Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Từ trong đám đông, Nguyễn Phụ lầm lì bước ra. Gã không nói, cởi áo vứt xuống đất, chỉ vận chiếc khố vải thô. Thân hình khổng lồ chằng chịt sẹo lộ ra, bắp thịt cuồn cuộn như rễ cây lim cổ thụ.

Đặng Dung khẽ nhíu mày, lùi lại nửa bước, thận trọng hơn.

Phụ rống lên, lao xồ tới như tảng đá lở. Hai tay hộ pháp vươn ra toan tóm cạp khố đối phương nhấc bổng. Đặng Dung chùng gối, hạ thế đứng, hai chân bấm chặt xuống bùn thành thế trung bình tấn, luồn tay qua nách Phụ khóa chặt sườn.

Bốp!

Hai thân thể va vào nhau khô khốc. Lực lao tới của Phụ đẩy Đặng Dung trượt đi một đoạn dài, cày nát hai luống bùn, nhưng gã dã nhân không sao nhấc bổng được viên tướng.

Bị khóa sườn, Phụ điên tiết gồng gân cốt, chuyển sang tóm bả vai Đặng Dung, dùng toàn bộ thân hình đè xuống. Đặng Dung thấy sống lưng như bị ghì chặt bởi cối đá ngàn cân nhưng không hề hoảng loạn. Chờ đúng nhịp Phụ hít vào để dồn lực, Dung đột ngột nới tay khóa, nghiêng người đưa chân chèn sau khoeo chân trái Phụ, vai hất bổng thế trụ.

Nhưng Phụ là thợ săn, không phải đô vật. Ngay khi mất thăng bằng, gã theo thói ôm rịt lấy eo Đặng Dung, ghì chặt cả hai vào nhau. Nếu gã ngã, gã sẽ kéo luôn đối phương xuống cùng.

Cả hai khựng lại giữa tư thế nửa đứng nửa đổ. Chân Dung ngáng chặt khoeo chân Phụ, vòng tay Phụ siết chặt eo Dung. Bùn dính bết lên tóc, trét đầy mặt mũi. Thớ cơ trên lưng cả hai giật bần bật vì gồng quá sức. Hơi nóng hầm hập tỏa ra từ hai lớp da thịt áp sát nhau.

Cả sân bãi nín thở.

Đột nhiên Đặng Dung phì cười. Gã thả lỏng cơ, rút chân ngáng ra, vỗ lên bờ vai hộ pháp của Phụ:

“Khỏe lắm! Sức này vác đao xông trận, kỵ binh giặc giẫm thế nào được!”

Phụ lầm lì buông tay, đứng thẳng, miệng mỉm cười đón nhận lời khen.

Tiếng cười sảng khoái nổ ra. Cả hai bên - lính triều đình lẫn đinh tráng Trường Yên - cùng cười vang lên. Bức tường kiêu ngạo giữa hai đạo quân, trong khoảnh khắc ấy, đã phần nào sụp đổ.

*******

Tiếng cười chưa dứt, Đặng Tất sải bước tiến ra. Lão tướng rút thanh bảo kiếm, chỉ mũi xuống đất lầy, giọng uy nghiêm:

“Mãnh thú vô mưu, sớm muộn sa lưới thợ săn. Đỗ Dị Nhân, bước ra đây! Trận cuối cùng, đích thân lão phu thử ngươi. Kẻ nào bị đánh rơi binh khí trước, kẻ đó thua.”

Dị Nhân tuốt trần thanh đoản đao, hai tay nâng ngang, giọng gầm gừ:

“Dị Nhân tôi xuất thân bần hàn, chiêu thức toàn học lỏm từ phường săn bắn. Xin Quốc công chỉ giáo!”

Keng!

Tiếng kim loại va đập chát chúa xé toạc sương mù. Dị Nhân lấy sức trẻ và sự bộc phát làm thế công. Thanh đao bổ xuống mười phần lực, mang tiếng rít của gió, tàn nhẫn như cách chàng xả vào quân Minh.

Đặng Tất không lùi. Lưỡi kiếm uyển chuyển trượt dọc sống đao, gạt phăng sức nặng sang bên, đồng thời chém thốc một đường phản công vào sườn. Dị Nhân giật mình xoay cán đỡ gạt. Hai luồng lực va nhau chan chát, tóe lửa giữa màn sương.

Vừa ra đòn, Đặng Tất cất giọng sắc lạnh:

“Đường đao của ngươi ngập mùi thảo khấu! Cướp vài xe gạo, tỉa vài chục tên đồn trú, tự xưng anh hùng che chở mười hai làng? Binh pháp của ngươi đâu? Tầm nhìn của ngươi đâu?”

