hằn trên trán Thúy. Lão nhìn đăm đăm vào ngọn lửa, giọng chùng xuống, mang âm hưởng dĩ vãng bi tráng:
“Dị Nhân này...Phụ thân cậu làm Hào trưởng, cả đời luồn cúi cũng chỉ mong đổi lấy hai chữ thái bình cho bá tánh. Cậu vung đao hôm nay, rốt cuộc cũng vì hai chữ ấy. Nhưng thái bình của lão Sán là cam chịu nhẫn nhục còn thái bình của cậu lại xây bằng máu. Hai thế hệ, hai con đường, cùng một đích đến. Nhưng cho lão già này nói một câu, nếu cậu đi không khéo thì con đường mà cậu đi sẽ không dẫn đến thái bình mà chỉ dẫn đến đau thương, khổ sở mà thôi.”
Dị Nhân ngẩng đầu, ánh mắt sắc lẹm:
“Phụ thân con dùng mạng sống mua thời gian, đó là đạo của ông ấy. Nhưng nhẫn nhục trước lũ giặc tàn bạo thì chỉ chuốc lấy họa diệt vong. Thái bình mà con muốn, là thứ thái bình bọn giặc phải tự nôn ra khi lưỡi đao Trường Yên kề tận cổ chúng.”
Thúy gật gù, vuốt chòm râu bạc. Lão đứng dậy, chắp tay sau lưng, lồng ngực gầy guộc rướn lên, một luồng tráng khí trỗi dậy:
“Thúc điệt ta mang họ Trần, dù nhánh hoàng tộc rất xa, sống cảnh thanh bần, nhưng máu Đông A vẫn chảy trong người. Ngày trẻ, lão phu từng bôn ba làm tai mắt cho triều đình, ngón nghề thám báo cũng kha khá. Rệu rã ngần này tuổi, cứ tưởng đem xương tàn giấu xuống ba tấc đất. Nay thấy cậu dựng cờ, cái máu ngựa hoang lại nổi lên rồi!”
Lão vỗ tay lên đùi, đôi mắt sáng rỡ:
“Nếu cậu không chê lão già lẩm cẩm, ngón nghề năm xưa xin đem ra giúp Trường Yên một tay!”
Dị Nhân đứng phắt dậy, chắp tay cúi đầu:
“Có Thúy thúc giúp sức, nghĩa quân Trường Yên như hổ mọc thêm cánh!”
Ngân đứng bên, nghe lão thúc phụ xin đầu quân, khóe mắt nàng chớp nhẹ. Nàng biết lão đã quá tuổi xông pha, xương cốt rệu rã, mỗi khi trở trời lại ho sù sụ. Nhưng nàng không can. Bởi nàng hiểu: với những kẻ mang máu Đông A, chết giữa trận tiền còn hơn chết mòn trong xó bếp.
Ngay lúc ấy, Phan Văn Khoa vén lớp bạt sậy ướt sũng bước vào, chiếc nón lá mê xộc xệch, mồ hôi nhễ nhại dù trời rét căm căm. Gã hớt hải:
“Chúa công! Nghe bảo có một đoàn thuyền lương lớn của phủ Kiến Bình sắp đi qua khúc sông vắng. Bọn chúng đi rất lặng lẽ, có vẻ định lén qua mặt chúng ta.”
Đôi mắt Dị Nhân lạnh ngắt. Chàng xoay người, dứt khoát:
“Gọi Phụ, Phạm tiên sinh và Bá Liêm tiên sinh chuẩn bị! Khoa dẫn đường. Thúy thúc đi cùng nhé! Chúng ta nuốt trọn ổ lương thảo này.”
