Hồi 4 - Thượng
HỒI BỐN
Giáp mây rợp lối Trường Yên,
Hờn xưa trĩu nặng, dấy lên sóng ngầm.
Sới bùn gột rửa mê lầm,
Lùi đao một bước, tỏ tầm cờ cao.
Cuối năm Mậu Tý.
Đại quân Hậu Trần do Quốc công Đặng Tất chỉ huy hành quân ngang Trường Yên, tiến ra Bắc đánh Đông Đô. Hàng vạn quân chính quy kéo dài thành một dải dọc đường cái quan, cờ quạt rợp trời, giáp mây sáng loáng, vó ngựa rền vang. Bụi đất tung mù mịt phủ kín cả một khúc sông.
Từ trên mỏm đá vôi ướt sũng sương lạnh, Nguyễn Phụ và Lý Minh Hải nằm bẹp bụng quan sát. Phía dưới, lính Hậu Trần răm rắp theo hàng lối, mũi thương sáng lóe, cờ hiệu chữ “Trần” phất phới trong gió đông. Khác xa với đám nghĩa binh áo vải rách rưới của mười hai làng, đây là đội quân thực thụ: có đội ngũ, có trống chiêng, có kỵ binh tiền đạo.
Phụ vuốt dọc lưỡi đao, ậm ừ:
“Giáp trụ thẳng thớm. Bọn chúng khác hẳn đám đồn trú nhãi nhép. Đánh chính diện, hơn năm trăm huynh đệ Trường Yên chưa tới nửa nén nhang là bị giẫm thành cám.”
Minh Hải khoanh tay bên cạnh. Đôi mắt gã lạnh lẽo găm chặt vào ngọn cờ chữ “Trần” đang tung bay. Gã nhổ toẹt bãi nước bọt xuống vũng bùn:
“Giáp sáng thì che được sự hèn nhát sao?”
Phụ quay sang, nhíu mày:
“Sao ngươi hằn học thế? Bọn chúng vác cờ đi đánh giặc Minh cơ mà.”
Minh Hải bóp chặt chuôi trường đao, đốt ngón tay trắng bệch. Giọng gã nghẹn đi, đứt quãng:
“Triều đình nào cơ? Nhìn kỹ đi! Trong đám quân dưới kia có những kẻ năm ngoái còn mặc áo nhà Hồ ở Đa Bang. Năm nay, chúng thay cờ đổi chủ, khoác lên tấm áo nhà Trần, lại tiếp tục hô hào nghĩa lớn.”
Gã hít một hơi sâu, lồng ngực đầy sẹo phập phồng:
“Ngọn cờ kia bốc mùi tởm lợm chẳng khác gì ngọn cờ ở Đa Bang năm xưa. Bọn chúng khoác áo đạo lý, ăn lúa gạo của dân, nhưng khi dân cần mạng chúng che chắn, chúng đẩy dân ra làm bia đỡ tên.”
Phụ im lặng.
Cả hai tiếp tục im lặng quan sát, nghĩ rằng nơi đang ẩn nấp có thể che mắt được quân bên dưới. Nhưng kỵ binh tiên phong của Đặng Dung không dễ qua mặt. Ngay chiều hôm ấy, Hải và Phụ bị tóm gọn.
Tin truyền về hang đá. Dị Nhân bèn giắt đao, dẫn Hạo và Phạm Tung đến gặp Đặng Tất.
*
Lại nói, vài canh giờ trước, Dị Nhân và Phạm Tung ngồi đàm đạo trong ánh nến lập lòe khi mặt trời còn chưa lên.
Ở một ngách hang sâu tít, tĩnh lặng và ráo nước hơn, Đỗ Dị Nhân và Phạm Tung ngồi đối diện nhau qua một phiến đá vôi phẳng lì.
Phạm Tung không còn vẻ say xỉn lôi thôi của ngày đầu gặp mặt. Lão thầy đồ gầy gò nhặt một khúc củi cháy dở từ đống lửa, lầm lỳ vạch những đường đen sì, thô ráp lên mặt phiến đá. Bụi than rơi lả tả theo từng nét gạch dứt khoát.
“Nhìn cho kỹ!”
Phạm Tung gõ khúc củi xuống tảng đá.
