Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Toán lính Minh lùng sục một hồi chẳng tìm được manh mối gì rồi cũng rút đi. Dân làng sau đó cũng phát hiện ra kẻ tuồn tin tức trong làng. Họ tính đi tìm hắn thì mới hay tên phản bội đồng bào đó đã đi theo đám lính Minh rời đi từ thuở nào.

Đêm đó, khi toán lính Minh rút đi, Dị Nhân và Minh Hải lẻn ra trong bóng tối, thu liệm thi hài Đỗ Sán từ gốc đa. Vị Hào trưởng già nằm ngửa trên vũng máu đã đông đặc, hai tay vẫn bấu chặt xuống mặt đất. Đầu ông nằm cách thân nửa trượng. Minh Hải không nói gì, lấy tấm áo giáp ngư lân của mình, lặng lẽ bọc cái đầu lại, rồi cùng Dị Nhân khiêng thi thể vào hang đá vôi Tràng An.

Đám thanh niên bồng bột, cũng chính là những kẻ được Đỗ Sán liều mạng cứu sống, đứng ngây ra khi thấy thi thể người Hào trưởng già. Có đứa quỳ sụp xuống khóc, có đứa đấm ngực tự vả. Chúng gào khóc, quỳ lạy và tạ lỗi với anh em Dị Nhân. Rồi khi biết quân Minh đã rời đi, từng nhóm lặng lẽ rút đi, xấu hổ và sợ hãi, trở về làng. Đến cuối đêm, chỉ còn hai anh em Dị Nhân và Hạo ngồi bên thi hài cha trong hang đá lạnh buốt.

Hang đá vôi Tràng An sâu và tối. Sương mù luồn qua khe nứt tạt vào lạnh cắt da. Nước nhỏ giọt đều đều từ nhũ đá trên trần, rơi tõm tõm xuống vũng nước trong vắt ở góc hang, tiếng vang lên nghe buồn bã vô cùng. Thi hài Đỗ Sán được đặt trên mấy phiến đá bằng phẳng, đầu đã được khâu lại với thân bằng sợi gai, bọc trong tấm chiếu cói sạch sẽ. Trên ngực ông đặt cuốn sổ bạ tịch thật - cuốn sổ mà Hạo đã cất giấu từ trước, giữ lại cho cha.

Hai ngọn nến cắm trên mặt đá leo lét, hắt bóng hai gã trai trẻ mặc áo xô gai trắng toát lên vách hang. Dị Nhân quỳ bất động, bờ vai vạm vỡ chùng xuống, cúi đầu nhìn đôi bàn tay gân guốc của cha đã được bó gọn trước ngực. Chàng ngồi bó gối như thế từ chập tối, không nói, không ăn, không uống. Sau nhiều lần đắn đo, chàng cũng quyết định nên tiễn cha đi đoạn cuối ở ngay đây. Chàng không muốn quay về ngôi nhà gợi nhớ những câu truyện cũ giờ chỉ nhuốm màu bi thương.

Tiếng bước chân nhẹ bẫng. Hạo bước tới, quỳ xuống bên cạnh anh trai. Y đặt chiếc mâm gỗ xuống nền đất, trên bày một vò rượu nếp và hai chiếc bát sành nâu, từ tốn rót đầy hai bát, rượu đục ngầu sủi bọt, hương nếp mới quyện vào hơi lạnh hang đá.

“Đại ca, uống một ngụm cho ấm bụng.”

Giọng Hạo nhẹ và đều, như sợ chạm vào vết thương.

“Mẫu thân mất sớm, giờ phụ thân cũng đi rồi. Huynh mà đổ bệnh lúc này thì đệ biết nương tựa vào ai.”

Dị Nhân quay sang nhìn em trai. Đôi mắt thường ngày sắc lạnh nay đỏ hoe, đong đầy nước. Chàng vươn tay nhận bát rượu, cụng nhẹ vào bát của Hạo, rồi đổ một nửa xuống nền đất trước thi hài cha. Rượu thấm vào đất đá, loang ra thành vệt sẫm.

