Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Con Đường Thái Bình

Hồi 3 - Thượng

HỒI BA

Sương mù giấu nẻo rừng sâu,

Gom từng mảnh vỡ chung câu sinh tồn.

Giữa thời khói lửa dập dồn,

Tựa lưng vách đá giữ hồn nước Nam.

 

Đầu năm Mậu Tý.

Giản Định Đế xưng hoàng đế tại Mô Độ đã được mấy tháng. Triều đình mới dựng, binh mã còn mỏng, nhưng ngọn cờ nhà Trần đã khiến lòng người quanh vùng Trường Yên âm thầm chuyển động. Quân Minh vì thế càng siết chặt việc tuần tiễu và dò xét trong vùng.

Ngày nọ, vào buổi sáng sớm, Đỗ Dị Nhân cùng với Lý Minh Hải cải trang đi xuống các làng để dò la tin tức. Lại nói, mười hai làng Trường Yên được đặt tên dựa theo cái nghề chính của người dân làng đó. Ví như ta có làng Gạo ở phía Bắc, là vựa lúa gạo của cả một vùng, cũng là nơi có tư gia của Hào trưởng Đỗ Sán. Lại có những làng khác như làng Muối, làng Thơm, làng Lụa… Mười hai làng cùng nhau gắn kết, tạo thành một cộng đồng máu thịt không thể tách rời ở vùng Trường Yên.

Xuất phát điểm từ làng Gạo, nơi tiếp giáp với vùng hang động núi đá Trường Yên, Dị Nhân cùng Lý Minh Hải lần lượt đặt chân qua các làng Gỗ, làng Muối, làng Thịt và dừng chân ở làng Lụa. Nơi từng được mệnh danh như “Khu chợ tấp nập nhất”  của vùng Trường Yên, từng là một trong những nơi cung cấp tơ lụa thượng hạng cho cả triều đình, nay đã tan hoang xơ xác, đìu hiu không một bóng người.

Dị Nhân nhìn cảnh tượng trước mặt mà trong lòng nhói đau. Chàng căm hận lũ giặc này đến tận xương tủy. Tất cả những gì người Việt gầy dựng bao đời, nay bọn chúng phá sạch chỉ trong một trận chiến.

Rồi cả hai tình cờ bắt gặp tên giặc Trương Sung đang ngông nghênh đi tuần tra cùng lũ thuộc hạ. Hắn vẫn cưỡi con bạch mã, điệu bộ khinh khi cầm cương dẫn đầu. Đi đến đâu, hắn cũng lệnh cho đám thuộc hạ vào lục soát, vơ vét hết những thứ có giá trị. Khi thấy xác chết người Việt cháy đen bên vệ đường, hắn liền giả vờ hắt hơi, ra hiệu cho đám tay sai kéo những cái xác ra khỏi tầm vó ngựa của hắn.

Dị Nhân cùng Lý Minh Hải im lặng quan sát, theo đuôi bọn chúng đến tận khi trời chập tối. Sau sự ra đi của Đỗ Sán, quân Minh đã mạnh tay trấn áp, siết chặt toàn vùng Trường Yên. Giờ đây, quân Minh không còn kiêng nể như khi Đỗ Sán còn sống. Chúng công khai hà hiếp, áp bức dân lành, thẳng tay cướp lấy thóc gạo và tài sản của người dân mười hai làng. Làng nào không thuận theo đều bị chúng ra tay hủy diệt, ví dụ điển hình là làng Lụa. Ai nấy cũng đều căm ghét bọn giặc nhưng chưa có một ngọn cờ hiệu triệu đấu tranh.

Về phần Dị Nhân, sau khi tiếp nhận trọng trách của cha và chiêu mộ được quân sư Phạm Tung, chàng đã nghe theo sách lược giấu mình chờ thời. Chàng cùng với em trai Đỗ Hạo và vài người thân cận đã cắt đứt mọi liên lạc với dân làng, giấu mình trong những hang đá sâu thẳm để hoạch định sách lược dài hạn. Sau một khoảng thời gian, những con người trong hang đá cuối cùng cũng xác định được cụ thể những tuyến đường vận lương, chuyên chở hàng hóa của quân giặc. Họ cũng đã tìm ra được những con đường vận chuyển lương thực bí mật từ các làng lên trên núi, chuẩn bị cho một cuộc chiến trường kỳ. Dưới sự kêu gọi âm thầm của Nguyễn Bá Liêm, người dân làng Gạo cùng các làng lân cận như làng Quả, làng Muối, làng Thịt, đã lén vận chuyển lương thực lên vùng núi đá Trường Yên, thể hiện tinh thần quyết tâm chống giặc. Khi thấy mọi sự đã hoàn thành, Phạm Tung cho rằng thời cơ hành động đã đến.

