Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Tại sân sau nhà Hào trưởng, Đỗ Sán ngồi trước một chậu than hoa rực lửa. Ông đang tự tay ném từng xấp gia phả, thư từ qua lại với quan viên cựu triều vào chậu than. Giấy dó bắt lửa nhanh, cuộn lại thành những ống tròn đen sì, tàn tro bay phất phơ trong gió đêm. Mùi giấy cháy khét lẹt trộn lẫn mùi nhang trầm từ bàn thờ vọng ra. Mỗi xấp giấy bị lửa nuốt, khuôn mặt Đỗ Sán lại co giật nhẹ, như thể ông đang tự tay xé từng mảnh da thịt của dòng họ ném vào lửa.

Ngồi đối diện trên chiếc chõng tre, Trần Nguyên Thúy tợp từng ngụm rượu nếp lớn. Lão già dòng dõi Trần triều, râu tóc muối tiêu, vận bộ áo giao lĩnh đã sờn rách nhưng vẫn giữ nếp thẳng tắp. Ánh mắt vằn lên sự bất lực, hai bàn tay ôm vò rượu run rẩy.

Thúy nhìn đống tro tàn, cười gằn:

“Này lão bằng hữu của ta, cả cái Đại Việt này mất rồi. Ông không buồn sao?”

Đỗ Sán gắp một cục than hồng bỏ thêm vào chậu:

“Buồn thì có ít gì? Bên dưới tôi còn có con dân mười hai làng Trường Yên. Tôi mà đau buồn thì lấy ai ra sức lo cho họ trong thời buổi loạn thế này?”

Thúy lắc đầu ngao ngán, thở dài rằng:

“Kể từ khi Hồ Quý Ly soán Trần lập Hồ, ta đã cùng một số tông thân chạy trốn khắp nơi, lưu lạc tứ xứ. May sao, trời thương người hiền, ban cho nơi ở tại một ngôi làng nhỏ. Nhưng thế sự đổi thay, kẻ bán nước cầu vinh Trần Thiêm Bình lại rước voi về giày mả tổ, cho lũ chó lợn Minh triều một cái cớ để xâm phạm bờ cõi nước Nam. Tên Thiêm Bình đó nào có thuộc tông thất nhà Trần? Chẳng qua chỉ là một kẻ cơ hội, tán tận lương tâm, tận dụng thời thế để mưu cầu lợi riêng. Giờ thì hay rồi, quân Minh dù ban đầu nêu lên khẩu hiệu phù Trần diệt Hồ nhưng giờ chúng chiếm luôn cả nước. Ngôi làng mà ta nương náu cũng bị bọn chúng tàn phá. Ta cùng đứa cháu gái may mắn sống sót lưu lạc đến đây. Cũng nhờ ơn các bậc tiên đế triều Trần phù hộ vậy!”

Đỗ Sán trầm ngâm nhìn chậu than, nói:

“Tôi lần đầu nhậm chức Hào trưởng dưới thời Trần Phế đế. Khi nhà Hồ lập nên thì vẫn đảm đương chức này không thay đổi, tính đến nay cũng đã hai mươi lăm năm rồi. Vận nước đi xuống, lòng người ly tán, tạo điều kiện cho chiến họa nảy sinh. Ông không thử nghĩ mà xem, Hồ Quý Ly nếu học theo Y Doãn, Hoắc Quang thì chẳng phải thiên hạ đã thái bình dưới cờ Trần rồi sao? Đằng này lại học theo Vương Mãng, Hoàn Huyền, khiến cho thiên hạ lầm than. Bằng hữu của tôi ở triều Hồ cũng không ít nhưng giờ họ đều chạy loạn cả rồi. Có người làm đến chức cao có quyền cai quản cả một vùng nhưng giờ họ chỉ lo cho tính mạng của bản thân, không thèm quan tâm đến bá tánh vùng mình cai quản. Thật sự còn thua cả cầm thú! Ông cũng phải gọi là may mắn đấy! Nếu canh ba hôm qua tôi không có việc phải ra ngoài thì đã chẳng thể gặp ông rồi. Điều đó cũng có nghĩa là sáng nay ông cũng sẽ mắc kẹt trong đám dân tị nạn đang lũ lượt đổ về đây. Khi đó thì tôi muốn giúp ông cũng giúp không được.”