“Bàn cờ của Đại Việt lúc này đây.”
Dị Nhân rướn người tới, ánh lửa bập bùng hắt lên khuôn mặt góc cạnh. Chàng nhìn vào những đường vạch ngoệch ngoạc nhưng cực kỳ rành mạch của lão quân sư.
Phạm Tung khoanh một vòng tròn lớn ở phía Bắc, rồi kéo một đường thẳng tắp dội thẳng xuống phía Nam.
“Đại quân Hậu Trần đang từ Nghệ An kéo ra Bắc. Quân Minh ở Đông Quan muốn chặn bước tiến ấy, tất phải điều quân, vận chuyển lương thảo và khí giới xuống phía nam. Một phần những đoàn quân viện và xe lương ấy sẽ phải qua những đường quan, bến sông quanh Đại Hoàng và Tam Điệp. Trường Yên không thể bóp chết toàn bộ đường tiếp tế của chúng, nhưng có thể cắt từng chuyến lương, phá từng trạm gác, buộc chúng phải chia quân bảo vệ.”
Dị Nhân nhíu mày, trầm ngâm:
“Nếu chúng phải rút bớt quân về phương Nam, vậy Trường Yên ta hành động lúc này chẳng phải sẽ dễ dàng hơn sao?”
Mắt Dị Nhân sáng bừng. Chàng gật gù:
“Hóa ra, chúng ta không cần lao đầu đi tìm đại quân giặc. Chỉ cần chờ những chuyến lương của chúng đi qua cửa nhà mình.”
Phạm Tung khẽ gật đầu:
“Vào ngày đầu gặp nhau, lão phu đã gợi cho Chúa công chút ít. Tuy vậy, hôm nay lão phu buộc phải nói cho Chúa công tỏ tường. Quân binh chúng ta đã đông hơn trước nhiều, không thể cứ đánh vặt mãi, phải có phép tắc dùng binh nhất quán.”
Rồi lão mưu sĩ vứt khúc củi than đi, xoa hai bàn tay lấm lem vào nhau, rít lên từng chữ lạnh buốt:
“Huynh đệ Trường Yên không thể dàn quân ra đánh chính diện được. Chúa công đưa cái lưng trần ra đỡ mũi giáo của đại quân Minh là ngu dốt. Phép đánh của chúng ta cốt nằm ở sáu chữ: Tránh ngọn giáo, cắt mạch máu!”
Dị Nhân chống hai tay lên phiến đá, hỏi rành rọt:
“Cắt bằng cách nào?”
Phạm Tung giơ ba ngón tay xương xẩu lên:
“Kẻ thù của Chúa công không phải là đại quân chủ lực của nhà Minh. Kẻ thù của Chúa công là những mắt xích đang nuôi sống đám giặc đó. Thứ nhất: Các đội tải lương và cướp bóc. Bọn chúng chở gạo trên sông Đại Hoàng và đường cái quan. Đây là những miếng mồi béo bở nhất.”
Phạm Tung gập một ngón tay xuống, nói tiếp:
“Thứ hai: Vệ binh đồn trú ở các trạm dịch dưới trướng Trương Sung. Quân Minh đã rải các trạm dọc đường để giữ lương thảo. Mỗi trạm chỉ có vài chục đến một trăm tên. Hiện nay, khi phần lớn binh lực bị điều đi đối phó với quân Hậu Trần, số quân ở các trạm sẽ còn giảm mạnh hơn nữa. Chúng ta sẽ dùng sức mạnh trâu bò của Nguyễn Phụ, thoắt ẩn thoắt hiện nhờ cái địa hình đầm lầy sương độc này. Cứ canh nửa đêm mà xé xác chúng nó, đánh xong lập tức lặn xuống bùn. Làm cho bọn đồn trú ăn không ngon, ngủ không yên, nghe tiếng ếch kêu cũng tưởng là đao phủ gọi hồn.”
