Hồi 2 - Thượng
Trường Yên sương phủ mịt mờ,
Máu rơi cội rễ, cờ chờ gió lên.
Nuốt hờn gánh vác vai trên,
Đầm lầy cất bước, đáp đền non sông.
Tháng Mười năm Đinh Hợi.
Chín tháng kể từ ngày thành Đa Bang vỡ, quân Minh đã nuốt trọn Đại Việt. Nhà Minh đặt phủ đô hộ tại Đông Quan, chia cắt nước Nam thành các châu các phủ, lập sổ bạ tịch mới, lùng thu, hủy hoại nhiều sách vở, văn thư và sử tịch của nước Nam, đồng thời ra sắc lệnh: bất cứ kẻ nào tàng trữ vũ khí hoặc tụ tập đông người thì chém bêu đầu ngoài chợ.
Mười hai làng Trường Yên nín thở, co rúm lại như con rùa thu đầu vào mai. Đỗ Sán vẫn ngày ngày tiếp phái viên nhà Minh bằng nụ cười khúm núm và những thúng gạo nộp thuế đúng hạn. Dị Nhân lặng lẽ bước đi ngoài rìa đầm lầy, mắt dõi theo từng đoàn lính Minh tuần tra trên đường cái quan. Hạo giam mình trong phòng sách, cả ngày không bước ra ngoài.
Rồi một buổi chiều cuối thu, tin dữ hay tin lành, chẳng ai phân biệt nổi, đã dội về Trường Yên như sấm giữa trời quang.
Giản Định Đế xưng hoàng đế tại Mô Độ.
Mô Độ, một vùng rừng núi nằm sát vách Trường Yên, cách chỉ nửa ngày đường đi bộ. Tin truyền miệng lan nhanh như cháy rừng: người Thiên Trường là Trần Triệu Cơ đã đem quân tới Mô Độ, tôn hoàng thân nhà Trần tên Trần Ngỗi lên ngôi hoàng đế. Ông lấy hiệu Giản Định, đặt niên hiệu Hưng Khánh, kêu gọi hào kiệt bốn phương tụ nghĩa.
Tin ấy giống như một mồi lửa ném vào đống rơm khô.
Ngay đêm đó, đám thanh niên Trường Yên sôi sục. Dưới gốc đa đầu làng, mấy chục gã đinh tráng tụ tập kín mít, tiếng bàn tán ồn ào vỡ tung cái im lặng sau nhiều tháng. Mắt đứa nào đứa nấy đỏ ngầu, tay lăm lăm dao gậy, giáo tre, gào thét inh ỏi.
“Vua Trần đã dựng cờ! Ngay cạnh Trường Yên! Trời cho mình cơ hội rồi!”
“Mài dao đi nào! Phù Trần diệt Minh! Xuống Mô Độ theo vua!”
“Chín tháng cúi đầu nuốt nhục! Đến lúc rồi!”
Tiếng hò reo vang rền khắp sân đình. Những gã trai mười bảy mười tám cầm giáo tre dậm đất ầm ầm, mặt đỏ gay vì rượu và thù hận. Đỗ Sán đứng ở hiên nhà, nhìn ra sân đình, khuôn mặt hằn nếp nhăn co rúm lại.
Ông lắc đầu rồi quay vào nhà, đóng sập cửa, quay sang Dị Nhân:
“Con nhìn thấy gì ngoài đó?”
Dị Nhân đứng bên cửa sổ, nheo mắt nhìn đám đinh tráng đang múa may. Chàng im lặng một lúc lâu, rồi cất tiếng, giọng trầm nặng:
“Hài nhi chỉ thấy những con người trung nghĩa, dám đứng lên giết giặc. Những con người đó chính là những bằng hữu xương máu của con.”
Đỗ Sán trầm ngâm nhìn con trai một lúc rồi hỏi:
“Con oán trách ta vì hàng giặc sao?”
Dị Nhân trả lời với giọng lạnh tanh:
“Hài nhi không dám.”