Lại nói, Dị Nhân cùng Lý Minh Hải bí mật bám theo Trương Sung đến khi hắn ta vào trong nhà lớn bỏ hoang của một thương nhân giàu có ở làng Lụa để tạm nghỉ. Cả hai đợi đến nửa đêm thì đám lính gác cổng vì nghĩ rằng làng Lụa giờ đã không một bóng người nên tản ra vui chơi gần hết, chỉ còn hai tên lính xui xẻo buộc phải đứng lại canh cửa, phòng khi Trương Sung có việc cần gọi.

Hai kẻ đó liền bị bọn Dị Nhân bí mật áp sát rồi bịt miệng, cắt cổ giết chết.

Sáng hôm sau, Trương Sung bị đánh thức bởi đám lính đang hốt hoảng. Hắn bước ra, chửi đỏng những câu bằng tiếng Hán rồi sững người trước một cảnh tượng kinh hoàng: Hai xác lính Minh bị treo ngược trên cành cây, phần bụng áo bị xé rách, trên bụng có viết gì đó mà Trương Sung không đọc được. Hắn liền nhờ tên thông ngôn người Việt đến xem hộ. Theo lời tên thông ngôn thì nội dung chữ trên bụng hai cái xác như sau:

“Gửi lũ Minh triều tàn bạo, ta là Đỗ Động chủ, người trấn giữ các cõi Trường Yên. Nay lũ chó lợn các ngươi dám mò đến đây xâm phạm. Các ngươi sẽ bị ta đánh tơi bời!”

Chưa dừng lại ở đó, Trương Sung đi dọc khu phố đều thấy chữ Đỗ được viết bằng máu lợn ở mọi nơi. Hắn điên tiết tra hỏi lũ lính gác đêm qua rồi thẳng tay xử trảm cả lũ vì tắc trách trong công việc. Sau đó, hắn ra lệnh phóng hỏa thiêu cháy mọi thứ ở làng Lụa. Tuy vậy, hành động của Đỗ Dị Nhân đã tạo tiếng vang lớn trong cả vùng. Một đồn mười, mười đồn trăm. Chẳng mấy chốc mà cả vùng đã rỉ tai nhau về một hào kiệt đã đứng lên dựng cờ khởi nghĩa: Đỗ Động chủ - Đỗ Dị Nhân.

Trai tráng làng Gạo xung phong đi đầu, hơn trăm người bí mật đi theo con đường mòn cũ, lên hang đá nguyện góp sức vì Trường Yên. Ngay khi họ lên thì con đường cũ cũng bị Đỗ Hạo cho người san lấp. Mục đích là để không cho quân Minh đánh hơi được căn cứ địa và bản thân Dị Nhân cũng đã dự phòng vô số lối đi khác nhau để phục vụ cho công tác chiêu mộ lực lượng.

Sau làng Gạo thì một số người của các làng Thơm, Muối, Thịt,….cũng đến góp sức. Chẳng mấy chốc, Dị Nhân đã có trong tay gần ba trăm trai tráng đến từ cả mười hai làng. Con dân Trường Yên, đồng lòng kháng địch.

*

Một buổi chiều đầu năm, sương mù dày đặc phủ kín đầm lầy Tràng An. Dị Nhân đang ngồi trong hang đá mài thanh đoản đao thì Minh Hải chạy vào, mồ hôi nhễ nhại:

“Đỗ huynh! Có một tên mặc áo lụa, cưỡi con ngựa gầy trơ xương, bị đám quân Minh chặn lại ở bìa rừng. Cũng may là đám đệ đến kịp, giết đám quân đó và cứu được hắn. Hắn tự xưng là sứ giả triều đình Giản Định đế, đòi gặp huynh đó.”