Thúy nghe vậy liền ngạc nhiên hỏi:

“Tại sao ông lại không cho họ vào?”

Sán tặc lưỡi nói:

“Không phải tôi không muốn cho họ vào mà là Trường Yên không đủ gạo để nuôi họ. Cho họ vào thì phải lấy gạo trong kho ra phát chẩn cứu tế. Nếu mà kho cạn thì cả Trường Yên này sẽ chết đói mất.”

Thúy hỏi:

“Họ có thể ra sức làm nông để trả lại số thóc đó mà?”

Sán lắc đầu, nói:

“Vụ mùa chưa tới. Giờ phát gạo ra mà đợi đến khi thu hồi lại được thì dân bản xứ cũng đói mốc meo cả rồi.”

Thúy như sực nhớ ra gì đó, bèn lo lắng nói rằng:

“Ôi! Lão hủ quên mất rồi! Đứa cháu gái của lão hủ đi sau. Giờ có lẽ đã mắc kẹt bên ngoài rồi.”

Đỗ Hào trưởng nhăn mặt nói:

“Chuyện lớn như vậy sao bây giờ ông mới nói? Giờ làm sao tôi cứu được cháu ông đây?”

“Không cần đâu!”

Trần Thị Ngân vừa nói vừa cùng Dị Nhân bước vào bên trong.

Thúy mừng rỡ ôm lấy cô cháu gái, nói:

“Ngân nhi của ta! Sao con vào được đây?”

Thị Ngân đáp:

“Nạn dân đã vào được bên trong rồi, thưa bá phụ. Họ đang chờ Đỗ Hào trưởng đây một câu trả lời cho việc mở kho cứu tế.”

Đỗ Sán nghiêm giọng hỏi Dị Nhân rằng:

“Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”

Dị Nhân bình tĩnh trả lời:

“Thưa phụ thân, những nạn dân vì quá đói nên đã hợp sức cùng phá cổng để xông vào. Con đã cho người ở lại canh giữ kho gạo để về đây bẩm báo với phụ thân.”

Đỗ Sán nheo mày hỏi:

“Muốn bẩm báo điều gì?”

Dị Nhân quỳ sụp xuống trước Đỗ Sán, dập đầu thưa rằng:

“Bẩm phụ thân, xin người hãy mở kho cứu đói nạn dân! Nhìn họ đói khổ như vậy, hài nhi thật sự không đành lòng!”

Đỗ Sán nghe thế liền nói:

“Con có biết kho gạo đó chỉ đủ để người dân Trường Yên sống sót qua năm nay không? Vụ mùa thì chưa đến. Làm sao họ có thể vừa ăn vừa làm cho kịp để trả gạo đây? Con muốn ta mang tội làm cả Trường Yên này chết đói hay sao?”

Dị Nhân suy nghĩ một lúc rồi nói:

“Chúng ta có thể vận động người dân trong làng ăn ít lại. Trong nhà ta cũng còn nhiều thóc gạo, có thể đem ra hùn vào.”

Sán cười nhạt, phất tay nói rằng:

“Nhiêu đó ăn nhằm gì! Thôi chuyện đó để ta tính! Con cùng cô nương này cứ lui xuống trước đi!”

Thị Ngân khảng khái nói rằng:

“Bây giờ là lúc cần quyết định liền, thưa hào trưởng. Nếu không có quyết định ngay lúc này thì nạn dân bên ngoài sẽ trở nên mất kiểm soát. Khi đó, cả nơi này cũng sẽ chìm vào cảnh hỗn loạn.”

Dị Nhân cũng dập đầu đến mức chảy máu, thưa rằng:

“Con xin người, phụ thân! Con nguyện nhịn ăn, đem khẩu phần của mình chia cho người dân tị nạn.”