Đỗ Sán cười nhạt, nói:
“Ta cũng không trách con. Phàm là con người thì ai cũng có lòng tự trọng. Ta đã làm một việc mà người đời sỉ nhổ, làm liên lụy đến cả nhà. Ngân nhi, nó sao rồi?”
Dị Nhân lộ rõ vẻ buồn bã trên khuôn mặt, nói:
“Nàng đã cùng Thúy thúc rời đi vào trưa nay, trong lúc phụ thân còn đang bận tiếp chuyện bọn giặc đó.”
Lão Hào trưởng thở dài, ánh mắt phản chiếu sự mệt mỏi, nói:
“Thôi, vậy cũng tốt cho nó, sẽ không phải chịu những khổ ải sau này.”
Dị Nhân thắc mắc, hỏi:
“Phụ thân nói vậy là sao?”
Lão Hào trưởng đáp:
“Chúng ta đã nhẫn nhịn chín tháng. Đến nay thì có lẽ mọi người đều không còn khả năng chịu đựng thêm nữa. Cũng may, ngọn cờ Trần lại một lần nữa phất lên. Dân ta giờ đây lại có thêm hy vọng mới.”
Thấy Dị Nhân ngơ ngác chưa hiểu, Đỗ Sán mới mỉm cười nói tiếp:
“Suốt chín tháng qua, lão già này đã đánh đổi danh dự của bản thân và gia đình, để cho người dân mười hai làng có một khoảng thời gian thái bình. Đó cũng chính là khoảng thời gian quý báu để ta có thể tìm hiểu sâu hơn về vùng đất Trường Yên này.”
Đỗ Sán lấy trong hộc tủ ra một tấm bản đồ bằng da sờn rách, trải lên bàn lớn, dùng ánh nến để soi rọi những nét mực mà ông đã ngày đêm ghi chú. Lão Hào trưởng bảo rằng:
“Đây chính là hệ thống hang động núi đá ở Trường Yên. Có những vùng bị đánh đỏ là những vùng ta chỉ được nghe dân gian truyền lại chứ cũng chưa từng đến bao giờ. Đặc điểm của những khu vực này chính là dễ thủ khó công. Quân địch muốn đánh lên thì bắt buộc phải chia nhỏ lực lượng. Nếu xây dựng lực lượng khởi nghĩa ở đây, thì cũng như hổ ngồi trấn núi, không sợ bị kẻ địch dồn lực tấn công.”
Dị Nhân đến đây mới hiểu ra, mừng rỡ nói:
“Phụ thân muốn dựng cờ khởi nghĩa chống Minh sao?”
Đỗ Hào trưởng gật đầu, nghiêm nghị nói:
“Chí ta vốn từ lâu đã vậy, nhưng ngặt nỗi, thân ta đã già, khó đảm đương được trọng trách lớn lao. Dị Nhân con có tài thu phục lòng người, nên nhận lấy tấm bản đồ này mà hoàn thành nghiệp lớn.”
Dị Nhân quỳ xuống, thưa rằng:
“Bẩm phụ thân, hài nhi không dám vượt quyền. Phụ thân là Hào trưởng đã mấy chục năm, có tiếng nói hơn hài nhi rất nhiều. Hài nhi nguyện dốc sức, hiến mạng vì đại nghiệp của phụ thân.”
Đỗ Hào trưởng liền đỡ con trai đứng dậy, ôn tồn bảo rằng:
“Nếu quay về chục năm trước thì ta vẫn có thể gánh vác nhưng giờ lưng ta đã còng, sức ta đã yếu, khó mà cùng con hoàn thành được đại nghiệp. Hạo nhi!”
Nghe tiếng gọi, Đỗ Hạo trong phòng sách bèn mở cửa bước ra, quỳ xuống trước mặt cha anh.