Phạm Tung gập ngón tay thứ hai, mắt bỗng trầm xuống khi nhắc đến ngón tay cuối cùng:
“Và thứ ba... Ngụy quân. Mưu kế thâm độc nhất của nhà Minh là bắt người Nam đánh người Nam. Sẽ có những kẻ cùng máu mủ với chúng ta, vì miếng cơm manh áo, vì sợ chết mà cầm giáo dẫn đường cho giặc. Bọn chúng rành đường đất hơn giặc Minh. Đối phó với đám này, không chỉ dùng đao, mà phải dùng cái đầu lạnh, đánh vào lòng dạ, đập nát cái ý chí làm chó săn của chúng.”
Ngọn lửa trong hang réo lên một tiếng lách tách.
Đỗ Dị Nhân đứng thẳng người dậy.Tấm lụa điều trên vai chàng khẽ rung lên. Chàng nhìn xuống bản đồ củi than, nhe răng cười lạnh.
“Ta phải công nhận quân Minh là một đối thủ đáng gờm...”
Dị Nhân rút đoản đao ra, dùng sống đao gõ nhẹ lên vệt than đánh dấu dòng sông Đại Hoàng:
“... Nhưng một con quái vật to xác đến mấy, nếu bị đám ruồi muỗi thay nhau đục khoét, hút cạn máu ở cuống rốn, thì sớm muộn gì cũng phải quỵ ngã.”
Cả hai còn đang bàn tính thì bỗng dưng một đinh tráng hớt hải chạy vào, báo rằng Nguyễn Phụ và Lý Minh Hải đã bị quân Hậu Trần tóm được, buộc Dị Nhân và mọi người phải tức khắc lên đường đến gặp Quốc công Đặng Tất.
**
Trướng chỉ huy của Đặng Tất dựng giữa bãi đất bằng ven sông, bốn phía giáo mây cắm san sát. Lính hộ vệ đứng nghiêm như trụ đá. Mùi dầu tùng xông từ đuốc lớn tỏa ra nồng nặc, trộn lẫn mùi da ngựa ướt và mùi sắt gỉ.
Đỗ Dị Nhân bước vào. Chàng vẫn mặc bộ áo giao lĩnh củ nâu lấm lem bùn, thanh đoản đao dắt ngang hông, đôi hài vải dính đầy bùn đất. Giữa trướng chỉ huy sáng trưng đèn đuốc, giáp mây lấp lánh, sự lôi thôi của chàng lộ liễu như một vệt mực trên tờ giấy trắng.
Quốc công Đặng Tất ngồi trên chiếc kỷ gỗ mộc phía trong. Lão tướng quân ngoài năm mươi, râu tóc pha sương, vận bộ chiến bào sẫm màu, lưng thẳng tắp dù tuổi đã cao. Khuôn mặt lão hằn sâu nếp nhăn của mấy chục năm trận mạc, đôi mắt sắc như ưng, chỉ liếc qua một cái đã nhìn thấu người đối diện. Phía sau lão, thanh bảo kiếm treo trên giá gỗ, lưỡi kiếm sáng loáng phản chiếu ánh đuốc.
Đặng Dung - con trai Đặng Tất, tiểu tướng tiên phong, đứng chắp tay bên trái. Vị tướng quân thần thái trầm tĩnh, ánh mắt phẳng lặng, thân hình gân guốc săn chắc trong bộ giáp mây.
Đặng Tất nhìn Dị Nhân từ đầu đến chân, khẽ nhíu mày:
“Ngươi là Đỗ Dị Nhân, Phòng Ngự Sứ Trường Yên? Nghe đồn cả vùng Trường Yên này tôn ngươi làm anh hùng? Nghe bảo ngươi cũng đánh thắng quân Minh vài trận…”
Dị Nhân đứng thẳng, chàng không cúi đầu nhưng giọng giữ phép:
“Bẩm Quốc công, Dị Nhân tôi chỉ là tên thảo dân giữ làng. Chiến công vặt vãnh, không dám xưng anh hùng.”
Đặng Tất gật gù, giọng lạnh:
“Biết vặt vãnh là tốt. Vì quả thật nó rất vặt vãnh.”
Lão gõ ngón tay lên mặt kỷ gỗ:
“Ngươi cướp ba xe gạo, Trương Sung chở thêm ba mươi xe. Ngươi tỉa mười tên tuần tra, hắn điều thêm trăm. Đám quân cắn trộm của ngươi cắn được vào gót chân con voi, con voi gãi một cái, kiến chết sạch. Ngươi hiểu chưa?”