Dị Nhân nhíu mày. Chàng đứng dậy, giắt đao ngang hông, dẫn Minh Hải và vài tên đinh tráng ra bìa rừng.

Tên sứ giả là một gã thư lại gầy nhom, mặt chuột, mặc bộ áo lụa xanh nhàu nhĩ, vạt áo lấm lem bùn đất. Con ngựa dưới trôn gã sườn trơ xương, mõm sủi bọt vì kiệt sức. Gã ngồi trên lưng ngựa, cố giữ vẻ mặt quan cách, nhưng đôi mắt cứ liếc ngang liếc dọc, run run không giấu nổi.

Thấy Dị Nhân bước ra, gã sứ giả nhìn từ đầu đến chân: bộ áo giao lĩnh củ nâu lấm lem bùn đất, thanh đoản đao dắt ngang hông, mặt mũi gai góc đen đúa. Gã nhăn mũi, hất hàm:

“Ngươi là Đỗ Dị Nhân sao?”

Dị Nhân không đáp. Chàng đứng im, hai tay khoanh trước ngực, mắt lạnh ngắt nhìn tên sứ giả.

Gã sứ giả lúng túng một lát, rồi rút từ trong tay áo ra một cuộn lụa tơ vàng, giũ mạnh cho thẳng nếp gấp. Trên tấm lụa, ấn triện đỏ chót của triều đình Giản Định nổi bật, kèm mấy dòng chữ được viết theo đúng quy chuẩn lễ nghi.

“Sắc phong của Hoàng thượng!”

Gã sứ giả cất giọng the thé:

“Triều đình phong ngươi làm Trường Yên Phòng Ngự Sứ. Từ nay, ngươi thay mặt triều đình trấn giữ vùng Trường Yên, chiêu binh mã, chống giặc Minh. Đây là ân sủng đặc biệt, ngươi phải biết ơn mà dốc lòng tử chiến!”

Gã nói xong, vội vã ấn cuộn lụa vào tay Dị Nhân, giật cương ngựa quay đầu, rõ ràng muốn chuồn cho nhanh. Dị Nhân nắm lấy dây cương, giữ ngựa lại:

“Khoan! Triều đình phong ta làm Phòng Ngự Sứ, thế triều đình có cấp cho ta binh mã không? Lương thảo đâu? Khí giới đâu?”

Gã sứ giả giật mình, lảng tránh ánh mắt Dị Nhân, ấp úng:

“Triều đình... đang phải bảo toàn xã tắc ở phương Nam. Binh mã và lương thảo... ngươi tự lo liệu. Sắc phong đã ban, ơn vua đã xuống, ngươi tự đi chiêu mộ!”

Dị Nhân buông dây cương. Gã sứ giả vội vã thúc ngựa phóng đi, mất hút trong sương mù.

Minh Hải đứng sau, nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đất, giọng hậm hực:

“Triều đình cái nỗi gì! Phong chức cho huynh để huynh chết thay cho bọn chúng. Ném cho một tờ giấy lộn rồi bỏ chạy!”

Dị Nhân lặng im. Chàng cầm tờ sắc phong, giũ phẳng, nhìn ấn triện đỏ chót dưới ánh chiều tà. Rồi chàng gấp lại, cất vào trong ngực áo, quay sang nhìn Minh Hải và đám đinh tráng, giọng trầm đục:

“Các đệ không biết, chứ đối chúng ta mà nói, thì tờ giấy lộn này còn đáng quý hơn mười vạn tinh binh.”

Chàng vỗ nhẹ vào ngực, nơi tờ sắc phong nằm ấm sát da.

“Chúng ta tuy đã có binh lính cho riêng mình nhưng nghĩ kỹ mà nói, nghĩa quân Trường Yên vẫn chưa có tính chính danh. Phạm tiên sinh đã đôi lần khuyên ta nên tìm cách liên hệ với triều đình Giản Định để được phong đại chức quan gì đó, để cho dân chúng các nơi khác không nhìn chúng ta với ánh mắt nhìn lũ thảo khấu. Bây giờ thì họ tự tìm đến ta, phong cho ta chức quan này, chẳng phải là quý hơn mười vạn tinh binh hay sao?”