“Hạo này...”

Dị Nhân cất giọng khàn đặc, miệng cười mà mắt ướt nhòe.

“Đệ có nhớ hồi nhỏ, mỗi lần ta trốn đi tập võ với đám thợ săn, bị phụ thân bắt được là no đòn không? Ông dùng roi mây quất vào bắp chân ta, mắng ta là đồ võ biền băm bổ... Vậy mà đêm đến, lúc ta ngủ say, phụ thân lại lén mang mỡ trâu vào xoa vết lằn cho ta. Sáng dậy, mỡ trâu dính lem nhem đầy ra chiếu...”

Hạo nghe, bật cười. Nụ cười rưng rưng:

“Sao quên được. Phụ thân mắng huynh võ biền, rồi quay sang mắng đệ thứ trói gà không chặt.”

Rồi Hạo nhìn thi hài cha, giọng chùng xuống:

“Huynh nhớ cuốn Sổ Đinh của làng không? Tối nào phụ thân cũng bắt hai huynh đệ mình thắp đèn ngồi đọc thuộc lòng. Ông bảo, làm người đứng đầu Trường Yên, Tứ thư Ngũ kinh thuộc hay không thuộc không cần, nhưng nhà ai bao nhiêu miệng ăn, nhà ai có người ốm đau, đàn bà sắp ở cữ, phải nhớ cho bằng hết.”

Hai anh em nhìn nhau, rồi cùng nhìn về phía thi hài.

Dị Nhân nghẹn ngào:

“Đúng vậy... Cả một đời phụ thân không cầm gươm, chỉ cặm cụi ôm cuốn sổ ấy. Ông nhớ tên từng đứa trẻ trong làng, lo cho từng bữa cơm bá tánh. Đến lúc chết... phụ thân vẫn ôm khư khư mấy cuốn sổ ra giữa sân quỳ lạy giặc, cũng chỉ để giành cho Trường Yên niềm hy vọng quật khởi. Cả đời ông ấy đã dành cho vùng đất này cả rồi.”

Chàng ngửa cổ uống cạn phần rượu còn lại. Rượu cay xè, xộc lên mũi, khiến giọt nước mắt kìm nén bấy lâu lăn dài trên gò má sạm nắng. Chàng gục trán lên đầu gối, hai bàn tay chai sần vò rối mái tóc rũ rượi:

“Ta thấy mình vô dụng quá, Hạo ạ. Mười năm luyện đao, ta cứ ngỡ mình đủ sức bảo vệ gia quyến. Vậy mà khi thấy giặc chém người thân của mình, ta lại không thể làm gì. Đao kiếm sắc bén đến đâu cũng không chém được cái thời buổi thối nát này. Cái sức mạnh của ta, đứng trước vó ngựa giặc Minh, hóa ra nhỏ bé đến thảm hại.”

Hạo lặng lẽ nhặt một thanh củi, gẩy lại chậu than sưởi cho bớt khói. Ánh than hoa rực lên, hắt lên khuôn mặt gầy guộc của y, nửa sáng nửa tối. Hạo cất giọng nhè nhẹ, nhưng rành rọt từng chữ:

“Đại ca đừng nói lời hồ đồ.”

Y ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt Dị Nhân, ánh mắt trong vắt nhưng sắc như lưỡi dao:

“Phụ thân hàng giặc vì phụ thân chọn như vậy. Huynh đứng trên sườn núi nuốt nước mắt nhìn cũng vì huynh chọn như vậy. Lựa chọn của phụ thân và huynh đều vì thời cuộc cả. Phụ thân đã chọn và đặt cược vận mệnh của con dân mười hai làng vào huynh, vào lớp trẻ Trường Yên.”