Dị Nhân nắm chặt tay bên thân, hàm răng nghiến lại. Chàng muốn cãi lại, nhưng lời Đặng Tất đúng quá, đúng đến mức chàng không mở miệng nổi.
Đặng Tất chợt đổi giọng, ôn tồn hơn:
“Tháo hài ra đi! Quân trướng của lão phu trải chiếu sạch. Ngươi vào thì bỏ hài ra!”
Dị Nhân ngần ngừ, rồi cúi xuống tháo đôi hài vải. Bùn khô rơi lả tả xuống nền chiếu. Bàn chân trái chàng lộ ra, trắng ngần dưới ánh đuốc.
Đặng Tất liếc xuống. Ánh mắt lão đông cứng lại. Trên lòng bàn chân trái của Dị Nhân, bảy nốt ruồi đỏ chót xếp thành hình vòng cung sắc lẹm hiện rõ mồn một.
Không gian trong trướng đặc quánh lại.
Đặng Tất từ từ đứng dậy. Không một lời, lão bước tới giá gỗ, rút phắt thanh bảo kiếm. Lưỡi thép nguội sáng lạnh trong ánh đuốc. Lão quay lại, kề phần sống kiếm lên gót chân Dị Nhân, mặt lạnh đá.
Dị Nhân cứng đờ. Chàng cảm nhận sức nặng của thép nguội đè lên da thịt, lạnh buốt xuyên vào xương. Bốn tên giáp sĩ hộ vệ đồng loạt rút gươm. Đặng Dung đặt tay lên chuôi kiếm, mắt nhìn Dị Nhân không chớp.
“Thất tinh đạp địa.”
Giọng Đặng Tất trầm như tiếng chuông đồng:
“Dị tướng này, số mệnh không nhỏ đâu.”
Dị Nhân không run. Chàng nhìn thẳng vào mắt Đặng Tất, giọng khàn đặc:
“Tôi sinh ra đã mang dị tướng này, phụ thân tôi giấu kín hai mươi lăm năm. Tôi không có tham vọng đế vương chi hết. Tôi chỉ muốn giữ mạng cho mười hai làng Trường Yên.”
Đặng Tất im lặng, lưỡi kiếm vẫn kề trên gót chân. Một khắc trôi qua dài như cả đời người.
Rồi lão thu kiếm, tra vào vỏ, quay lưng ngồi lại chiếc kỷ gỗ. Giọng lão đanh thép:
“Đại Việt đang cần một con dã thú cắn xé giặc Minh. Lão phu tha mạng ngươi vì nước, chứ không phải vì ngươi xứng đáng. Nhưng nghe rõ đây: nếu ngày nào đó ngươi dùng dị tướng này mà làm phản, đích thân lão phu sẽ dẫn quân lấy mạng. Lão phu hỏi ngươi: Ngươi có chịu ra sức phù Trần diệt Minh hay không?”
Ánh mắt Dị Nhân lóe lên tia sáng. Chàng bèn quỳ xuống, thưa rằng:
“Phụ thân tôi bị bọn giặc Minh hại chết. Phu thê tôi bị bọn giặc Minh chia cắt. Làng xóm tôi bị bọn giặc Minh tàn phá. Nhà Trần phong cho tôi làm Trường Yên Phòng Ngự Sứ. Đấy là ơn sâu mà tôi phải báo đáp. Nay vận nước lâm nguy, tôi nguyện ra sức khuyển mã phù Trần diệt Minh, vừa báo ơn nước, vừa trả thù nhà!”
Đặng Tất gật đầu hài lòng, nói:
“Hai tên huynh đệ của ngươi, ta sẽ thả ra. Dặn chúng lần sau muốn do thám thì phải trau dồi kỹ năng nhiều hơn. Còn nữa, nếu ngươi đồng ý thì hãy đem một số huynh đệ Trường Yên xuống đây. Sáng mai, lão phu sẽ coi họ như thế nào. Dù gì cũng cùng chống giặc Minh, biết nhau càng kỹ thì sẽ càng yên lòng mà đánh trận hơn.”
Dị Nhân gật đầu tuân mệnh.