Đỗ Sán nhìn người con thứ một lúc rồi quay sang nói với Dị Nhân rằng:
“Tấm bản đồ con đang cầm đây, ngoài công sức của phụ thân và một vị bằng hữu thì cũng có công sức không nhỏ của tiểu đệ con, Đỗ Hạo. Nhờ những kiến thức nó đọc trong sách cổ mà ta mới có thể hoàn thành được tấm bản đồ này. Tiểu đệ con cũng nguyện góp sức vì việc lớn. Cớ sao con lại thoái thác?”
Dị Nhân kinh ngạc thốt lên:
“Thì ra bấy lâu nay hai người giấu con chuyện này sao?”
Đỗ Hạo lúc này mới lên tiếng rằng:
“Đại ca, phụ thân và tiểu đệ không muốn kéo huynh vào cũng vì muốn tốt cho huynh thôi. Nếu trong quá trình làm bản đồ mà có sự cố xảy ra với tụi đệ thì Đỗ gia này vẫn còn có huynh gánh vác. Huynh nên nhận lấy tấm bản đồ này. Đệ xin nguyện dốc sức vì đại ca!”
Đỗ Sán gật đầu rồi ông kéo Dị Nhân lại gần, hạ giọng thấp như sợ tường có tai:
“Con nghe ta nói, tại sao hôm nay ta phải giao cho con trọng trách này. Vì Trương Phụ không phải đồ ngốc. Một tên hoàng thân dựng cờ ngay sát nách Trường Yên, con tưởng giặc Minh không biết sao? Chúng thừa biết. Đây chính là dịp để chúng dụ cho những kẻ còn hào tâm tráng khí lộ mặt. Bao nhiêu kẻ nóng đầu nhào tới Mô Độ thì bấy nhiêu kẻ sẽ bị lộ mặt. Khi đó quân của Trương Phụ sẽ tràn xuống càn quét cả vùng này, diệt cỏ tận gốc. Giản Định Đế chưa kịp làm vua đã biến Trường Yên thành bãi chiến trường rồi…”
Ngưng một lát, Sán nhìn ra bên ngoài rồi tiếp rằng:
“Ta đoán rằng chỉ lát nữa thôi, đội quân đồn trú do Trương Sung, con nuôi của Trương Phụ, sẽ mò đến chỗ này. Hắn ta là kẻ gian trá, có tai mắt rất đông, có thể có cả người Việt luôn trong đó. Cho nên, chỉ cần động tĩnh nhỏ thôi thì hắn cũng sẽ đánh hơi ra được.”
Dị Nhân nhìn ra ngoài sân, nơi đám thanh niên vẫn hò hét inh ỏi, mắt rực lửa nhiệt huyết mà không hề nhìn thấy cái bẫy đang há họng, chực chờ nuốt cả lũ.
“Phụ thân muốn con ra dẹp đám đó không?”
Đỗ Sán lắc đầu, thở dài. Ông ngồi phịch xuống chiếc ghế mây, hai tay ôm lấy cuốn sổ bạ tịch, cúi nhìn những cái tên dân Trường Yên viết bằng mực tàu đen nhánh trên giấy dó ố vàng.
“Không. Giờ đã muộn rồi. Những kẻ bên ngoài đều là bằng hữu thuở nhỏ của con. Con ra nói thì chắc chắn bọn chúng sẽ nghe theo. Con trình bày với chúng sơ lược về kế hoạch của ta rồi dẫn chúng cùng với em con chạy lên khe núi đá vôi Tràng An trên bản đồ mà ẩn náu.”
Dị Nhân lo lắng hỏi:
“Thế phụ thân thì sao?”
Đỗ Sán chưa kịp trả lời thì một tên người ở chạy vào bẩm:
“Bẩm ông, con nghe bảo quân Minh sắp kéo đến nơi rồi!”
Đỗ Sán ngước lên nhìn Dị Nhân, ánh mắt nặng trĩu, nói:
“Ta sẽ ráng thu xếp. Con ra đó, dắt theo tiểu đệ con, thuyết phục lũ ngốc đó đi vào khe núi phía trong, tạm ẩn mình rồi đợi ta sai người gọi. Lũ Minh kiểu gì cũng sẽ lùng sục cho ra mới thôi.”