Hạo dốc ngược vò rượu, chắt chút rượu đục ngầu cuối cùng vào bát sành, hai tay nâng lên, cung kính đưa cho Dị Nhân:

“Ngày mai trời sáng, mấy ngàn người ngoài kia sẽ đợi huynh bước ra. Từ nay, huynh đệ ta phải nương tựa nhau mà sống! Đệ sẽ cố gắng không trở thành gánh nặng của huynh. Huynh đệ ta sẽ tiếp nối những gì mà phụ thân đã dày công gầy dựng.”

Dị Nhân ngẩng mặt. Đôi mắt đỏ ngầu của chàng nhìn chằm chằm vào vóc dáng gầy guộc nhưng tĩnh lặng của đứa em trai. Trong ánh nến leo lét, bóng của Hạo in trên vách hang, thẳng đuỗn và không lay động.

Chàng vươn tay nhận bát rượu, ngửa cổ uống cạn giọt cuối cùng.

Cạch.

Dị Nhân úp ngược chiếc bát sành xuống phiến đá. Thanh âm khô khốc vang lên dứt khoát, vọng vào vách hang rồi tắt. Chàng vỗ mạnh một cái lên bờ vai gầy của Hạo, nặng trịch:

“Được. Có huynh, có đệ.”

Hai anh em ngồi thẳng lưng bên thi hài cha, mỗi người một hướng nhìn, tựa hai khối đá vôi sừng sững, chờ đợi ánh sáng của ngày mai.

****

Sáng hôm sau, tang lễ sơ sài được cử hành ngay trong hang đá.

Tin Đỗ Sán bị chém đầu lan đi nhanh chóng. Từ sáng sớm, bô lão, thân hữu cũ của ông, đám thanh niên được ông liều mạng cứu sống, bí mật kéo nhau luồn lách vào hang đá Tràng An. Họ đến với sắc mặt xám ngoét, mắt cúi gằm, không dám nhìn thẳng vào Dị Nhân. Hang đá chật cứng. Mùi nhang trầm trộn lẫn mùi mồ hôi và mùi ẩm mốc của đá vôi, ngột ngạt đến nghẹt thở.

Dị Nhân quỳ trước thi hài cha, mặc áo xô gai trắng toát, đôi mắt đỏ ngầu nhưng khô ráo. Xung quanh, đám đông xôn xao. Tiếng khóc rấm rứt, tiếng thì thầm, tiếng cãi vã. Mười hai làng Trường Yên đang như rắn mất đầu: người muốn bỏ trốn vào rừng sâu, kẻ muốn ra đầu hàng quân Minh, kẻ khác lại muốn kéo xuống Mô Độ theo Giản Định Đế.

Giữa lúc hỗn loạn, một giọng nói trầm ấm, rõ ràng vang lên từ phía cửa hang. Nguyễn Bá Liêm rẽ đám đông bước vào. Lão nhà nho đầu làng, râu dài bạc phơ, vận bộ áo giao lĩnh màu chàm cũ nhưng sạch sẽ, bước đi chậm rãi mà vững chắc. Lão dừng lại trước thi hài Đỗ Sán, cúi đầu vái ba vái, rồi quay lại nhìn thẳng vào mắt đám đông.

“Đỗ lão gia nằm đây!”

Giọng Bá Liêm trầm ấm nhưng sắc bén, vang vọng khắp vách hang.

“Ông ấy một đời lo cho mười hai làng từng bữa cơm. Đến lúc chết, ông ấy vẫn ôm sổ ra quỳ trước giặc để mua lấy vài canh giờ cho lớp trẻ. Máu ông ấy đang khô ngoài gốc đa. Giặc Minh rồi sẽ trở lại. Lần sau có thể chúng sẽ không chỉ chém một người mà chúng sẽ chém cả làng! Chúng ta không thể cứ đứng đó mà nhìn. Phải dựng lá cờ nhân nghĩa bốn chữ: Phù Trần Diệt Minh. Dựng trong lòng, giữ trong bụng, chứ chẳng phải giương cờ giữa chợ cho giặc chém. Nhưng phải có quy củ, có phép tắc, không thể cứ ồ ạt tụ bầy như đêm hôm trước. Lòng căm thù giặc Bắc, ai cũng có. Song muốn biến lòng căm thù ấy thành lưỡi dao sắc, phải có người cầm đầu.”