Chàng quay sang nhìn Ngân. Ánh mắt sắc lạnh chợt mềm lại trong khoảnh khắc, rồi trở nên nghiêm nghị:
“Nàng mới về, khoan theo ta ra ngoài trận. Nữ tướng của ta, Trương Thị Ngọc, cũng đang luyện quân gần đây. Khí thế nữ tử của hai người khá giống nhau, có nhiều điều nàng sẽ học được ở nữ tướng ấy. Có gì Hạo đệ sẽ đi cùng nàng!”
Dị Nhân ra lệnh cho Hạo hộ tống chị dâu lên đường đến chỗ Ngọc đóng thủy trại.
Ngân gật đầu, bước tới chỉnh lại vạt áo lụa điều trên vai chàng. Tấm lụa đã sờn mép, bạc màu hơn ngày Hạo khoác lên vai anh trai trong hang đá, nhưng nàng cẩn thận vuốt cho phẳng, buộc lại nút thắt trước ngực, dịu dàng:
“Chàng đi cẩn trọng! Thiếp sẽ ở đó chờ chàng.”
Dị Nhân khẽ gật đầu. Chàng muốn nói thêm gì đó, nhưng lời nghẹn ở cuống họng. Chàng chỉ đưa tay vuốt nhẹ một sợi tóc lòa xòa trên trán nàng, rồi xoay gót.
Ngoài cửa hang đá Tràng An, Minh Hải đang dựa lưng vào vách đá, tay lăm lăm thanh trường đao sứt mẻ. Gã vừa ăn xong bát cơm gạo đỏ, bát sành còn dính mấy hạt cơm nằm vất dưới chân. Nghe tiếng bước chân Dị Nhân, gã đứng thẳng dậy, giơ tay chực cầm đao đi theo.
Dị Nhân giơ tay chặn:
“Hải đệ, chuyến này ta mang chủ lực ra sông Đại Hoàng, đệ ở lại đây cùng năm mươi huynh đệ trấn giữ nhé!”
Minh Hải thoáng cau mày. Gã không thích ở lại đằng sau trong khi anh em xông trận. Nhưng gã nuốt cơn bực, dập gót chân, vỗ tay lên lồng ngực vạm vỡ:
“Đại ca cứ đi! Có cái mạng Lý Minh Hải ở đây, quỷ thần cũng không bước qua được cổng hang!”
Dị Nhân dẫn đoàn quân khuất dần trong sương mù. Tiếng bước chân lạo xạo trên lối mòn đá vôi nhỏ dần, rồi tắt hẳn. Khu vực hang đá chìm trở lại vào im lặng, chỉ còn tiếng nước nhỏ giọt từ nhũ đá và tiếng gió rít qua khe nứt.
*
Vài canh giờ trước, tại quân doanh quân đồn trú lính Minh, Trương Sung cho triệu tập các tướng sĩ lại, gom gần bảy trăm quân còn có thể điều động, chia thành mười bốn đội, mỗi đội chừng năm mươi tên, lệnh phải đi khắp nơi, trải dài mười hai làng nhằm tìm kiếm chỗ trú ẩn của nghĩa quân Trường Yên. Đích thân Sung sẽ thống lĩnh hai đội đi lùng sục ở toàn bộ khu vực xung quanh làng Lụa vì hắn đoán quân Trường Yên có thể nằm gần đó. Toàn bộ quân đi truy lùng đều được Trương Sung cho trang bị cung tên tẩm nhựa thông, đao giáp hẳn hoi. Sau đó, hắn lại cố tình để lộ tin tức về đoàn thuyền lương sắp đi qua, cốt dụ Dị Nhân đem chủ lực rời khỏi căn cứ. Trong lúc đó, các đội quân lùng sục sẽ lần tìm nơi ẩn náu của nghĩa quân.