Dị Nhân nhìn cha. Chàng muốn hỏi thêm, nhưng Đỗ Sán đã quay lưng, lom khom đi về phía bàn thờ tổ tiên, thắp một nén nhang.
Khói nhang trầm xoắn lên trong bóng tối gian nhà, lặng lẽ và mỏng manh.
*
Canh ba, trời Trường Yên mù mịt sương.
Dị Nhân đã nghe lời cha, lặng lẽ dẫn đám đinh tráng bồng bột cùng Hạo luồn qua rặng tre vào khe núi đá vôi phía trong Tràng An. Đường đi quanh co trắc trở. Dù có bản đồ trong tay nhưng mãi cả bọn mới có thể tìm thấy đường dẫn lên khe núi đó.
Ngoài cổng làng, sương chưa tan hết thì vó ngựa đã rền. Một toán kỵ binh Minh chừng ba chục tên, áo giáp bọc sắt loảng xoảng, đổ ập vào đường cái quan tiến thẳng về phía mười hai làng. Cờ hiệu của đội quân đồn trú do Trương Sung dẫn đầu phần phật trong gió sớm. Ngựa hí, thương lóe, bụi đất tung mù.
Đám dân làng chạy tan tác vào ngõ ngách. Đàn bà ôm con nhỏ trốn trong nhà. Già cả ốm yếu quỳ rạp xuống ven đường, hai tay chắp trước ngực, miệng lẩm nhẩm cầu khấn.
Trương Sung đi đầu, ngồi nghênh ngang trên lưng một con bạch mã cao lớn. Con vật có bộ lông xám trắng sạch sẽ, bờm được chải ép sang một bên. Hắn tuổi ngoài bốn mươi, thân hình hộ pháp, vai nở, cổ ngắn, khuôn mặt vuông rộng với đôi gò má cao và hàng râu mép tỉa xếch về hai phía. Trên người hắn là bộ giáp phiến sắt sẫm màu, từng lớp phiến nhỏ xếp chồng lên nhau. Những đầu đinh đồng trên ngực và vai thỉnh thoảng lóe sáng theo nhịp vó ngựa. Quanh eo là chiếc đai da rộng, chính giữa gắn khóa đồng đúc mặt thú, bên hông đeo một thanh đao dài trong vỏ đen. Hắn chỉ dùng một tay hờ hững giữ cương, lưng thẳng, cằm ngẩng cao. Đôi mắt hẹp chậm rãi quét qua đám dân đang cúi rạp ven đường, không khác gì nhìn một đàn gia súc thuộc quyền sở hữu của mình. Khóe miệng hắn hơi nhếch, mang theo vẻ tự mãn của kẻ đã quen dùng roi vọt và đao kiếm để bắt người khác phải cúi đầu.
Đỗ Sán bước ra.
Ông vận bộ áo giao lĩnh lụa thô màu tro, mái tóc hoa râm búi gọn, lưng hơi còng nhưng bước chân vững. Trên tay ông ôm khư khư mấy cuốn sổ bọc vải, mạo nhận là những cuốn sổ Đinh, sổ Điền. Những cuốn sổ thật đã được ông thay bằng sổ giả từ đêm qua, ghi sai hết tên tuổi, sai hết số đinh, dẫn lệch hết địa hình, đủ để đám lính Minh lần theo thì chỉ loanh quanh trong đầm lầy sương độc mà không tìm ra lối vào khe núi. Ông sớm biết rằng ngày này sớm muộn gì cũng tới nhưng không ngờ nó đến nhanh như vậy.
Đỗ Sán quỳ rạp xuống giữa sân đình, ngay dưới gốc cây đa cổ thụ, dâng mấy cuốn sổ giả lên trước mặt Trương Sung.