Hang đá im phắc.

Bá Liêm chỉ thẳng tay vào Dị Nhân:

“Đỗ Dị Nhân! Phụ thân ngươi giao Trường Yên cho ngươi. Ngươi định quỳ đây đến bao giờ? Mười hai làng đang chờ ngươi đứng lên! Con dân Trường Yên đang chờ một chủ tướng! Ngọn lửa kháng địch đang cần người châm mồi! Mười hai làng cần một người gánh vác cơ đồ!”

Dị Nhân không đáp. Chàng vẫn quỳ, đầu cúi, vai chùng.

Hạo nhìn anh trai, rồi lặng lẽ đứng lên. Hạo bước về phía chiếc tráp gỗ đựng tư trang của cha - thứ mà những thân hữu cũ của ông vừa đem lên - mở nắp, cẩn thận nâng ra một tấm lụa gấp vuông vức. Tấm lụa điều, đỏ rực và mềm mại. Tấm lụa hai mươi lăm năm trước Đỗ Sán từng dùng quấn tã cho đứa trẻ sơ sinh mang bảy vì sao dưới gót chân. Tấm lụa che giấu thiên cơ, ủ ấm sinh khí, giấu kín số mệnh kinh thiên động địa của dòng họ Đỗ.

Hạo bước tới trước mặt anh trai.

Hang đá im lặng. Mọi cặp mắt đổ dồn vào hai anh em.

Hạo quỳ một chân xuống, hai tay nâng tấm lụa điều, nhìn thẳng vào mắt Dị Nhân. Đôi mắt đứa em trai rưng rưng, nhưng giọng nói rành rọt, đủ cho tất cả mọi người nghe thấy:

“Đại ca. Phụ thân từng kể, ngày huynh cất tiếng khóc chào đời, nhà họ Đỗ dùng tấm lụa điều này quấn tã ủ ấm cho huynh. Phụ thân giữ nó bên mình hai mươi lăm năm, bảo rằng màu đỏ này là sinh khí, là niềm trông mong lớn nhất của dòng họ.”

Rồi Hạo từ từ giũ tung tấm lụa đỏ. Lụa mềm buông xuống, chiều dài vừa vặn một tấm áo choàng. Hạo đứng lên, vòng tay, cẩn thận khoác tấm lụa điều lên đôi vai rộng của Dị Nhân, thắt nút trước ngực. Tấm lụa đỏ rực nổi bật trên nền áo xô gai trắng toát, màu máu trên màu tang, bi tráng đến nghẹt thở.

“Hôm nay phụ thân không còn nữa. Đệ lấy tấm lụa sinh mệnh này khoác lên vai huynh. Từ nay, huynh phải dùng sinh khí này ủ ấm, che chở cho đệ và cho cả mười hai làng.”

Hạo lùi lại một bước, chắp tay, cúi đầu:

“Đại ca, đứng lên đi!”

Dị Nhân nhìn tấm lụa đỏ trên ngực mình. Hương thơm quen thuộc phảng phất. Hơi ấm của tấm lụa dường như xuyên qua lớp xô gai, truyền vào da thịt chàng một thứ sức mạnh kỳ lạ - không phải sức mạnh của cơ bắp, mà là sức mạnh của tình thân mà một người cha dành cho đứa con mới chào đời.

Dị Nhân gạt nước mắt. Chàng vỗ mạnh lên vai Hạo, rồi từ từ đứng thẳng dậy. Tấm lụa đỏ tung bay nhẹ theo luồng gió luồn vào hang, rực rỡ giữa ánh nến leo lét như một ngọn lửa vừa bùng lên.

