Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Ba ngày sau, hoàng hôn buông xuống, đầm lầy Tràng An đặc quánh sương mù.

Đúng như Phạm Tung dự tính, một toán lính Minh năm chục tên đã lén Trương Sung, bí mật mò vào tận bãi lau sậy lõi đầm, đao gươm loảng xoảng, đuốc sáng rực. Chúng chém phá rừng sậy, đốt lều, xới tung từng gốc cây.

Nguyễn Phụ bị đánh thức dậy giữa giấc ngủ. Gã dã nhân cao hơn người thường cả một cái đầu, cởi trần, toàn thân lông lá, ngực lưng đầy sẹo thú cào xước ngang xước dọc. Mái tóc dài rối bù, râu ria xồm xoàm, đôi mắt hoang dại như mắt gấu ngựa. Gã gầm rống lao ra, hai tay không bẻ gãy cổ một tên lính như bẻ cành củi khô, rồi giật lấy thanh giáo mây, vung loạn xạ, đâm gục thêm hai tên nữa.

Nhưng năm chục cây nỏ bắn cùng lúc. Hai mũi tên cắm phập vào bắp đùi và vai gã, máu rỉ ra ướt đẫm. Toán giặc rút giáo, khép dần vòng vây, định đâm nát thây gã thợ săn. Nguyễn Phụ lùi lại, gót chân chạm mép bùn lún, cắn răng chuẩn bị cho cái chết.

Vút! Vút! Vút!

Từ trong bụi rậm, ba mũi tên tẩm nhựa sui phóng ra, găm phập vào cổ ba tên lính đi đầu. Bọn chúng trợn mắt, sùi bọt mép, gục xuống bùn.

Dị Nhân vạch đám sậy bước ra, theo sau là Minh Hải và bảy mươi đinh tráng. Ngay lập tức, chàng rút đao, nhảy thẳng xuống vũng bùn ngập đến bắp chân, đứng quay lưng lại với Nguyễn Phụ, chắn giữa gã dã nhân và bầy giặc.

“Giết sạch cho ta!”

Chưa tàn nửa nén nhang, dưới sức tàn phá của Minh Hải và lưỡi đao của Dị Nhân, toán lính Minh bị chém gục không còn một mống. Máu giặc hòa vào bùn non, tanh tưởi.

Trận chiến dứt. Dị Nhân vuốt vệt máu trên má, tra đao vào vỏ, quay lại nhìn Nguyễn Phụ.

Gã dã nhân tự tay bẻ gãy cán hai mũi tên trên người, đôi mắt hoang dại lừ lừ nhìn Dị Nhân, cất giọng ồ ề như tiếng đá mài:

“Tại sao ngươi lại cứu ta?”

Gã giơ mũi giáo gãy chĩa thẳng vào ngực Dị Nhân:

“Ngươi có ý đồ gì?”

Minh Hải nổi đóa, chực bước lên. Dị Nhân giơ tay cản. Chàng bình thản trả lời:

 “Tôi là Đỗ Dị Nhân, hay còn được biết đến là Đỗ Động chủ hay Trường Yên Phòng Ngự Sứ. Chúng tôi đã phất cờ khởi nghĩa chống lại quân Minh, cố giành lại những ngày tháng thái bình cho bá tánh. Nãy huynh đã hỏi ta, giờ ta xin hỏi lại: Huynh có phải người Việt không?”

Nguyễn Phụ trả lời ngắn gọn:

“Phải.”

Dị Nhân bèn tiếp:

“Đây là lúc nước nhà lâm nguy. Ta biết huynh coi thiên nhiên là nhà nhưng thiên nhiên huynh đang sống chính là thiên nhiên của nước Nam, của người Việt. Nếu huynh cứ làm ngơ trước thế sự thì ta e rằng sớm muộn gì căn nhà này của huynh cũng bị lũ chó lợn kia phá nát. Chẳng phải hôm nay chính là một ví dụ hay sao?”

Chàng nhìn thẳng vào mắt Phụ, nói:

“Một mình huynh không thể bảo vệ được khu đầm lầy này. Hãy để chúng ta cùng bảo vệ nó với huynh! Nguyễn huynh, xin huynh hãy góp sức, cùng bọn ta đánh phá lũ giặc Minh tàn bạo!”