***
Trong suốt cuộc đối thoại ấy, Đỗ Hạo đứng ngoài trướng, nép mình vào bóng tối sau tấm màn vải.
Qua khe hở, đôi mắt trong vắt, tĩnh lặng của Hạo thu trọn khung cảnh bên trong: bảy bước từ cửa trướng đến chỗ Dị Nhân, bốn tên giáp sĩ rút gươm, một thanh kiếm kề dưới gót chân anh trai. Y tính nhanh trong đầu. Bảy bước. Bốn tên lính. Một thanh gươm. Kết cục chỉ có bất lực. Y chấp nhận điều đó ngay tức khắc.
Ánh mắt Hạo lướt từ lưỡi kiếm sáng loáng, sang khuôn mặt uy nghi đầy chính khí của Đặng Tất, rồi dừng lại ở bờ vai đang căng cứng của Dị Nhân. Một kẻ có hàng trăm người nghe theo hiệu lệnh nay lại quỳ gối trước một lão tướng già. Vì sao? Vì hai chữ “nghĩa lớn”. Vì cái gông cùm vô hình tên là “Phù Trần”.
Hạo mỉm cười. Ánh giễu cợt xẹt qua đáy mắt y.
Rồi Hạo lẩm bẩm, nhấm nháp vị tanh của sương lạnh trên môi:
“Hóa ra đây là cách ván cờ thiên hạ xoay vần. Thứ kề dưới gót chân đại ca không chỉ là sắt thép, mà là hai chữ nghĩa lớn. Lão già kia dùng cái bóng của vương triều Trần, dùng sinh mạng bá tánh đúc thành gông cùm, khóa chặt nghĩa quân Trường Yên lại. Bóp nghẹt yết hầu người khác mà vẫn giữ bộ mặt quân tử.”
Theo Hạo nhận thấy, Dị Nhân có sức mạnh, có lòng bao dung, nhưng tự trói mình vào đạo đức và sĩ diện của kẻ làm tướng. Người đại ca này vẫn là quân cờ bị kẻ khác dùng nghĩa lớn sai khiến.
“Người ta dùng đạo lý đe dọa được anh hùng,” Hạo từ từ lùi vào bóng tối, để màn sương nuốt chửng khuôn mặt nhợt nhạt. “Nhưng không ai dùng đạo lý đe dọa nổi kẻ vô sỉ.”
Y nhe răng cười mỏng rồi quay gót, bước đi không một tiếng động, mất hút trong sương.
****
Ngày hôm sau, xung đột nổ ra giữa hai đạo quân.
Lính Hậu Trần coi thường đám nghĩa binh rách rưới của Trường Yên, buông lời chê bai thảo khấu hạ lưu. Đám đinh tráng mười hai làng máu nóng hơn lửa, vác gậy tre ra đòi ẩu đả. Minh Hải khoanh tay đứng nhìn, mắt lạnh tanh, chẳng thèm can ngăn.
Đặng Tất sải bước ra giữa sân bãi, mắt quét qua hai đám người đang sừng sộ nhau, giọng lạnh tanh:
“Đám thảo khấu vô kỷ cương! Lão phu nhổ trại!”
Dị Nhân vội vã bước ra. Chàng gạt đám đinh tráng sang bên, đứng chắn trước mặt Đặng Tất, cắn răng nuốt sĩ diện, cất giọng trầm đục:
“Quốc công nán bước! Dị Nhân biết quân Trường Yên chưa có quy củ, xin ngài khai ân chỉ dạy binh pháp cho chúng tiểu nhân. Quốc công muốn thế nào, Dị Nhân cũng xin tuân lệnh.”
Đặng Tất nhìn chàng, im lặng một lúc. Rồi lão khẽ gật đầu, quay sang Đặng Dung:
“Dung nhi, bày sới vật. Quân Trường Yên đánh ngã được người của ta, ta sẽ nán lại.”
Giữa bãi đất nện lầy lội sau cơn mưa sương, sới vật được quây tròn bằng hai hàng giáo mây. Hai tên lính tiên phong Hậu Trần cởi bỏ giáp phục, đóng khố bước ra. Bọn họ bắp thịt săn chắc, thế đứng trung bình tấn vững chãi, ra đòn có nhịp điệu rõ ràng.