“Huynh nói đúng lắm!”

Đỗ Hạo xuất hiện cùng một vài đinh tráng từ hướng gã sứ giả ban nãy phóng đi, từ từ tiến lại gần chỗ Dị Nhân. Trên tay những đinh tráng đi theo Hạo là những thanh đao dính máu.

Dị Nhân quan sát người em trai rồi hỏi:

“Đệ vừa làm gì vậy?”

Hạo tươi cười nói:

“Đệ đi kiếm thịt ngựa về để tối nay các huynh đệ cùng ăn!”

Rồi y kêu một đinh tráng đem ra xác một con ngựa gầy nhom. Chỉ nhìn sơ qua thì Dị Nhân đã nhận ra ngay đó chính là con ngựa của tên sứ giả ban nãy. Rồi chàng nhìn thấy Hạo đang giấu sau lưng một vật gì đó.

Dị Nhân nghiêm giọng chất vấn:

“Đệ đã làm chuyện kinh khủng gì rồi?”

Không để Hạo kịp phản ứng, Dị Nhân liền giật cái túi sau lưng Hạo. Mở cái túi ra, Dị Nhân thất kinh khi nhận ra bên trong chính là cái đầu của tên sứ giả ban nãy.

Chàng kinh hãi thốt lên rằng:

“Trời ơi! Đệ đã làm chuyện gì thế này! Đệ đã giết người sao? Lại còn chặt đầu? Đệ dã man đến vậy sao?”

Hạo ấp úng giải bày:

“Đệ… đệ cũng lớn rồi. Đệ… đệ muốn làm vậy vì đại ca thôi. Nếu quân Minh mà bắt được hắn ta thì chẳng phải chúng sẽ lùng được đến bìa rừng này sao? Tuy chưa gần căn cứ nhưng đã đến đây rồi thì kiểu gì lũ giặc cũng sẽ xua quân đi lùng sục khắp nơi. Khi đó thì chúng ta sẽ bị ép vào thế khó. Chi bằng cứ hành động trước, ngăn ngừa hậu họa vẫn hơn. Đệ chặt đầu hắn để nếu quân Minh có phát hiện ra xác thì cũng không thể nhận diện ra là ai được.”

Dị Nhân quát rằng:

“Nhưng không nhất thiết phải ra tay giết chính người Việt của mình. Nếu làm vậy thì chúng ta khác gì lũ quân Minh? Đệ đọc nhiều sách thánh hiền là để tàn nhẫn như vậy sao?”

Hạo sợ hãi, bèn quỳ xuống khóc rằng:

“Đệ trẻ người non dạ. Xin huynh tha tội cho đệ! Đệ nguyện lấy công chuộc tội!”

Minh Hải cùng anh em đinh tráng cũng quỳ xuống xin tội giùm Hạo.

Dị Nhân bèn nói:

“Đây là hành động vô cùng sai trái và tàn nhẫn. Đệ phải khắc sâu vào tâm khảm của mình. Đừng bao giờ lặp lại! Từ giờ đệ hãy tìm một góc nào đó trong hang đá đủ yên tĩnh mà đọc sách thêm đi. Đây là lệnh!”

Hạo lau nước mắt rồi cùng anh em đem xác con ngựa về lại trên núi.

Cái đầu của tên sứ giả thì bị Dị Nhân ném xuống thác nước. Ném cái đầu xuống dòng nước, Dị Nhân chợt hiểu từ khoảnh khắc ấy, chàng cũng đã nhúng tay vào việc che giấu tội lỗi của em mình. Chàng thở dài trước những gì vừa diễn ra. Chàng không thể tin đó là sự thật.

Dị Nhân thầm nghĩ:

“Có lẽ nó chỉ hồ đồ nhất thời thôi. Tiểu đệ của mình không thể là loại người tàn độc thế được!”

Khi thấy Hạo đã đi khuất, Dị Nhân bèn hỏi Minh Hải rằng:

“Đệ đã báo cho nó trước khi báo cho ta đúng không?”

Minh Hải biết tội bèn cúi đầu không đáp.

Dị Nhân thở dài, nói:

“Ta lệnh đệ nhịn ăn trong hôm nay, coi như hình phạt. Về sau có chuyện gì hệ trọng thì phải báo cho ta biết đầu tiên nhé!”