Dị Nhân nghiến răng, gồng tay đỡ nhát chém chẻ đầu, gằn giọng:

“Quốc công chê đao của tôi có mùi thảo khấu? Phải! Vì nó được mài bằng máu dưới bùn lầy, chứ chẳng phải bằng bổng lộc! Ngài hỏi tầm nhìn? Tầm nhìn của tôi là giữ mạng cho mười hai làng Trường Yên. Lùi một bước là đinh tráng bị phanh thây, đàn bà bị hãm hiếp. Giữ cho bá tánh bình an, là đã đủ.”

Keng!

Đặng Tất hừ lạnh. Lưỡi kiếm chớp động, đánh bật thanh đao ra xa nửa thước. Ánh mắt lão rực sáng:

“Thiển cận! Vậy lão phu hỏi ngươi: ngày mai Mộc Thạnh đem mấy vạn viện binh hợp với quân Minh tại Đông Quan kéo tới, ngươi lấy gì đỡ? Lấy đám đinh tráng này xếp thành tường thịt? Hay để cho dân chúng Trường Yên bị bọn giặc giày xéo đến chết?”

Lão bước dồn lên, mũi kiếm đâm liên hoàn ép Dị Nhân lùi sát mép sân.

“Trường Yên chỉ là một phần của Đại Việt. Những nơi khác mất đi, Trường Yên liệu giữ nổi? Kẻ làm tướng mà chỉ nhìn thấy vốc gạo dưới chân, không nhìn thấy vạn dặm giang sơn đang rỉ máu, thì dẫu sức bạt sơn cũng chỉ là tên thảo khấu vô dụng!”

Lời ấy đâm xuyên qua lớp giáp kiêu ngạo, xuyên vào tận ruột gan Dị Nhân. Chàng nhìn thấy sự thật: cướp gạo giặc chỉ là trò sinh tồn vặt vãnh. Muốn Trường Yên sống, phải hiểu thế cờ lớn của thiên hạ. Cái dao động ấy lan xuống đôi bàn tay. Đường đao chững lại.

Đặng Tất lật cổ tay. Sống kiếm đập mạnh vào hổ khẩu tay phải Dị Nhân.

Xoảng!

Thanh đao tuột khỏi bàn tay, văng xa ba thước, cắm phập xuống bùn.

Sân bãi lặng ngắt. Dị Nhân đứng thẫn thờ nhìn hai bàn tay trống trơn. Chàng thua rồi. Thua ở cả đường kiếm lẫn tầm nhìn.

Đặng Tất thu kiếm, chắp tay sau lưng, như đang chờ đợi điều gì đó.

Dị Nhân cắn chặt môi. Chàng vén vạt áo đẫm bùn, lùi một bước, rồi dứt khoát quỳ sụp cả hai gối xuống mặt đất nhão nhoét, gục đầu, giọng khàn đặc:

“Dị Nhân ếch ngồi đáy giếng, thiển cận vô tri! Quốc công dạy đúng lắm! Nếu không hiểu đại cục, Dị Nhân sớm muộn cũng đưa huynh đệ vào chỗ chết. Xin ngài khai ân, nán lại Trường Yên truyền dạy binh thư, cứu lấy đường sống cho mười hai làng!”

Chàng quỳ xong, Hạo từ trong đám đông lẳng lặng bước ra, quỳ theo. Phạm Tung bước tới, cung kính quỳ. Bên ngoài sới vật, Minh Hải, Phụ, Ngọc đồng loạt vứt vũ khí, quỳ một chân xuống bùn. Thấy vậy, Đặng Dung cũng cảm động, dẫn các tướng lĩnh Hậu Trần đồng loạt chắp tay quỳ gối hướng về Đặng Tất.

Đặng Tất đứng giữa hàng trăm con người quỳ rạp dưới màn sương lạnh. Ánh mắt uy nghiêm của lão dần dịu lại, thay bằng nụ cười hiền hậu hiếm hoi. Lão ngửa mặt lên trời, hai tay chắp lại vái về hướng Đông:

“Đức Thánh Trần ở trên cao minh xét! Dân Nam ta vẫn còn những kẻ dẫu xuất thân bùn lầy vẫn một lòng vì nước. Lão thần xin nán lại vài ngày.”

Lão bước tới, tận tay đỡ Dị Nhân đứng dậy, vỗ mạnh lên vai chàng:

“Vớt đao lên! Hôm nay lão phu dạy ngươi.”

********

Đặng Tất nán lại Trường Yên ba ngày.