Hai gã đinh tráng Trường Yên - một trong số ít to khỏe nhất - lao vào sới như thú hoang đói khát. Kẻ bốc bùn ném vào mắt đối thủ, kẻ ngã lăn xuống bùn luồn qua háng dùng đòn kéo khóa gập đầu gối, kẻ húc thẳng đầu trần vào bụng đối phương. Chỉ nửa tuần trà, hai tên lính chính quy bị vật ngã chỏng gọng, mặt cắm ngập bùn non.
Đám đinh tráng mười hai làng gõ cán giáo rào rào, hú hét điên cuồng.
Nhưng niềm kiêu hãnh ấy không kéo dài quá mười nhịp thở.
Đặng Dung lẳng lặng cởi áo choàng, lột giáp mây, bước gót chân trần xuống vũng bùn. Ánh mắt viên tướng phẳng lặng, tuyệt nhiên không có lấy một tia phẫn nộ. Sân bãi tự động im bặt.
Hai gã đinh tráng to con nhất Trường Yên, mình trát đầy bùn trơn, gầm lên lao cùng lúc từ hai phía kẹp chặt Đặng Dung. Nhưng khi gã bên trái vừa vồ ngang hông, Đặng Dung lách vai, tay miết dọc cổ tay đối phương, mượn đà lao để xoay người, chân trái tung đòn ngáng vào gót chân trụ. Gã thứ nhất trượt dài trên bùn. Gã thứ hai chưa kịp đổi thế, Đặng Dung đã hạ thấp thế đứng, luồn nách tóm cạp khố, tung đòn bốc sườn nhấc bổng quật úp xuống bùn.
Chưa đầy mười cái chớp mắt, hai kẻ tự hào nhất của Trường Yên nằm bẹp dí. Đặng Dung đứng thẳng, nhịp thở vẫn đều, bùn tuyệt nhiên không văng quá bắp đùi.
Sự im lặng bao trùm. Tiếng reo hò của đám đinh tráng như bị ai bóp nghẹt.
*****
Lý Minh Hải nghiến răng ken két, cởi phăng áo, bước ra sới. Lồng ngực chằng chịt sẹo để trần, đôi mắt hằn tia máu. Với gã, những kẻ khoác giáp sáng loáng của triều đình chẳng khác bọn đã bỏ rơi gã ở Đa Bang. Gã muốn mượn sới vật giáng cho sự kiêu hãnh nhà Trần một vố lấm bùn.
Đặng Dung vẫn đứng giữa sới, ánh mắt phẳng lặng nhìn gã võ tướng đang sôi máu bước tới.
Không đợi hiệu lệnh, Hải gầm lên, đạp chân lao thẳng tới. Bùn bắn tung tóe. Gã giương đôi cánh tay vạm vỡ, toan ôm ngang hông Đặng Dung húc ngã. Tốc độ cực nhanh, mang theo toàn bộ sức nặng của con trâu điên.
Đặng Dung không đỡ. Ngay khoảnh khắc bả vai Hải sắp đâm sầm vào bụng, gã khẽ trượt chân phải sang ngang nửa bước, thân hình lách qua. Cú vồ của Hải trượt vào khoảng không, mất thế, lao chúi về phía trước. Tay trái Đặng Dung vươn ra tóm cổ tay Hải, miết mạnh; tay phải đánh thốc vào gáy ép đầu gã chúi hẳn xuống. Chân quét ngang mắt cá chân đang chới với.
Rầm! Minh Hải ngã úp mặt xuống vũng bùn non. Nước bùn văng tung tóe lên tận hàng đầu tiên. Toàn bộ đinh tráng Trường Yên chết lặng.
Hải sặc bùn, lồm cồm định bò dậy. Đặng Dung đứng thẳng, ném một cái nhìn lạnh nhạt:
“Ngươi mang quá nhiều cảm xúc vào sới vật, tự biến mình thành con trâu mù. Ngươi mà để cơn giận dắt mũi, dù sức dời non lấp bể, ra trận cũng chỉ làm bia thịt cho cung nỏ giặc Minh.”
Hải nghiến răng, đấm mạnh xuống bùn. Gã không cãi nổi nửa lời.