“Bẩm đại nhân, tiểu nhân là Hào trưởng mười hai làng Trường Yên. Nghe tin thiên triều tuần tra, tiểu nhân xin dâng sổ bạ tịch, sổ đinh, sổ điền của toàn vùng để đại nhân kiểm kê. Bọn thảo dân mười hai làng một lòng quy thuận, không có kẻ nào dám tàng trữ đao binh.”
Giọng ông run run, đầu cúi sát đất, hai tay dâng sổ lên cao. Cứ y như một ông già quê mùa sợ hãi đến mất cả hồn vía.
Trương Sung giật lấy mấy cuốn sổ, lật qua lật lại. Hắn quát mấy câu bằng tiếng Hán, rồi sai lính dẫn đường vào làng lục soát. Đỗ Sán líu ríu đứng dậy, khúm núm chỉ đường cho đám lính đi vào con ngõ dẫn thẳng ra phía đầm lầy - hướng ngược hoàn toàn với khe núi nơi đám thanh niên đang ẩn nấp.
Ông dẫn chúng đi vòng vèo qua mấy xóm trống, vào mấy kho lương đã dọn sạch từ trước, lẩm nhẩm chỉ trỏ, cúi lạy, giả vờ run sợ, giả vờ lẫn lộn, kéo dài thời gian được bao lâu hay bấy lâu. Hai canh giờ. Ông đã câu được hai canh giờ.
Lúc này, đám Dị Nhân cũng đã vào được khe núi. Chục gã trai trẻ nằm bẹp dí trong hang đá, nghe ngóng, chờ đợi. Anh em Dị Nhân nằm kề bên nhau, hướng mắt nhìn về phía Trường Yên. Khe núi này có độ cao vừa đủ để quan sát bao trọn phía bên dưới. Dị Nhân nhanh chóng xác định được vị trí mà cha chàng đang đứng. Một nỗi bất an tột cùng dâng trào trong người chàng.
Quân Minh không phải lũ ngốc.
Một tên thông ngôn người Việt theo hầu Trương Sung cầm cuốn sổ giả lên đọc, chợt nhíu mày. Hắn nói gì đó bằng tiếng Hán, Trương Sung liền biến sắc. Hắn quay lại nhìn Đỗ Sán, rút thanh đao dài ra, ánh thép loé lên giữa nắng sớm.
Đỗ Sán biết đã bại lộ. Ông không chạy. Ông đứng thẳng lưng, buông hai tay xuống thân người, nhìn thẳng vào mặt viên tướng Minh. Cái dáng khúm núm, run rẩy biến mất. Khuôn mặt hằn nếp nhăn của ông bỗng dãn ra, bình thản lạ thường, như thể ông đã chuẩn bị cho khoảnh khắc này từ lâu lắm rồi.
Ông quay mặt về phía khe núi, hướng mà ông biết hai đứa con trai đang ẩn nấp, khẽ mấp máy môi. Không ai nghe rõ ông nói gì. Có lẽ chỉ là một cái tên. Có lẽ là hai.
Lưỡi đao vung lên.
Đầu của Hào trưởng Đỗ Sán lăn xuống gốc cây đa. Máu tươi phun thành vòi, nhuộm đỏ cả những cuốn sổ giả vung vãi trên mặt đất. Thân người ông đổ gục, hai tay vẫn bấu chặt lấy mặt đất Trường Yên.
Bầy quạ trên cành đa bay tứ tán, tiếng kêu quang quác vang vọng khắp mười hai làng.
**
Từ trên sườn núi đá vôi, qua khe nứt giữa hai tảng đá, Dị Nhân nhìn thấy tất cả.
Chàng há miệng. Một tiếng thét dâng lên từ đáy bụng, cuộn lên qua ngực, nghẹn cứng ở cuống họng. Chàng cắn ngập răng vào cánh tay mình, da thịt rách toạc, máu tràn vào miệng. Mùi máu tanh của chính mình trộn lẫn với vị mật đắng trào lên. Chàng nuốt ngược tiếng thét xuống bụng, nuốt cùng với máu và nước mắt.