Trong trướng, lão trải bản đồ lụa ra mặt kỷ gỗ, dùng cán bút chỉ từng vị trí, dạy Dị Nhân, Hạo và Phạm Tung nhìn cuộc chiến từ trên cao: tuyến vận lương của giặc Minh,các chỗ sơ hở của đám đồn trú, cách phối hợp với các cánh quân Hậu Trần ở phương Nam. Lão chỉ ra chỗ khuyết của Trường Yên: giỏi phục kích nhưng không biết bày trận, có lòng dũng mà thiếu mưu lược.

Phạm Tung ngồi phe phẩy quạt mo, gật gù liên tục, đôi mắt sáng rỡ. Hạo ngồi bên cạnh, lặng lẽ ghi chép, từng nét bút mảnh mai nhưng nhanh và chính xác.

Ngoài sân bùn, Đặng Dung lội xuống sình, hướng dẫn Minh Hải, Phụ và Ngọc thế mạnh yếu của từng người. Gã dạy Hải cách kìm nén cơn giận để tận dụng sức mạnh bộc phát đúng lúc. Dạy Phụ cách biến sức khỏe hoang dã thành sức đánh có bài có bản. Dạy Ngọc cách dùng thuyền nan phối hợp với bộ binh trên bờ.

Đặng Dung truyền lại quy tắc của quân chính quy, giọng sắc lạnh:

“Thằng đi trước nát thây, thằng đi sau bước lên trám chỗ. Chiến trận không có chỗ cho nước mắt. Ai khóc, ai run, ai lùi…Chém!”

Khi cả bọn đang nghỉ trưa, Minh Hải vẫn một mình luyện đao ngoài bãi. Đặng Dung bước tới, đứng nhìn một lúc rồi hỏi:

“Huynh có gì khuất tất với quân Trần bọn ta sao?”

Minh Hải dừng đao, nhìn về phía những toán quân Hậu Trần đang nghỉ dưới chân núi, giọng lạnh ngắt:

“Trong đám lính của ngươi có những kẻ từng là quân nhà Hồ, từng có mặt ở Đa Bang. Khi cổng phía tây đóng sập, chúng bỏ mặc năm ngàn huynh đệ cùng ba vạn dân ở bên ngoài. Ta hận bọn chúng!”

Đặng Dung không vội khuyên giải. Chàng quay đầu, gọi hai người lính đang đứng cách đó không xa:

“Nguyễn Sầm, Phạm Cự! Hai người lại đây.”

Hai người lính bước tới. Nguyễn Sầm đã ngoài bốn mươi, trên má có một vết sẹo dài. Phạm Cự trẻ hơn, một bên cánh tay còn hằn vết bỏng do hỏa khí. Vừa trông thấy Minh Hải, cả hai đều sững lại.

Nguyễn Sầm cúi đầu, cất giọng khàn khàn:

“Lý tướng quân, năm ấy tiểu nhân giữ một lớp lũy phía trong ở mặt tây thành. Phạm Cự theo đội tượng binh. Chúng tôi quả thật đã bỏ chạy khi thành vỡ, nhưng có chuyện này phải nói rõ: chưa từng có quân lệnh nào truyền xuống rằng phải lấy năm ngàn quân cùng ba vạn dân làm bia cho hoàng tộc tháo chạy.”

Minh Hải trợn mắt, bàn tay siết chặt chuôi đao:

“Ta tận mắt nhìn thấy cổng đóng trước mặt! Huynh đệ ta kêu gào đến khản cổ mà bên trong không một ai mở!”

Nguyễn Sầm quỳ xuống, nhưng vẫn ngẩng đầu nhìn thẳng vào Hải:

“Cổng đóng là thật. Quân ngoài lũy bị bỏ lại cũng là thật. Nhưng hôm ấy hiệu lệnh trong ngoài đã đứt đoạn. Quân Minh bám sát những toán quân đang rút, người trong thành sợ chúng tràn theo nên đóng cổng. Tiểu nhân không biết ai ra lệnh, cũng không dám nói quyết định ấy là đúng. Chỉ biết sau khi cổng đóng, quân trong thành vẫn tiếp tục giao chiến chứ không lập tức mở đường cho hoàng tộc chạy trốn.”

Phạm Cự bước lên, giọng run run:

“Đội tượng binh của chúng tôi còn được lệnh xông ra phản kích. Quân Minh dùng hỏa khí làm voi hoảng loạn, quay lại giẫm vỡ đội hình. Khi ấy thành mới thực sự tan. Chúng tôi chạy trong lúc đó. Còn chuyện năm ngàn quân và ba vạn dân bị cố ý đem làm bia, chúng tôi chỉ nghe tàn binh truyền miệng sau trận, chưa từng thấy một quân lệnh như vậy.”