Những viên tướng dưới trướng chỉ biết tặc lưỡi rồi miễn cưỡng làm theo. Họ đều đã ra trận từ lâu. Có người còn từng tham chiến dưới thân phận lính tốt trong những chiến dịch dưới thời khai quốc hoàng đế Hồng Vũ. Những viên tướng như Cáp Sĩ, Ngao Thục, Hạ Hầu Giai, Điền Phú chẳng phải cũng lập nhiều chiến công sao? Vậy mà hôm nay, bọn họ đều phải nghe tên Trương Sung này sai bảo. Hắn còn đáng tuổi con cháu của một vài vị tướng trong doanh. Nếu hắn tuổi trẻ tài cao thì họ đã không nói làm gì. Đằng này, họ chỉ thấy sự điên loạn. Họ cho rằng hắn dựa vào người nghĩa phụ Trương Phụ để trèo cao chứ thật ra chẳng có tài cán gì. Do vậy, mệnh lệnh hắn đưa xuống, họ chỉ cúi đầu làm qua loa chứ cũng không toàn tâm toàn ý.
Một viên tướng tên là Cáp Sĩ nhận nhiệm vụ tìm kiếm ở khu vực xung quanh làng Gạo. Ban đầu, hắn chẳng để tâm, cùng những quân lính đi theo ăn nhậu bét nhè. Nhưng rồi, hắn sực nhớ ra cơn điên của Trương Sung mấy ngày gần đây, rồi cảnh tượng tên thông ngôn người Việt bị chặt đầu ngay giữa trướng. Cáp Sĩ bèn hối hả đốc thúc binh sĩ đi xung quanh tìm kiếm cho có lệ. Thà rằng làm việc không xong chứ nếu Trương Sung biết hắn có ý chống lệnh thì kết cục của hắn chắc cũng không khá hơn tên thông ngôn kia là bao.
Đi dò tìm trong khu rừng được một lúc thì Cáp Sĩ bỗng mắc tè, do ban nãy hắn uống hơi nhiều rượu. Hắn bèn ba chân bốn cẳng tìm chỗ để giải quyết. Nào ngờ, lớ ngớ thế nào lại ngã sõng xoài, đầu cắm xuống đất, lăn quay mấy vòng. Binh sĩ thuộc đội phải cuống cuồng chạy theo đỡ lấy.
Khi Cáp Sĩ mở mắt ra thì thấy đám lính đi cùng vây quanh. Hắn đưa mắt nhìn quanh thì nhận ra một con đường mòn mà bản thân chưa thấy bao giờ. Hắn bán tín bán nghi, nói với đám lính rằng:
“Chúng ta vừa nhặt được vàng rồi. Căn cứ lũ nghĩa quân chắc đi theo con đường mòn này là tới.”
Một tên lính hỏi:
“Vậy chúng ta có nên báo lại cho Trương đại nhân không, thưa ngài?”
Cáp Sĩ liền mắng rằng:
“Ngươi bị ngu à? Đây là thời cơ ngàn năm có một để chúng ta lập công. Sao có thể để tên đó giành mất? Lũ thảo khấu này chỉ cần vài chục người chúng ta là dư sức dẹp sạch rồi. Mau theo ta đi lên đó!”
Bọn lính dưới trướng nghe theo răm rắp, im lặng cùng nhau lần mò lên trên khu vực hang đá.
**
Lại nói, Minh Hải ngồi bên đống lửa trước cửa hang, thanh trường đao dựng sát bên người, tay bê bát cháo gạo đỏ húp xì xụp. Mùi cháo loãng trộn mùi củ mài ngai ngái. Xung quanh, mấy chục gã đinh tráng ở lại canh gác ngồi rải rác: kẻ mài đao, kẻ vá lưới, kẻ ngủ gà ngủ gật dựa lưng vào vách đá. Một mụ đàn bà - vợ lính - bế đứa con mới đẻ bí mật đến gặp chồng. Đứa bé ấy được bọc trong tấm chiếu rách thô sơ. Người đàn bà cùng chồng ngồi sưởi ấm ở góc hang, miệng lẩm nhẩm ru con.
Bình yên. Thứ bình yên giả tạo của buổi sáng sương mù, trước khi bão ập đến.