Thân hình chàng cao lớn, vạm vỡ, vai rộng, tấm lụa điều phủ trên áo tang, khuôn mặt vẫn còn vệt nước mắt nhưng đôi mắt đã khô và lạnh. Chàng đứng đó, giữa hang đá mù sương, trước thi hài cha, trước mặt hàng trăm con người đang hoang mang chờ đợi.

Bá Liêm nhìn thấy, lập tức quỳ xuống, cất tiếng gọi lớn:

“Nguyện theo Đỗ Dị Nhân!”

Rồi như một cơn sóng, đám đông quỳ rạp xuống. Từng người, từng người, đầu gối chạm nền đá lạnh, vang lên thành tiếng động lộp bộp rời rạc rồi dồn dập. Tiếng hô vang dội vách hang:

“Nguyện theo!”

Dị Nhân đứng im, nhìn rừng người quỳ rạp dưới chân mình. Trong lòng chàng chẳng có chút vinh quang nào. Chỉ thấy nặng. Gánh nặng mà cha chàng đã gánh vác bao năm, nay truyền lại trên đôi vai chàng.

Dị Nhân cắn chặt hàm răng, hai nắm đấm siết lại bên thân, lặng lẽ gật đầu một cái.

*****

Chiều hôm ấy, khi đám đông đã tản đi, Bá Liêm dẫn Dị Nhân luồn lách qua rặng tre xơ xác, tiến về một túp lều tranh lụp xụp nằm chơ vơ ở cuối làng, giáp ranh với rìa đầm lầy sương độc. Hạo lẽo đẽo theo sau.

“Lão phu dẫn ngài đi gặp một người.”

Bá Liêm vừa đi vừa nói, giọng thận trọng.

“Phạm Tung, thầy đồ ở cuối làng. Nghe danh thì hắn là đồ nát rượu. Nhưng lão phu quen biết hắn ba mươi năm, biết rõ cái đầu hắn hơn cả cái miệng hắn. Mưu kế giúp cậu kháng Minh, chỉ hắn tính được.”

Chưa bước qua cửa, mùi rượu gạo chua loét xen lẫn mùi giấy lộn ẩm mốc đã xộc thẳng vào mũi. Dị Nhân nhíu mày, Hạo đưa tay che mũi.

Bên trong, đồ đạc vứt chỏng chơ. Sách vở thánh hiền, nghiên mực nằm lăn lóc dưới đất, bị giẫm đạp không thương tiếc. Giữa đống bừa bộn ấy, một lão nho sinh vào khoảng lục tuần với vóc dáng gầy gò nằm khểnh trên chiếc chõng tre gãy một chân. Ông ta mặc bộ áo the thâm của thầy đồ, nhưng vạt áo xộc xệch bung hết cúc, phanh cả vòm ngực gầy trơ xương dính đầy cơm nguội và vệt rượu. Một chân gác lên vò rượu cạn kiệt, tay kia phe phẩy lười nhác chiếc quạt mo cau đã rách xơ xác. Miệng ngáy rền vang, nước dãi chảy dài trên gối.

Đó là Phạm Tung.

Bá Liêm nhíu mày, ho húng hắng rồi bước vào, chắp tay trịnh trọng:

“Tung đệ! Tỉnh dậy! Lão phu đưa hào kiệt đến bàn việc sống còn của mười hai làng đây.”

Phạm Tung ngừng ngáy, nhưng không thèm ngồi dậy. Ông ta hé nửa con mắt vằn đỏ sòng sọc vì rượu, liếc Bá Liêm, rồi nhếch mép cười nhạt:

“Việc gì? Ở đất này, ngoài phân trâu và xác người ra thì còn việc gì cho lão phu bàn?”