Minh Hải im lặng rất lâu. Những ngón tay đang nắm chuôi đao chậm rãi nới lỏng, nhưng giọng vẫn khàn đặc:

“Dù không có quân lệnh ấy, những người ngoài cổng vẫn chết. Các ngươi vẫn bỏ chạy.”

Phạm Cự cúi gằm mặt. Nguyễn Sầm dập đầu xuống đất, nói:

“Vâng. Lỗi hèn nhát ấy là của chúng tôi. Hôm nay đầu quân cho nhà Trần cũng vì muốn trở lại chiến trường, đánh giặc đến cùng để chuộc phần nào món nợ Đa Bang. Chúng tôi không dám xin Lý tướng quân quên hết, chỉ xin huynh đừng coi tất cả những người mặc giáp triều đình đều là một lũ cố ý bán mạng dân mình.”

Đêm ấy, bên đống lửa trước cửa hang Tràng An, tiệc rượu tiễn chân được bày ra. Lợn rừng quay, rượu nếp, củ mài luộc - món ăn quen thuộc của đám nghĩa quân Trường Yên. Khoa ôm cái đùi lợn, kể chuyện tiếu lâm, khiến Đặng Dung cười đến sặc rượu. Minh Hải và Đặng Dung bá vai nhau uống. Nỗi oán hận trong lòng Hải chưa tan hết, nhưng nút thắt Đa Bang đã phần nào được tháo gỡ.

Bên đống lửa, Đặng Tất ngồi cạnh Dị Nhân, tợp rượu, trầm ngâm:

“Ngươi hỏi ta vì sao tha mạng cho ngươi khi thấy dị tướng Thất Tinh?”

Lão nhìn vào lửa, giọng chùng xuống:

“Vì ta nhìn thấy trong mắt ngươi một thứ mà hàng trăm vị tướng triều đình không có: sự sợ hãi. Ngươi sợ mất mạng dân. Kẻ nào sợ mất dân hơn sợ mất ngai vàng, kẻ đó mới xứng đáng cầm đao.”

Dị Nhân im lặng, nhìn ngọn lửa.

Đặng Tất vỗ vai chàng, đứng dậy, nói rằng:

“Trận Đông Quan còn ở phía trước. Lão phu phải đi rồi. Ngươi ở lại, tiếp tục cắn vào gót chân giặc Minh. Nhớ lấy: con cáo khôn ngoan không bao giờ đánh nhau với bầy sói, nó chỉ chờ bầy sói kiệt sức rồi mới ngoạm. Kiên nhẫn, Dị Nhân!”

Dị Nhân đứng dậy, chắp tay cúi đầu:

“Dị Nhân xin khắc cốt ghi tâm!”

Sáng hôm sau, đại quân Hậu Trần nhổ trại hành quân, cờ quạt kéo dài tận chân trời. Dị Nhân đứng trên mỏm đá vôi nhìn theo, tà áo lụa điều phấp phới trong gió đông. Chàng nhìn theo cho đến khi bóng ngọn cờ chữ “Trần” cuối cùng mất hút trong sương mù.

Hạo đứng bên cạnh, tay cầm cuốn sổ chứa đầy ghi chép về những bài giảng của Đặng Tất, giọng đều đều:

“Quốc công dạy hay. Nhưng đại ca có nhận ra không? Lão ấy dạy chúng ta binh pháp, cũng là để chúng ta chắn mũi cho lão ấy. Trường Yên án ngữ đường huyết mạch giặc Minh, ta cắn trộm càng giỏi, đại quân lão ấy càng dễ đánh. Lão ấy ban ơn, cũng là đang tính toán.”

Dị Nhân quay sang nhìn em trai, cười xòa rồi lắc đầu nói:

“Đệ đừng nghĩ như vậy! Lão tướng quân có ơn sâu nặng với chúng ta lắm đó!”

Rồi chàng quay lại nhìn về phía hang đá Tràng An, nơi đội nghĩa binh đang đứng chờ. Chàng hít một hơi sâu, giắt chặt thanh đoản đao, bước xuống núi.

Cuối năm Mậu Tý, đại quân Hậu Trần đi qua Trường Yên như cơn gió lớn. Khi gió tạnh, nghĩa quân mười hai làng nhặt được thứ quý giá hơn vàng bạc: Dị Nhân phần nào học được cách nhìn cuộc chiến từ trên cao.