Minh Hải cúi mình nhận lệnh rồi đi theo Dị Nhân quay ngược lại lên núi.

Đúng như Dị Nhân đã dự liệu, ấn triện trên tờ sắc phong ấy có sức nặng vô cùng. Con dân nước Nam sống hàng trăm năm dưới bóng triều đình Trần, con dấu đỏ của vua Trần là thứ thiêng liêng ngang bàn thờ tổ tiên. Những vùng lân cận Trường Yên khi biết được vùng Trường Yên có một vị Phòng Ngự Sứ dám đứng lên chống giặc, đang chiêu binh mãi mã thì cũng chung tay mà góp sức hỗ trợ. Nhờ thế mà thực lực của nghĩa quân Trường Yên ngày càng được nâng cao, ngày càng mạnh mẽ.

Phạm Tung ngồi trong hang, phe phẩy quạt mo, gật gù nhìn danh sách trên sổ. Hạo đứng bên cạnh, tay cầm bút lông, ghi chép tên tuổi từng người, phân chia thành toán, tính lương thảo cho từng tháng. Hai người - một già một trẻ - lặng lẽ biến đám nông dân rách rưới thành một thứ gì đó gần giống một đội quân.

**

Đúng ngày Dị Nhân điểm binh lần đầu cho đám nghĩa binh tại bãi đất trống trước hang đá, một gã ăn mày rách rưới lết tới.

Gã đội chiếc nón lá mê rách bươm che kín nửa mặt, tay chống gậy trúc, chân đi đất, quần áo vá chằng vá đụp. Bước đi lệch bệch, khập khiễng, nhìn qua ai cũng tưởng cùi hủi ăn xin nhưng đôi mắt dưới vành nón thì nhỏ ti hí và lanh lẹ, đảo liên tục như mắt chuột, không bỏ sót bất cứ thứ gì.

Gã lết thẳng tới trước mặt Dị Nhân, chìa cái bát mẻ sứt một miếng to tướng, nhe hàm răng sún ra cười cợt:

“Phòng Ngự Sứ đại nhân! Ngài cho tiểu nhân một bát cơm gạo đỏ đầy, tiểu nhân chỉ cho ngài biết đêm qua lính đồn trú giấu ba xe lương thảo ở hốc đá nào.”

Gã ta ngoác mồm cười, nước dãi chảy ròng ròng xuống cằm:

“Tiểu nhân không biết cầm giáo, nhưng chó săn của giặc không thính mũi bằng tiểu nhân đâu.”

Minh Hải đứng cạnh Dị Nhân, nhíu mày, tay đặt lên chuôi đao, quát rằng:

“Kẻ vô lễ! Lôi ra ngoài!”

Dị Nhân giơ tay cản. Chàng nhìn gã ăn mày từ đầu đến chân, lặng im một lúc. Rồi chàng quay người, tự tay đơm một bát cơm gạo đỏ đầy ắp từ nồi cơm đinh tráng đang ăn dở, bước tới, đặt vào tay gã ăn mày.

“Huynh tên họ là gì?”

“Phan Văn Khoa.”

Gã ăn mày vốc cơm nhét đầy mồm, nhai ngồm ngoàm, nước cơm chảy tràn xuống râu quai nón.

“Dân Trường Yên chính gốc, ăn mày từ năm mười hai tuổi. Đi khắp mười hai làng, quen mặt từng tên lính tuần, thuộc lòng giờ giấc gác canh, biết rõ kho lương của bọn chúng, kho nào đầy kho nào vơi.”

Gã nuốt ực một cái, ngước lên nhìn Dị Nhân, đôi mắt ti hí bỗng sáng rỡ:

“Ăn mày đi đâu chẳng được, ai thèm để ý. Tiểu nhân là đôi mắt giỏi nhất mà đại nhân có thể mua bằng một bát cơm.”

Dị Nhân nhìn gã, khẽ gật đầu:

“Ăn xong thì huynh kể cho ta nghe ba xe lương ấy giấu ở đâu nhé! Từ giờ, huynh cứ coi hang động này như nhà của mình.”