Phụ nhổ toẹt ngụm máu xuống sình, cười gằn:

“Ta là dã nhân, coi rừng rậm là nhà. Triều đình nhà Trần, nhà Hồ hay nhà Minh cai trị cái đất này, ta không quan tâm.”

Dị Nhân tiến lên một bước. Mũi giáo đâm nhẹ vào lớp áo củ nâu rỉ máu. Chàng gằn giọng:

“Huynh hãy nhìn cho kỹ đám người đứng sau lưng tôi đi!”

Chàng chỉ tay về phía Minh Hải và đám đinh tráng rách rưới:

“Bọn họ là nông dân mất đất mất nhà, là tàn quân bị triều đình vứt bỏ. Nếu không có đầm lầy Tràng An che chở, tháng sau tất cả sẽ bị Trương Sung truy quét, vợ con bị bắt làm nô lệ.”

Rồi chàng lại nhìn thẳng vào mắt Phụ, giọng hạ thấp:

“Huynh bảo huynh không quan tâm ai cai trị? Vậy tôi hỏi huynh: khi giặc Minh chặt hết cây rừng đóng thuyền, tát cạn đầm lầy dựng đồn lính, cái bãi săn của huynh có còn chỗ cho huynh trốn không?”

Dị Nhân vươn bàn tay đầy chai sạn, nắm chặt lưỡi giáo của Phụ, mặc máu từ lòng bàn tay tứa ra:

“Tôi không bắt huynh làm bầy tôi. Tôi gọi huynh là huynh đệ. Huynh góp sức vì Trường Yên. Đổi lại, bất cứ mũi tên nào bắn về phía huynh, tấm lưng tôi sẽ đỡ thay. Giao kèo sòng phẳng. Được không?”

Nguyễn Phụ nhìn bàn tay đang rỉ máu của Dị Nhân, nhìn cách chàng đứng chắn trước mặt khi giặc lao tới. Gã thở hắt một hơi dài, nới tay, rút mũi giáo lại, rồi cắm phập xuống bùn.

Bàn tay to bè lem luốc của gã nắm lấy bàn tay rỉ máu của Dị Nhân, xiết chặt.

Phụ khẽ nhún người, cất giọng khàn đục:

“Từ nay, Phụ ta nguyện ra sức cho Đỗ Dị Nhân, nguyện ra sức vì Trường Yên!”

Dị Nhân nhìn gã mỉm cười, khẽ gật đầu.

****

Nguyễn Phụ đi trước, vóc dáng khổng lồ lầm lũi rẽ những vạt sậy sắc như dao. Theo sau gã là Dị Nhân, Phạm Tung, Minh Hải và vài chục đinh tráng tiên phong.

Bọn họ lội lõm bõm qua một dải sình lầy đặc quánh mùi chướng khí. Phạm Tung ho sù sụ, vạt áo the ướt sũng, hai gã đinh tráng phải xốc nách lão lên mới khỏi chìm. Rồi họ ép mình chui lọt qua một ngách hang đá vôi ngập nước lút đến tận ngực, nước lạnh buốt xương, đen ngòm không thấy đáy. Bên trong hang tối om, tiếng nước nhỏ giọt từ nhũ đá rỏ tong tong vang vọng âm u. Hơi lạnh từ đá tỏa ra phả vào mặt, lẫn mùi rêu ẩm và mùi đất sét ướt.

“Tới rồi!”

Tiếng ồ ề của Nguyễn Phụ vang lên phía trước.

Dị Nhân lách qua phiến đá chắn ngang cửa hang cuối cùng. Chàng chợt dừng bước.

Không gian mở toang. Mọi sự ngột ngạt, tối tăm và mùi tử khí của khói lửa binh đao bên ngoài như bị lột sạch đi. Trước mắt chàng là một thung lũng nước khép kín, rộng bát ngát, được bao bọc tứ bề bởi những ngọn núi đá vôi sừng sững, đỉnh nhọn hoắt chĩa thẳng lên vòm trời. Mây trắng vờn quanh đỉnh núi tựa những dải lụa quấn lấy xương sống trời đất.

Bên dưới, mặt nước phẳng lặng như một tấm gương đồng, xanh ngắt một màu lục bảo. Nước trong vắt, nhìn thấy từng đàn cá nhỏ tung tăng dưới lớp rêu xanh mềm mại. Dọc hai bờ, cây cổ thụ mọc bám chênh vênh vào vách đá vôi, thả những chùm rễ dài rườm rà rủ xuống mặt nước. Chim hót ríu rít. Bầy vượn chuyền cành xôn xao. Không khí tinh khiết, thơm mùi lá mục ủ ấm, khác hẳn cái mùi tử khí đang bao trùm Đại Việt ngoài kia.