Nghe xong câu nói đó, ánh mắt Thị Ngân nhìn Dị Nhân bỗng khác hẳn. Ánh mắt chứa đựng sự bất ngờ cũng như đôi chút ngưỡng mộ. Cô thấy người đàn ông này rất ra dáng một bậc anh hùng. Trong thời buổi loạn lạc này, một bát cháo còn đáng giá ngàn vàng, thế mà anh ta vẫn chịu nhường phần ăn của mình cho người khác, dập đầu chảy máu để người khác có cái ăn. Thị Ngân cảm thấy có thứ gì đó xao xuyến trong lòng.

Đỗ Hào trưởng im lặng không đáp. Lão Thúy liền tiến tới nói rằng:

“Lão phu cũng nghĩ nên tìm cách cứu lấy nạn dân bên ngoài. Cùng lắm thì ta có thể cho họ một bữa ăn để họ có sức đi nơi khác cũng được.”

Đỗ Sán suy nghĩ một lúc rồi gật gù nói:

“Nhân nhi, nghe lệnh ta! Mở kho cứu tế! Nhưng chỉ tạm dùng một nửa số lương thực trong kho thôi. Dùng số gạo đó để nấu cháo cho họ ăn, đảm bảo tất cả đều được một bữa cháo đặc. Ta sẽ dặn Hạo nhi đi sắp xếp chỗ ở cho họ. Các người nói đúng. Họ cũng giống chúng ta, đều là người Việt cả mà.”

Rồi Sán quay sang nhìn Thị Ngân, mỉm cười hỏi rằng:

“Cô là cháu gái của lão Trần đây đúng không? Khẩu khí cũng khá quá!”

Thị Ngân vội hành lễ, thưa rằng:

“Bẩm, dân nữ họ Trần tên Thị Ngân, xin kính chào Hào trưởng đại nhân!”

Sán cười khanh khách, nói rằng:

“Không cần khách sáo! Đều là người nhà cả. Thế đã có mối duyên nào chưa?”

Lão Thúy bèn chen vào nói rằng:

“Ngân nhi của tôi đến giờ vẫn chưa có ai xứng đáng với nó cả. Thế cậu cả nhà ông đã có mối nào chưa?”

Sán hiểu ý người bạn già, bèn lắc đầu nói:

“Đến giờ vẫn chưa có ai xứng đáng với nó cả.”

Hai người trẻ như hiểu ý của các bậc lão thành, nhìn nhau mỉm cười e thẹn.

Thúy bèn cười lớn:

 “Thằng con ông rất có chí khí! Chi bằng tôi và ông cùng kết thông gia đi! Hãy cho Ngân nhi làm con dâu nhà họ Đỗ! Giao con bé cho nhà ông thì lão phu mới yên tâm được.”

Đỗ Sán nhìn Trần Nguyên Thúy, ánh mắt nheo lại. Ngọn lửa soi rõ nếp nhăn hằn sâu trên trán lão, hằn sâu hơn cả những đường nứt trên nền gạch cũ. Rồi những nếp nhăn ấy bỗng giãn ra, kèm theo đó là nụ cười toe toét nở trên môi ông Hào trưởng:

“Đó cũng là ý của tôi vậy! Ý các con thế nào?”

Dị Nhân và Thị Ngân mặt đỏ bừng, e thẹn nhìn nhau rồi đồng thanh đáp:

“Con đồng ý!”

Thúy cười sằng sặc:

“Thế là bỗng dưng lại có chuyện vui. Đúng là trong họa có phúc, trong phúc có họa mà. Ha ha ha!”