Bên cạnh chàng, Hạo quỳ bất động. Y nhìn xuống sân đình qua khe đá, khuôn mặt trắng bệch không hề biến sắc. Không nước mắt. Không run rẩy. Đôi mắt y mở to, trong vắt, nhìn máu người cha chảy loang trên nền đất lạnh với một sự tĩnh lặng kinh người. Tuy vậy, bàn tay y lại đang bấu chặt vào mặt đá, đầu ngón tay bật máu mà y không hề hay biết.
Rồi Dị Nhân chực xô đá, đạp chân chồm xuống. Mũi chân chàng nhấn xuống mép đá. Chàng muốn xuống đó giết lũ lính Minh ngay tại chỗ nhưng chàng biết cha không muốn thế. Đắng cay làm sao khi mà ngay cả lời nói cuối cùng của ông, hai anh em chàng cũng chẳng thể nghe thấy!
Nhưng rồi một ý nghĩ xẹt qua đầu Dị Nhân lạnh lẽo hơn cả lưỡi dao: Minh Hải. Kẻ đang nằm trong căn chòi canh vịt. Từ chỗ đó có thể dễ dàng nhìn thấy toàn cảnh vừa rồi. Tên điên đó mà thấy cảnh này thì hắn nhất định sẽ lao ra. Khi đó tai vạ sẽ không lường nổi.
Dị Nhân rút chân lại. Toàn thân chàng run bần bật, hàm răng nghiến ken két. Chàng quay ngoắt người, lê bước chân lảo đảo, trườn xuống mương nước, lặn qua đoạn bùn lầy đen ngòm, điên cuồng bò về phía căn chòi canh vịt bỏ hoang.
Chàng hất tung tấm phên nứa vỡ nát, đã thấy Lý Minh Hải lù lù đứng đó. Gã võ tướng hai mắt đỏ sòng sọc, gân cổ nổi chằng chịt, chực đạp tung cửa lao ra.
“Dừng lại!”
Dị Nhân lao tới, dùng cả thân người đè Minh Hải dội ngược vào vách chòi. Nhưng sức vóc gã trai làng sao bì nổi cựu binh thành Đa Bang. Minh Hải gầm lên, vung tay hất văng Dị Nhân bay đập lưng vào cọc tre, ngã nhào xuống nền đất phủ đầy phân vịt và bùn nhão.
“Tránh ra!”
Hải nghiến răng, giơ chân đạp tung cánh cửa phên.
“Phụ thân huynh đã bị chúng nó chém đầu ngoài kia kìa! Để ta ra trả thù cho huynh!”
Dị Nhân lồm cồm bò dậy, bùn đất bám đầy khuôn mặt giàn giụa nước mắt. Chàng lao ra dùng chính thân thể mình chặn kín cửa chòi.
Thân hình to lớn của Minh Hải vô tình va thẳng vào người Dị Nhân, khiến chàng choáng váng nhưng vẫn quyết không chớp mắt. Dị Nhân đưa thân mình ra chắn trước lối đi, rít lên từng tiếng vỡ vụn:
“Ngươi bước ra đó... là ngươi đạp lên xác phụ thân ta! Ngươi nghe rõ chưa!”
Minh Hải sững lại. Nhưng cơn điên vẫn cuộn trào. Hắn xách ngược cổ áo Dị Nhân nhấc bổng lên, nhổ vào mặt gã trai trẻ, giọng gầm gừ:
“Huynh là đồ hèn nhát! Phụ thân bị chặt đầu mà rúc đầu ở đây? Huynh sợ chết sao? Buông tay ra!”