Phạm Tung được đặt ngồi xuống tảng đá phẳng. Lão quên cả vắt vạt áo ướt sũng, mở to mắt nhìn quanh, lẩm bẩm:

“Trời đất ơi... Đường vào thắt cổ chai, chỉ lọt một người một thuyền. Nhưng bên trong lại rộng đủ giấu hàng ngàn quân.”

Ánh mắt lão chuyển từ kinh ngạc sang sắc lẹm. Lão vung quạt mo chỉ vòng quanh vách núi dựng đứng:

“Chúa công nhìn xem! Vách đá thẳng đứng vươn mây, khỉ vượn còn khó trèo, kỵ binh giặc Minh dẫu mọc cánh cũng không vượt nổi. Mặt nước sâu mà tĩnh, giấu chiến thuyền là tuyệt hảo. Nơi này là thiên la địa võng, cái thế đất trời đúc sẵn ban cho Trường Yên!”

Minh Hải cắm trường đao xuống bãi cỏ mềm, hít một hơi thật sâu không khí tinh khiết, bật cười khùng khục:

“Mẹ kiếp, chỗ này mà chôn xác giặc Minh thì sướng phải biết!”

Giữa sự hân hoan, Dị Nhân vẫn đứng im. Chàng nhìn bóng mình in trên mặt nước lục bảo tĩnh lặng, bàn tay chai sạn vuốt lên lớp rêu phong trên vách đá lạnh toát. Mạch đập của núi non như truyền vào huyết quản.

Chàng xoay người, tà áo lụa điều tung bay giữa nền xanh nước biếc:

“Từ hôm nay, nơi này sẽ được gọi là động Sóc. Nghĩa quân Trường Yên sẽ lấy nơi này làm đại bản doanh.”

Sau ngày hôm đó, hệ thống hang động núi đá của vùng Trường Yên đã được kết nối và khám phá đầy đủ. Nghĩa quân Trường Yên đóng quân trên núi Bắc của vùng Trường Yên, có ba lớp phòng thủ chính, tương ứng với ba hang động. Ở ngoài cùng chính là hang đá vôi Tràng An, kết nối trực tiếp với núi Bắc, trước cửa hang cắm vững ngọn cờ “Phù Trần Diệt Minh”. Sau đó, phải kể đến vùng đầm lầy Tràng An với hang Hùm nằm ngay kế bên. Cuối cùng, chính là phần lõi của nơi đây, động Sóc - đại bản doanh của toàn bộ nghĩa quân.

*****

Nửa tháng sau khi dời vào động Sóc, nghĩa quân Trường Yên bắt đầu ra quân cướp lương.

Trận đầu tiên nhắm vào đoàn xe lương của giặc Minh đi trên đường quan dưới chân Tam Điệp - đúng phiên kỳ mà Khoa đã báo cáo. Phạm Tung bày trận, Minh Hải và Nguyễn Phụ dẫn quân mai phục, Khoa và Hạo dò đường. Trận thắng giòn giã: ba xe gạo, hai bao muối, bốn thanh gươm và mấy chục bộ giáp rơi vào tay nghĩa quân. Nhưng liền sau đó, quân đồn trú nhà Minh tăng cường tuần tra gấp đôi, thêm kỵ binh canh giữ đường cái quan.

Rồi vận rủi ập đến. Một buổi hoàng hôn, Dị Nhân dẫn Minh Hải và hơn ba chục đinh tráng đi dò đường ven sông, bị một toán lính đồn trú sáu chục tên phát hiện, truy đuổi gắt gao. Giặc lùa nghĩa quân ra sát mép sông Đại Hoàng. Phía trước là dòng nước xiết cuồn cuộn, phía sau là hàng rào giáo mây của sáu chục tên giặc đang khép vòng vây. Mũi tên trong bao đã cạn. Minh Hải gầm gừ, siết chặt trường đao, sẵn sàng tử chiến.

Đúng lúc viên chỉ huy giặc vung kiếm ra lệnh xông lên, từ trong rặng sậy um tùm ven sông, ba chiếc thuyền nan bọc da trâu đen ngòm lặng lẽ vút ra như bóng ma.