*****

Mấy ngày sau, giặc Minh đã đánh tới Trường Yên. Hào trưởng Đỗ Sán sau một đêm thức trắng, cuối cùng cũng ra quyết định đầu hàng để tránh dân chúng lầm than. Trương Phụ vì thấy thiện ý của Đỗ Sán nên đã quyết định đặc cách, lệnh binh sĩ không được phép tàn hại bá tánh, xâm phạm kho gạo, lại cho phép Đỗ Sán giữ chức vụ cũ, duy trì một lực lượng nhỏ bản địa, phối hợp với mấy ngàn quân Minh đồn trú để giữ trật tự cho mười hai làng Trường Yên. Có người mắng chửi, có người chê trách, nhưng ông không có vẻ gì quan tâm. Đỗ Sán vẫn sinh hoạt bình thường như bao ngày. Đặc biệt, hôm nay, nhà vị hào trưởng lại có hỷ sự.

Gian nhà rường bằng gỗ lim của Đỗ Sán đóng kín mít các lớp cửa bức bàn. Mọi khe hở đều nhét giẻ rách để ánh sáng từ ngọn đèn dầu không lọt ra ngoài, kẻo lính Minh tuần tra đêm dòm thấy. Bên ngoài, xa xa vọng lại tiếng chó sủa ran từng hồi và ánh lửa bập bùng từ những trạm dịch đang bị đốt phá. Gió mang theo mùi tro và mùi khói ướt, lùa qua khe cửa, lay nhẹ ngọn đèn dầu.

Trên chiếc sập giữa nhà, vỏn vẹn một buồng cau héo, mấy lá trầu rách mép và một vò rượu gạo đục ngầu. Bộ chén trà ngày thường được rửa sạch, úp khô, bày lên chiếc khay gỗ sơn đã tróc lở. Bàn thờ tổ tiên ở cuối gian nhà thắp hai ngọn nến đỏ leo lét, hương trầm nghi ngút nhưng không đủ át được mùi ẩm mốc từ nền gạch bốc lên. Trên bàn thờ, bài vị tổ tiên bằng gỗ mít đã ố vàng, chữ son mờ nhạt, lặng lẽ chứng giám đám cưới nghèo nàn nhất từ thuở nhà họ Đỗ lập nghiệp.

Dị Nhân đứng góc nhà, vẫn mặc bộ áo giao lĩnh củ nâu ngày thường, chỉ thêm chiếc khăn vấn đầu mới bằng lụa thô. Chàng đứng thẳng lưng, hai tay xuôi dọc thân người, trông như một cây cột lim mọc giữa nhà.

Từ buồng trong, Trần Thị Ngân bước ra. Nàng không có khăn đỏ che mặt, không có áo gấm thêu hoa. Chỉ vận bộ áo giao lĩnh sẫm màu, thắt bao xanh, mái tóc vấn gọn bằng chiếc trâm sừng hươu. Điểm duy nhất khác thường là trên vạt áo nàng gài một nhành hoa mai trắng vừa hái ngoài vườn, cánh hoa đã hơi héo rũ vì sương lạnh nhưng vẫn giữ một mùi thơm dịu thoang thoảng. Sắc mặt nàng nhợt nhạt, nhưng ánh mắt phẳng lặng, không xao động.

Cả hai lẳng lặng bước tới, quỳ gối xuống nền nhà lạnh buốt trước mặt Đỗ Sán và Trần Nguyên Thúy. Lão Thúy tự tay rót rượu ra hai chiếc chén sành sứt mẻ. Rượu nếp chưa qua màng lọc, sủi bọt đục ngầu. Bàn tay lão run rẩy, rượu tràn ra khỏi miệng chén, nhỏ giọt xuống mặt sập gụ. Lão đẩy hai chén rượu về phía đôi trẻ, gằn từng chữ, giọng khàn vì rượu và nước mắt:

“Dị Nhân, Ngân nhi. Ta biết hai đứa rất buồn vì đám cưới không được đông vui như bao người, nhưng ta cũng mong hai đứa hiểu cho. Bọn ta cũng đã cố hết sức.”

Rồi lão dừng lại, nhìn thẳng vào mắt Dị Nhân, giọng chợt rắn lại:

“Dị Nhân! Con nhận lấy Ngân nhi của ta, thì từ nay phải lấy mạng mình ra che chắn cho nó! Rõ chưa?”