Lão thầy đồ gãi bụng sườn sượt, đưa quạt mo che nửa mặt, ngáp rõ to:

“Đỗ Dị Nhân phải không? Về đi! Đi mà khóc tang phụ thân ngươi! Chỗ này là chỗ của kẻ nát rượu, không có binh thư trận pháp cho ngươi học đâu.”

Dị Nhân đứng lặng ở bậu cửa. Ánh mắt chàng lạnh ngắt, quét qua bộ dạng lôi thôi lếch thếch của lão thầy đồ. Chàng vừa nhìn cha bị chém đầu dưới gốc đa, cơn uất hận nghẹn ứ cổ họng, chàng không có kiên nhẫn để chơi trò ba lần đến lều cỏ.

Xoảng!

Dị Nhân bước tới, vung chân đá tung vò rượu bằng đất nung vỡ nát ngay sát đầu giường Phạm Tung. Mảnh sành văng tung tóe, rượu thừa bắn ướt cả chõng tre.

Phạm Tung giật mình, quạt mo rớt xuống ngực. Ông ta bật dậy, trừng mắt.

Dị Nhân cúi gầm mặt, áp sát khuôn mặt góc cạnh vào gã thầy đồ, giọng đặc quánh:

“Tôi không phải loại nít ranh mà tiên sinh có thể tỏ thái độ khinh miệt như vậy. Phụ thân tôi dâng đầu cho giặc để giữ lại đám người có thể kháng Minh sau này. Tôi đến đây cần một người biết tính toán để cùng nhau làm nên nghiệp lớn. Tôi cần một người có thể cùng tôi đem lại thái bình cho Trường Yên. Nếu tiên sinh không có mưu, tôi lập tức quay gót, không dám phiền tiên sinh.”

Bá Liêm biến sắc, định can nhưng Phạm Tung đột nhiên bật cười. Tiếng cười khùng khục, the thé, quái gở, vang khắp căn lều nát. Phạm Tung nhặt quạt mo lên, vỗ vỗ mấy cái vào ngực Dị Nhân, ánh mắt bỗng sắc lẹm, soi mói như cáo già:

“Tốt! Khí thế dọa người lắm! Cậu khác hẳn Đỗ Sán lúc nào cũng khúm núm.”

Rồi ông ta liếc tấm lụa điều đỏ rực trên vai Dị Nhân, nheo mắt.

“Tấm lụa đỏ này oai phong đấy! Nhưng khoác nó lên lúc này, cậu định làm chúa tể sơn lâm, hay định làm cái bia tập bắn cho hàng ngàn cỗ súng thần cơ của Trương Phụ?”

Lão thầy đồ gạt đống sách vở trên bàn xuống đất, dùng cán quạt vạch một đường dài trên mặt bàn đầy bụi:

“Cậu có gì? Một đám thanh niên loi nhoi. Dao quắm, gậy tày, vài thanh đao mẻ, không lương thảo. Trương Phụ có gì? Tận mấy vạn quân, áo giáp bọc sắt, súng thần cơ san bằng cả thành Đa Bang.”

Phạm Tung nhìn Dị Nhân, giọng nhấn mạnh, nói:

“Cậu định đem mấy con kiến của Trường Yên đâm đầu vào tảng đá đó sao? Phù Trần diệt Minh? Nghe thì hay, nhưng kiến mà húc đá thì chỉ có nước vỡ đầu.”

Dị Nhân không chớp mắt, liền hỏi:

“Vậy thưa tiên sinh, theo ý tiên sinh thì tiếp theo phải làm gì?”

Phạm Tung nhếch mép. Ông ta đứng dậy, chiếc quạt mo chỉ thẳng ra phía đầm lầy ngoài vách lều, ánh mắt loé lên:

“Làm thổ phỉ! Nhưng mà là thổ phỉ đối với giặc Minh, anh hùng hào kiệt đối với bá tánh nước Nam.”