Vút! Vút! Vút!

Hàng chục mũi lao bằng tre ngà vót nhọn, bọc mũi sắt, phóng lên bờ với sức xuyên kinh hồn. Sáu bảy tên lính Minh đi đầu bị xuyên thủng giáp, ngã gục xuống bùn kêu la thảm thiết. Toán giặc hoảng loạn, vội lùi lại nấp sau tảng đá.

Trên mũi chiếc thuyền đi đầu, một người đàn bà đứng sừng sững. Nàng khoác áo tơi lá cọ ướt sũng, mái tóc búi tó bằng một thanh tre cộc tuếch. Dáng người mảnh nhưng cứng cáp, bả vai rộng hơn đàn bà thường. Hai bàn tay chai sần vì kéo lưới nắm chặt ngọn lao cán dài, đôi mắt lạnh lẽo sắc bén như loài chim ưng săn mồi. Nàng ấy là Trương Thị Ngọc.

Nàng phóng thêm một mũi lao, ghim chặt một tên lính Minh vào thân cây sú vẹt, rồi hất hàm nhìn đám người tả tơi trên bờ:

“Lên thuyền! Mau!”

Dị Nhân ra lệnh cho đinh tráng nhảy xuống thuyền rút lui. Chàng đi sau cùng, lưng quay về hướng đồng đội, thanh đao tuốt trần lóe sáng trong ánh hoàng hôn. Sau đó, thuyền nan rẽ sóng lao đi, mũi tên giặc phóng theo cắm lộp bộp xuống mặt nước nhưng đã ra ngoài tầm tên.

Thuyền đỗ lại ở một bãi lau khuất nẻo cách đó nửa dặm. Dị Nhân bước lên bờ, nhìn Trương Thị Ngọc một lúc.

Minh Hải híp mắt nhìn những mũi lao găm trên xác lính Minh, khẽ chép miệng:

“Lao tre bọc mũi sắt, đồ nhà binh của thủy quân nhà Hồ. Các ngươi là ai?”

Ngọc cắm phập ngọn lao xuống sàn thuyền, hất hàm:

“Mắt mũi khá lắm! Phụ thân ta từng là một võ quan thủy quân nhà Hồ, coi một đội chiến thuyền trấn giữ cửa sông này. Khi Đa Bang vỡ, đại quân bỏ chạy. Phụ thân ta ở lại chặn thuyền giặc rồi chết chìm dưới đáy sông Đại Hoàng.”

Giọng nàng khô khốc, không run, không nghẹn, như thể đã kể chuyện này hàng trăm lần cho đến khi nỗi đau thành sẹo:

“Ta thu nhặt tàn quân, gộp với những huynh đệ dân chài, lập ra một cõi riêng trên mặt nước.”

Rồi Ngọc nhìn thẳng vào Dị Nhân, liếc tấm lụa điều trên vai chàng:

“Ta biết ngươi chính là Đỗ Dị Nhân, kẻ đang gom đinh tráng Trường Yên chống giặc. Đám huynh đệ của ta rất thạo sông nước, cướp được nhiều thuyền lương của giặc, nhưng không có đất cắm dùi. Giặc Minh giăng trạm gác dọc bờ, chúng ta không thể lên bờ mua muối, hái rau hay giấu thuyền được nữa. Sớm muộn cũng chết rục trên sông.”

Nàng dứt khoát nói rằng:

“Ngươi có người, có đất, nhưng thiếu lương thảo. Ta có thuyền, có cách cướp gạo trên sông, nhưng cần bến đỗ. Từ nay, nước sông không phạm nước giếng. Ta và ngươi kết minh. Ngươi giữ trên bờ, ta giữ dưới sông. Gạo cướp được cưa đôi. Thấy sao?”

Dị Nhân bước lên phía trước, mũi giày lún sâu vào bùn non:

“Một con rắn hai đầu, khi đói, tự cắn xé chính mình. Ở trong hang bọn tôi vẫn còn khá nhiều lương thực. Tôi thấy, người đang ở vị trí cần được giúp đỡ không phải là bọn tôi, mà là bọn cô.”

Ngọc nhíu mày, tay nắm chặt cán lao:

“Ngươi đang đứng ở mép chết mà ăn nói ngông cuồng? Ngươi quên khi nãy ai đã cứu ngươi rồi sao?”