Nhưng ở phía xa, trận Bô Cô đang chờ. Và sau chiến thắng lẫy lừng ấy, số mệnh của lão Quốc công cũng đã gần tới hồi kết. Không ai ở Trường Yên biết rằng, đó là lần cuối cùng họ được nhìn thấy Quốc công Đặng Tất.

*********

Ở doanh trại quân đồn trú của Trương Sung, mọi thứ đang rất căng thẳng. Ngày nào trong quân doanh cũng có tiếng đồ đạc bị đập phá.

Trương Sung vô cùng tức giận vì phần lớn quân đội của hắn ta đã bị điều đến các chiến trường lớn, ngay cả quân lương lẽ ra hắn được hưởng cũng phải chuyển đi gấp theo lệnh điều động từ Đông Quan. Dù phải miễn cưỡng tuân lệnh nhưng bên trong, Trương Sung không hề cam tâm. Hắn nhận Trương Phụ làm nghĩa phụ cũng vì muốn kiến công lập nghiệp, tạo nên danh tiếng. Nay khó khăn lắm mới được quản lý một đội quân nhưng liên tục bị điều đi. Hắn cảm thấy bản thân đang bị thách thức. Hắn muốn xả cơn giận này, và còn chỗ nào để xả giận tốt hơn đám nghĩa quân Trường Yên.

Sáng hôm nọ, Trương Sung triệu tập các tướng sĩ vào trướng nghị sự. Tên thông ngôn người Việt đứng hầu bên cạnh.

Trương Sung bảo với các tướng rằng:

“Quân ta dạo gần đây thường xuyên bị quấy nhiễu bởi bọn thảo khấu tự xưng là nghĩa quân Trường Yên. Lương thảo thì cạn kiệt. Quân đội thì bị điều đi. Các ngươi thấy mấy chuyện này có vấn đề gì không? Các ngươi không thấy bị thách thức à?”

Các tướng dưới quyền không ai dám lên tiếng. Họ đều biết rằng Trương Sung đang cay cú vì chuyện không đáng. Bổn phận của họ chỉ là quân lính đồn trú, đảm bảo mười hai làng nằm trong tầm kiểm soát là đã hoàn thành tốt nhiệm vụ rồi.

Trương Sung thấy vậy liền cầm thanh đao gần đó, chém mạnh xuống bàn, quát lớn:

“Các ngươi không đặt câu hỏi sao? Tại sao lũ thảo khấu đó lại hành động đúng lúc như vậy? Lão tử đoán bọn chúng có nội gián bên trong quân trướng này!”

Lời kết luận của Trương Sung khiến các tướng ngồi dưới toát mồ hôi lạnh. Họ không hiểu sao kẻ này lại điên đến mức nghĩ rằng trong quân đội chính quy của Minh triều lại có kẻ chịu làm nội gián cho lũ giặc cỏ địa phương. Ngay cả tên thông ngôn kia cũng chỉ được triệu đến mỗi khi cần thông dịch và tuyệt đối không được lại gần lều trại mỗi khi bàn chiến sự. Hắn ta cũng luôn bị giám sát và canh chừng, đảm bảo không nghe ngóng được bất kỳ điều gì bên trong quân trướng. Nhưng có điều lạ, sao hôm nay họp bàn chiến sự, hắn ta lại xuất hiện ở đây?

Các tướng còn đang bối rối thì Trương Sung đã chỉ thẳng vào tên thông ngôn người Việt mà gầm lên:

“Kẻ này chính là gian tế!”

Rồi ngay lập tức, hắn cầm thanh đao chém chết tên thông ngôn, cắt lấy thủ cấp rồi đưa lên cho chúng tướng sĩ, tuyên bố rằng:

“Hôm nay, lão tử giết thằng gian tế này như một lời tuyên bố đanh thép: lũ Nam Man và người Thiên triều tuyệt đối không đội trời chung. Lão tử trước tiên sẽ quét sạch lũ giặc cỏ bản địa, rồi sau đó sẽ truy diệt tận gốc lũ Nam Man. Các ngươi có theo bổn tướng quân hay không?”

Cả doanh trướng đều kinh sợ mà quỳ xuống tuân theo. Họ nhìn nhau đầy e ngại, không đoán được tên điên này sẽ làm gì tiếp theo.

Trường Yên sắp đón một cơn cuồng phong bão táp…

Quân Trần qua đất Trường Yên,

Thảo binh bừng tỉnh, kết liên tướng tài.

Binh thư mưu lược dồi mài,

Lấy mưu cắt mạch, chí dài diệt Minh.

- Hết hồi bốn -

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px