Dị Nhân nhìn chén rượu đục ngầu, rồi quay sang nhìn gương mặt e thẹn của Thị Ngân dưới ánh nến. Chàng bưng chén rượu lên, giọng trầm đục:

“Xin ngài cứ yên tâm! Chừng nào Đỗ Dị Nhân còn thở, quyết sẽ bảo vệ Thị Ngân đến cùng. Con xin cạn.”

Chàng ngửa cổ, ực cạn chén rượu cay xè. Thị Ngân cũng bưng chén rượu lên, uống cạn một hơi, rồi đặt mạnh chén sành xuống mặt sập. Nàng quay sang nhìn người chồng vừa kết tóc, khẽ gật đầu một cái thật nhẹ. Một cái gật đầu thay cho ngàn lời thề.

Đỗ Sán cũng dẫn Đỗ Hạo đi đến. Cả hai cùng nâng ly chúc phúc cho vợ chồng Dị Nhân.

Đỗ Hào trưởng nói rằng:

“Ta hy vọng các con, dù bình an hay gian khó, cũng giữ vững cho mình tình nghĩa vợ chồng, gắn bó chung tình đến đầu bạc răng long.”

Đỗ Hạo cũng đưa chén mà nói:

“Tiểu đệ chúc cho đại ca và đại tẩu trăm năm hạnh phúc, con cháu đầy đàn. Đệ xin cạn chén!”

Bên ngoài gian nhà, sấm chớp rạch ngang trời. Cơn mưa rừng Tam Điệp bắt đầu trút xuống, gõ ầm ầm trên mái ngói, nước chảy ào ào theo rãnh mái, tràn xuống sân thành những dòng suối nhỏ đục ngầu. Mùi đất ướt, mùi rêu, và mùi nhang trầm trộn lẫn vào nhau, tràn ngập gian nhà tối tăm.

******

Sáng hôm sau, cơn mưa đã tạnh nhưng sương mù vẫn đặc quánh, buốt tận xương tủy. Mặt trời nấp sau lớp mây xám dày đặc, chỉ hắt xuống một thứ ánh sáng bạc mờ mờ.

Dị Nhân nai nịt gọn gàng, giắt thanh đoản đao ngang hông, lầm lũi đi tuần dọc theo rìa đầm lầy Tràng An. Phía sau chàng là hai gã tráng đinh cầm giáo tre. Đường mòn ven đầm lầy lội, bùn non ngập quá mắt cá chân, mỗi bước chân nhấc lên đều kéo theo tiếng xọp xọp ướt nhẹp. Lau sậy cao quá đầu người rạp xuống hai bên, lá sậy sắc cạnh cứa vào da thịt, để lại những vệt xước đỏ rát.

Mùi bùn tanh, mùi rong rêu thối, và một thứ mùi khác nồng nặc hơn - mùi máu - xộc lên mũi. Dị Nhân giơ tay ra hiệu cho hai gã tráng đinh dừng lại. Chàng nheo mắt nhìn xuyên qua lớp sương.

Trước mặt họ, ba cái xác lính nhà Minh nằm ngổn ngang trên bờ cỏ. Kẻ bị rạch nát cổ, đầu gần đứt lìa, lủng lẳng dính bằng một mảng da. Kẻ bị đâm thủng bụng, ruột gan phèo cả ra vũng bùn đen. Bầy quạ đen đang rỉa xác giật mình vỗ cánh bay tao tác. Máu đã đông lại thành từng vũng sẫm, ruồi nhặng bu đặc.

“Bọn đồn trú bị phục kích?”

Gã tráng đinh trẻ nhất run rẩy hỏi, giọng lạc đi.

Dị Nhân không đáp. Chàng nheo mắt rà soát dấu vết quanh đó. Vết chân lộn xộn trên bùn, vết máu kéo lê dài từ bờ cỏ xuống sát mép nước. Chàng rút nửa thanh đao khỏi vỏ, chậm rãi bước về phía một gò bùn đang sủi bọt ngay sát một bụi cây mọc ven đầm.

Gò bùn khẽ cựa quậy.