Dị Nhân thản nhiên rút từ trong ngực áo ra tờ sắc phong, giũ mạnh. Ấn triện đỏ chót lóe lên dưới ánh hoàng hôn:

“Ơn cứu mạng của cô, tôi đời này không quên. Nhưng hãy nhìn xem! Tôi đang cầm sắc phong Trường Yên Phòng Ngự Sứ. Theo tôi, cô và người của mình sẽ trở thành nghĩa binh danh chính ngôn thuận. Phía sau rặng núi kia là mê cung hang động ngập nước, nơi thiết kỵ và thuyền lớn của giặc không thể vào. Đó là bến đỗ tuyệt hảo để giấu thuyền.”

Rồi chàng nhìn Ngọc, ôn tồn nói:

“Nếu cô không đồng ý thì tôi vẫn sẽ hậu tạ bằng bất cứ thứ gì cô muốn nhưng bến đỗ thì tôi không thể cung cấp được. Nếu cô chịu theo tôi, toàn bộ thuyền bè và quân sĩ trên sông của Trường Yên sẽ giao cho cô thống lĩnh. Sau này gặp được triều đình, tôi sẽ tấu xin ban cho cô một chức võ quan chính thức. Vậy ý cô ra sao?”

Gió sông rít qua rặng sậy. Ngọc cắn chặt môi, nhìn vệt máu trên áo Dị Nhân, rồi nhìn đám thủy thủ rách rưới đói lả của mình. Nàng nhận ra sự khác biệt: nàng chỉ là thủ lĩnh của đám người trôi sông mong tìm đường sống, còn gã đàn ông trên bờ kia mới mang khí thế của kẻ dựng cơ đồ.

Nàng dứt khoát rút ngọn lao khỏi sàn gỗ, ném văng xuống dòng nước xiết. Rồi nàng nhảy xuống lớp bùn, bước thẳng tới trước mặt Dị Nhân, quỳ một chân, chắp hai bàn tay chai sần:

“Tàn quân Đa Bang, dân chài Đại Hoàng... từ nay giao phó sinh mạng cho Phòng Ngự Sứ đại nhân!”

Dị Nhân vươn tay đỡ nàng đứng dậy, giọng ngắn gọn:

“Cứ gọi huynh là đại ca! Để huynh giúp muội dọn sạch đám giặc trên bờ.”

******

Đêm tháng Giêng, trăng tròn vành vạnh treo giữa hai đỉnh núi đá vôi, hắt ánh bạc xuống mặt nước hồ phẳng lặng. Trước khoảng sân đất nện rộng rãi trước cửa hang chính, đống lửa lớn được đốt lên, sáng rực, xua đi cái lạnh buốt xương của đầm lầy.

Dị Nhân bày bữa tiệc nhỏ thiết đãi những kẻ đã quyết ý theo chàng vào sinh ra tử. Gọi là tiệc, nhưng trên chiếc chiếu cói sờn rách chỉ có hai con lợn rừng quay sém cạnh, vài rổ củ mài luộc và mấy vò rượu nếp đục ngầu cướp được từ trạm dịch giặc.

Quanh đống lửa, một đám ô hợp kỳ lạ nhất trần gian ngồi xếp bằng: Minh Hải cởi trần, tay xé thịt lợn nhai ngấu nghiến, mỡ chảy ròng ròng xuống cằm. Nguyễn Phụ lầm lì ngồi khuất trong bóng tối, gặm một khúc xương ống to tướng, mắt lừ lừ nhìn lửa. Trương Thị Ngọc vắt chéo chân, dùng con dao găm gọt củ mài. Phạm Tung và Bá Liêm ngồi khoanh chân, chậm rãi nhấp rượu, cốt cách thư sinh. Phan Văn Khoa đội chiếc nón lá mê xộc xệch, miệng nhai nhồm nhoàm, tay ôm khư khư cái đùi lợn bóng nhẫy mỡ.

Ngồi bên phải Dị Nhân là Hạo. Y mặc áo giao lĩnh lụa xám tươm tất, tuyệt nhiên không động tay vào miếng thịt bóng mỡ. Hạo chỉ cầm chén trà nhỏ, đôi mắt trong vắt nhưng lạnh lẽo đảo qua từng khuôn mặt quanh đống lửa.