Lão thầy đồ vỗ đét quạt mo xuống bàn, nói:

“Chiến trận không phải dàn quân ra đồng bằng chém nhau khoe sĩ diện. Bọn chúng đông, nhưng bọn chúng cần lương thảo từ Đông Quan chở xuống. Trường Yên có đầm lầy sương độc, có hang đá vôi như thiên la địa võng, có dân bám đất mấy trăm năm thuộc từng khe nứt gốc cây. Có phải cậu đang sở hữu tấm bản đồ hang động Trường Yên không? Tấm bản đồ đó là chính ta cùng với phụ thân và tiểu đệ cậu hoàn thành đó. Có được nó trong tay thì coi như cậu đã giành được một nửa phần thắng rồi.”

Dị Nhân bất ngờ nhìn về phía Đỗ Hạo. Đứa em trai gật đầu xác nhận sự thật.

Phạm Tung dí cán quạt vào ngực Dị Nhân, bảo rằng:

“Cậu phải cất cái sĩ diện trượng phu đi! Tránh ngọn giáo của chúng, cắn vào mạch huyết tải lương của chúng. Dùng thủ đoạn hèn hạ nhất, đê tiện nhất, vừa có gạo mang về nuôi sống mười hai làng, vừa có thể khiến bọn chúng suy yếu ít nhiều. Phần còn lại thì chỉ có thể trông chờ vào những đội quân chính quy của nước ta ở phía xa mà thôi.”

Rồi ông ta dừng lại, nhìn sát vào mắt Dị Nhân, giọng hạ thấp:

“Cậu... có dám rũ bỏ cái mác trượng phu để làm một gã thảo khấu cắn trộm hay không?”

Căn lều rơi vào tĩnh lặng. Bá Liêm đứng nghe mà toát mồ hôi lạnh. Hạo đứng ở góc cửa, hai tay khoanh trước ngực, mắt nhìn lão thầy đồ, ánh mắt lấp lánh.

Dị Nhân không do dự lấy một khắc. Chàng rút thanh đoản đao bên hông, cắm phập xuống mặt bàn gỗ, ngay sát cán quạt mo của Phạm Tung. Lưỡi đao rung bần bật, ánh thép loé lên trong bóng tối căn lều.

“Tiểu điệt nguyện bằng lòng! Xin mời Phạm tiên sinh xuất sơn, giúp Dị Nhân này hoàn thành nghiệp lớn, diệt quân Minh đem lại thái bình cho xã tắc nước Nam!”

Dị Nhân nhìn thẳng vào mắt Phạm Tung, gằn từng chữ.

“Tiên sinh chỉ đường. Tiểu điệt nguyện vung đao.”

Phạm Tung nhìn lưỡi đao cắm ngập trên bàn, rồi nhìn gã thủ lĩnh trẻ bạo liệt trước mặt. Ông ta bật cười khanh khách - tiếng cười sảng khoái của kẻ mang tài kinh bang tế thế cuối cùng đã tìm được minh chủ.

Lão thầy đồ phe phẩy quạt mo rách bươm, gật gù:

“Được. Vậy từ nay, lão phu sẽ tận tâm tận sức vì chủ công.”

Bên ngoài túp lều, trời đã tối hẳn. Sương mù từ đầm lầy bò lên, phủ kín mười hai làng Trường Yên trong một lớp sữa trắng lạnh lẽo. Ở đâu đó ngoài rìa làng, tiếng tụng kinh Phật trầm trầm vọng lại, hòa với tiếng mõ gỗ đều đều - dân Trường Yên đang cầu siêu cho linh hồn Đỗ Sán được siêu thoát, đừng phải lang thang làm cô hồn nơi gốc đa đẫm máu.

Thân già nộp mạng cứu làng,

Nén đau, nuốt hận tìm đàng mưu sinh.

Khăn điều khoác gánh đao binh,

Hóa thân thảo khấu, dốc lòng diệt Minh.

- Hết hồi hai -

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px