Khoa nuốt nốt miếng cơm cuối, nhe răng cười toe toét, vái Dị Nhân một cái rồi kể lại tường tận mọi việc. Sau đó, gã lết đi, gậy trúc gõ lộp cộp trên đá. Từ hôm ấy, gã ăn mày trở thành đôi tai đôi mắt thính nhất của Trường Yên - một gã thám báo mang vỏ bọc vô hại nhất trần đời.

***

Quân đã có, nhưng Dị Nhân vẫn mắc kẹt ở rìa rừng. Theo tấm bản đồ mà Đỗ Sán để lại thì vẫn còn những nơi khác mà Dị Nhân chưa từng đến. Đó là nơi mà kể cả Phạm Tung cũng chỉ nghe kể chứ chưa đến lần nào. Dị Nhân chưa dám lùi sâu vì nghe đồn đó là những nơi chứa đầy sương độc, đầm lầy sụt lún và mê cung hang động ngập nước. Mỗi lần chàng cử người dò đường, hoặc mất tăm hoặc lạc trong sương mù ba bốn ngày mới mò ra được, hoặc chìm nghỉm xuống vũng sình không sủi lên nổi một bong bóng.

Một đêm, trong hang đá nông chật hẹp, Dị Nhân ngồi vò đầu bứt tai trước tấm bản đồ. Phạm Tung ngồi đối diện, nhàn nhạt phe phẩy quạt mo, ánh mắt đục ngầu nhìn Dị Nhân.

“Muốn biến hệ thống hang động núi đá này thành sào huyệt cho nghĩa quân, Chúa công cần phải kết nối và kiểm soát được toàn bộ hang động và đầm lầy nơi đây. Chỉ có như thế thì nơi đây mới trở thành pháo đài bất khả xâm phạm. Để làm được điều đó thì ngài cần một kẻ thông thuộc từng vũng bùn, từng hốc đá ở đây.”

Tung cất giọng khô khốc:

“Lão phu tiến cử một kẻ tên Nguyễn Phụ. Hắn làm nghề thợ săn, sống trong lõi đầm lầy từ thuở bé, cơ thể đầy lông nên được người ta gọi gã là dã nhân. Hắn cao hơn người thường một cái đầu, sức mạnh phi thường, nhưng tính nết hung hãn, ghét người, trước giờ rất ít người lại gần được hắn.”

Dị Nhân cau mày:

“Ta mang lễ vật vào tìm gã được không?”

Phạm Tung bật cười giễu cợt:

“Chúa công mang gạo vào, gã ta sẽ dùng nỏ bắn lủng sọ ngài trước khi ngài kịp mở miệng. Đối phó với loại dã thú thế này, lễ nghĩa vô dụng. Phải dùng mồi nhử.”

Gã gõ cán quạt xuống phiến đá, đôi mắt lóe lên:

“Lão phu đã sai thằng Khoa rỉ tai đám quân đồn trú Minh ở chợ huyện, phao tin rằng quân Trường Yên cất giấu vàng bạc và mấy xe lương thảo trong vùng lõi đầm lầy, đúng ngay lãnh địa săn bắn của gã họ Nguyễn.”

Dị Nhân sững người, chợt hiểu ra sự tàn nhẫn của nước cờ.

“Tiên sinh mượn dao giết người? Lùa giặc Minh vào phá nát ổ của gã?”

Phạm Tung gõ quạt, giọng đều đều:

“Không phá ổ, sao gấu chịu chui ra? Lính đồn trú tham vàng mờ mắt, nhất định xông vào sục sạo. Nguyễn Phụ dẫu sức mạnh phi thường, cũng không thể một mình chống năm chục cây nỏ. Chờ khi gã bị dồn đến đường cùng, Chúa công hãy xuất hiện. Chìa tay ra đúng lúc kẻ kiêu ngạo nhất sắp chết, thì gã sẽ theo ngài suốt đời.”

Dị Nhân nhìn lão thầy đồ, im lặng hồi lâu. Rồi chàng gật đầu, đứng dậy, giắt đao vào hông. Miệng chàng mím chặt, không nói thêm một lời. Chàng biết mưu kế này thối tha. Nhưng chàng cũng biết, mấy trăm huynh đệ đang chờ chàng tìm được đường vào vùng lõi Tràng An.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px