Đang lúc hơi men bốc lên, Khoa lảo đảo đứng dậy, khua khúc xương trước mặt mọi người, hắng giọng rõ to rồi toét miệng cười:

“Chư vị! Nghe thằng ăn mày này nói một câu!”

Gã đảo mắt một vòng. “Ta nhìn cái chiếu này, thấy buồn cười quá! Một lão hủ nho” - gã chỉ Bá Liêm - “một gã thầy đồ” - chỉ Phạm Tung - “một gã trôi sông lạc chợ” - chỉ Minh Hải - “một tên dã nhân rừng rú” - chỉ Phụ - “một mụ chằn tinh nanh nọc” - chỉ Ngọc.

Ngọc phóng con dao găm cắm phập xuống chiếu ngay sát ngón chân Khoa, lườm cháy mặt:

“Tên kia, có tin ta khâu mồm ngươi lại không?”

Khoa nhảy lò cò né dao, mặt vẫn nhăn nhở nhưng giọng chợt trầm xuống:

“Khâu mồm ta thì lấy ai chọc cười cho các vị? Nhưng nói thật, chúng ta xuất thân khác nhau, giờ gom một chỗ, nếu không có gì buộc chặt, nay cãi cọ mai đâm chém... chưa đợi thiết kỵ quân Minh tới, đã tự luộc nhau mà ăn rồi!”

Gã đi quanh đống lửa, đôi mắt ti hí bỗng lóe lên sắc sảo:

“Các vị có nhớ chuyện xưa không? Ta hay ngồi xin ăn ở mấy quán nước nên được nghe các cụ kể rất nhiều. Vua quan nhà Lý có Hội thề Đồng Cổ. Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo chỉ tay xuống sông Hóa thề rằng trận này không phá xong giặc Thát thì không về qua bến sông này nữa. Người xưa có đền đài, có ấn tín để thề. Chúng ta ở đây chỉ có đầm lầy, vách đá mà thôi.”

Gã dừng lại, ném khúc xương vào đống lửa, lửa bắn lên lách tách. Gã quay sang nhìn thẳng Dị Nhân, giơ bát rượu:

“Tiểu nhân là dân hạ lưu. Tiểu nhân chỉ sợ lúc bị giặc chặt đầu, nhìn sang trái sang phải không có huynh đệ nào quen mặt để rủ uống rượu dưới âm phủ. Hôm nay trăng sáng, thịt thơm... tại sao chúng ta không cắt máu ăn thề, mượn vách núi này làm chứng? Cùng Đỗ Động chủ kết nghĩa huynh đệ, kết thành một bó, sống chết có nhau?”

Đống lửa nổ lép bép. Lời gã ăn mày tuy bỗ bã, cợt nhả, nhưng chạm trúng vào khao khát sâu thẳm nhất của đám người bơ vơ giữa thời loạn: Một mái nhà để về.

Minh Hải ném miếng thịt xuống mẹt, vỗ đùi rằng:

“Nói phải! Ta ưng!”

Bá Liêm vuốt râu, đùa rằng:

“Nếu vậy thì lão phu sẽ là lão đại ca rồi.”

Phạm Tung gật gù nói:

“Theo lão phu thấy, để tránh rắc rối thứ bậc thì tất cả đều là huynh đệ thân hữu của nhau, cùng tôn Dị Nhân làm người đứng đầu duy nhất. Và toàn thể huynh đệ nghĩa quân Trường Yên, thông qua lời thề này, cũng chính thức trở thành những chiến binh chiến đấu vì nghĩa lớn, là huynh đệ sống chết có nhau. Vậy là ổn thỏa rồi!”

Ngọc rút dao găm, khảng khái nói:

“Ngọc này tán đồng với ý của Phạm tiên sinh.”

Phụ lầm lì bê vò rượu đặt cạch ra giữa chiếu, đầu gật gù tán thành.

Hải, Bá Liêm và Khoa cũng nâng chén lên thể hiện sự đồng tình.

Tất cả nhìn về phía Dị Nhân.

Chàng chậm rãi đứng dậy, tà áo lụa điều bay phấp phới trong gió đêm. Chàng bước tới giữa chiếu, rút thanh đoản đao, cứa một nhát sắc lẹm vào lòng bàn tay trái. Máu tươi rỉ ra. Chàng nắm chặt tay, để máu nhỏ tong tong vào vò rượu nếp.