Dị Nhân không giải thích. Chàng dùng hai tay túm lấy vai Minh Hải, kéo gã sát rạt vào khuôn mặt mình. Nước mắt, bùn đất và máu hòa lẫn trên mặt. Giọng chàng không gầm thét mà đặc quánh, sắc lẹm:
“Ta hèn? Ừ, ta hèn! Nhưng huynh mở to mắt ra mà nhìn! Phụ thân ta đã dùng tính mạng của mình để câu thêm hai canh giờ cho lũ trai làng có chỗ ẩn nấp! Hai canh giờ đó... là mạng của mấy chục thanh niên Trường Yên đang nằm trong khe núi. Ông ấy xả thân vì lớp trẻ - những người có sức, có chí để kháng Minh. Huynh nghĩ ta không đau đớn sao? Ông ấy là phụ thân của ta! Người đã ban cho ta hình hài này. Hơn ai hết, ta mới là người muốn giết lũ giặc đó vào lúc này.”
Chàng run lên bần bật, đôi mắt vằn máu găm thẳng vào mắt Minh Hải. Giọng chàng hạ xuống thành tiếng thì thầm rợn tóc gáy:
“Ta muốn cắn xé bọn chúng hơn huynh gấp trăm ngàn lần. Nhưng nếu bây giờ ta và huynh nhảy ra làm anh hùng thì ngày mai kỵ binh quân Minh sẽ đến đây băm nát cả mười hai làng, kèm theo đó là dập tắt luôn ngọn lửa mà phụ thân ta đã dày công thắp sáng. Dân làng có tội tình gì cơ chứ? Những đứa trẻ thơ có đáng chết không? Mỗi mạng người còn sống chính là hạt mầm để sau này báo thù lũ giặc. Giờ huynh mà lao ra thì cái chết của phụ thân ta sẽ thành thứ vứt đi vô nghĩa. Huynh muốn thỏa cơn điên, hay muốn rửa hận cho phụ thân ta? Muốn chém, chém ta trước rồi bước ra!”
Căn chòi vịt chìm vào im lặng. Chỉ còn tiếng thở hắt nghẹn ngào của Dị Nhân.
Lý Minh Hải chết trân.
Cánh tay đang xách cổ áo Dị Nhân từ từ buông thõng. Hắn lùi lại một bước, lảo đảo.
Trước mắt gã hiện lại cánh cổng thành Đa Bang đóng sập sau lưng năm ngàn anh em. Bọn quan tướng mặc giáp vàng giáp bạc hô hào nghĩa lớn rồi bỏ chạy. Gã khinh bỉ đến tận xương những kẻ như vậy. Nhưng lúc này, đứng trước mặt gã là một người con trai đang tự tay nhai nát linh hồn mình, nuốt cái nhục mất cha, cắn răng chịu đựng sự phỉ nhổ chỉ để cái chết của cha không trở nên vô nghĩa, chỉ để giữ mạng cho đồng bào.
Hai đầu gối gã khổng lồ từ từ khuỵu xuống. Gã quỳ sụp trong vũng phân vịt nhơ nhớp, đầu gục, hai bàn tay cấu chặt vào lớp bùn đen. Giọng gã khàn đặc, vỡ nát:
“Hải ta dốt nát... chỉ biết cái dũng của kẻ thất phu. Ta trách lầm huynh rồi!”
Gã từ từ ngẩng lên. Trong đôi mắt vằn đỏ vì hận thù, nay bùng lên một thứ ánh sáng khác - thứ ánh sáng mà trước đó gã chưa từng dành cho bất cứ ai, kể cả vua quan nhà Hồ: ánh mắt của kẻ tâm phục khẩu phục.
Gã dập đầu xuống bùn:
“Huynh đã cứu Hải này tận hai lần. Cái mạng này... từ khắc này, do huynh định đoạt!”
Dị Nhân dựa lưng vào vách chòi, lặng đi. Chàng không khóc nữa. Đôi mắt chàng nhìn trân trân ra khe hở của tấm phên nứa, nơi ngọn lửa của giặc Minh đang bốc lên từ phía gốc đa. Chàng dùng bàn tay đẫm máu vuốt mặt, lau sạch nước mắt lẫn bùn, giọng lạnh tanh:
“Đợi trời tối rồi đưa di thể phụ thân đem vào núi. Cẩn thận vẫn hơn.”