Hạo đứng phắt dậy. Y không dùng đao. Y rút chiếc trâm cài tóc, đâm sâu vào đầu ngón tay trỏ, bóp mạnh cho máu rỏ xuống vò rượu, giọng lạnh nhạt:

“Máu họ Đỗ, xưa nay chảy chung một mạch.”

Minh Hải, Phụ, Ngọc, Phạm Tung, Bá Liêm, Khoa lần lượt bước tới. Những lưỡi dao xẹt qua tay. Máu của võ tướng, dã nhân, thư sinh, dân chài, thầy đồ, nhà nho và kẻ ăn mày hòa chung vào một vò rượu đục ngầu.

Dị Nhân tự tay rót rượu máu ra từng bát sành, đưa cho từng người. Khi tất cả nâng bát ngang mày, chàng hướng mặt về phía ngọn cờ “Phù Trần Diệt Minh” cắm trước cửa hang, cất giọng trầm đục vang vọng vách núi:

“Trời cao không có mắt, để cẩu tặc phương Bắc giày xéo nước Nam. Xã tắc lầm than. Chúng ta ngồi đây, kẻ mất nhà, người mất nước, tụ hội về nơi đây vì một lẽ duy nhất: Không cam tâm cúi đầu làm nô lệ cho ngoại bang.”

Ánh lửa hắt lên khuôn mặt góc cạnh, đôi mắt chàng rực sáng:

“Chén rượu này có máu của chư vị, cũng có máu của ta. Đỗ Dị Nhân ta tài hèn sức mọn, nhưng đêm nay xin nhận lấy ngôi cao. Từ khắc này, huynh đệ ta như chân với tay, họa cùng chịu, phúc cùng hưởng. Kẻ nào quay lưng phản trắc, trời tru đất diệt! Chừng nào thanh đao Trường Yên còn vung lên, giặc Minh còn phải rơi đầu! Nước Nam ta chưa thể mất! Nguyện vì Trường Yên giành lại những năm tháng thái bình cho hậu thế! Cạn!”

“Sống cùng sống, chết cùng chết! Cạn!”

Tám bát sành dốc ngược. Rượu cay xè hòa vị mặn chát của máu chảy tràn xuống cổ họng. Rồi tám chiếc bát đồng loạt quăng mạnh xuống phiến đá, vỡ tan tành. Thanh âm vỡ vụn dứt khoát, chặt đứt mọi đường lùi, vang vọng vách núi đá vôi rồi tắt dần trong đêm tĩnh lặng.

Không khí thiêng liêng vừa đẩy lên tột đỉnh thì Khoa thò cổ ra nhăn nhó, thè lưỡi lấy vạt áo lau mồm:

“Khẹc! Mặn quá! Máu lão Hải với máu mụ Ngọc chắc có bỏ muối! Uống vào tưởng đang húp nước mắm!”

Ngọc bật cười giòn tan, vung chân đạp gã ăn mày ngã lăn quay ra bãi cỏ. Minh Hải cười hô hố, chạy tới kẹp cổ Khoa vò đầu bứt tóc. Phụ nhặt khúc xương lợn ném thẳng vào lưng gã, tạo ra một màn rượt đuổi náo loạn quanh đống lửa. Bá Liêm và Phạm Tung ngồi nhìn, lắc đầu, tủm tỉm.

Rượu lại được rót đầy. Tiếng cười vang lên xen lẫn tiếng dân ca mà đám đinh tráng khe khẽ hát. Lửa bập bùng. Trăng sáng. Gió mang mùi rêu ẩm và mùi nhang trầm ai đó đốt trong hang, cầu cho linh hồn Đỗ Sán và những người đã khuất phù hộ cho Trường Yên.

Dị Nhân đứng lùi lại, khoanh tay, nhìn đám người đang cười đùa quanh đống lửa. Ánh lửa nhảy múa trong đáy mắt chàng. Chàng mỉm cười. Đó là một nụ cười hiếm hoi, ấm áp, khoảnh khắc duy nhất trong suốt mấy tháng qua mà khuôn mặt góc cạnh ấy dịu lại.

Vào thời khắc ấy, nghĩa quân Trường Yên đã lên đến con số hơn năm trăm người.

Sắc phong lĩnh ấn cờ đào,

Dị Nhân tụ nghĩa anh hào Trường Yên.

Tràng An mở lối bình yên,

Cắt tay hòa máu thề nguyền tử sinh.

- Hết hồi ba -

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px