Dị Nhân dùng mũi đao gạt mảng bèo tấp bên trên. Bên dưới lớp bùn lầy đặc quánh là một người đàn ông to lớn, cả người trát đầy bùn máu, gần như hòa lẫn vào mặt đầm. Gã mặc bộ giáp ngư lân - loại giáp vảy cá thường thấy của võ tướng triều Hồ - giờ đã rách bươm, lộ ra những mảng da thịt chằng chịt sẹo cũ lẫn vết thương mới. Sau lưng gã cắm phập hai mũi tên của giặc Minh, máu rỉ ra nhuộm đỏ cả một vùng nước. Bàn tay to bè, gân guốc vẫn nắm nghiến lấy một khúc giáo gãy nát mũi.

Gã tráng đinh lắc đầu nhìn Dị Nhân.

 “Tàn quân nhà Hồ trôi dạt về đây. Hết cứu nổi rồi, đại ca.”

Dị Nhân lẳng lặng ngồi xổm xuống, vươn tay lật người gã lên.

Ngay khoảnh khắc ngón tay chàng chạm vào giáp vai, đôi mắt của cái xác bỗng trợn ngược lên, vằn vện những tia máu đỏ lòm. Như một con dã thú bị dồn vào đường cùng, gã võ tướng bật tung dậy khỏi vũng sình. Không la hét, chỉ gầm gừ một tiếng đục ngầu trong cuống họng, vung khúc giáo gãy đâm thẳng vào yết hầu Dị Nhân.

Keng!

Dị Nhân hơi nghiêng đầu, vung cán đoản đao đập mạnh vào cổ tay đối phương. Khúc giáo gãy văng ra xa. Gã võ tướng mất đà, ngã ụp mặt trở lại vũng bùn, thở hắt ra từng ngụm rệu rã. Dù đã kiệt sức đến tận cùng, gã vẫn cắn nát môi, lết từng chút một toan nhặt lại vũ khí.

Dị Nhân bước tới, giẫm chân lên khúc giáo gãy, từ trên cao nhìn xuống kẻ đang giãy giụa. Chàng ngắm nghía bộ giáp ngư lân rách bươm, đôi mắt chợt sáng lên:

“Giáp ngư lân của thành Đa Bang. Ăn hai mũi tên xuyên giáp, nằm trong bùn cả đêm mà vẫn đâm được một đòn chí mạng. Ngươi tên gì?”

Gã võ tướng nghiến răng kèn kẹt, ngước khuôn mặt dính đầy bùn lầy lên, nhổ một bãi nước bọt lẫn máu về phía mũi giày Dị Nhân:

“Cút đi! Muốn lấy đầu Lý Minh Hải ta đem nộp cho giặc đổi gạo... thì cứ việc chém!”

Dị Nhân không giận. Chàng phì mũi một tiếng, cúi xuống túm lấy cổ giáp ngư lân, nhấc bổng nửa thân người gã lên khỏi mặt nước, nhìn sát vào mắt:

“Cùng là người Việt. Sao có thể tàn nhẫn như thế?”

Chàng quay sang ra lệnh cho hai gã tráng đinh:

“Vớt gã lên! Bẻ gãy hai cán tên đi, đừng rút mũi ra kẻo hắn mất máu mà chết! Còn mấy cái xác của tụi quân Minh, đem đốt hết cho ta! Kẻo lại sinh thêm phiền phức!”

Lý Minh Hải thoi thóp thở, ánh mắt hoang dại nhìn chằm chằm vào bờ vai rộng của gã trai áo vải đang thu đao bước đi phía trước.

*******

Căn chòi canh vịt bỏ hoang nằm sát rìa đầm lầy, mái lợp lá cọ đã mục nát, tường trát bùn nứt nẻ lở loét. Gió lùa qua khe vách mang theo mùi bùn tanh và mùi cỏ thối. Nền chòi trải một lớp rơm rạ ẩm ướt, bầy gián lổm ngổm bò trong góc tối.

Dị Nhân cởi trần, ngồi xổm bên cạnh gã khổng lồ đang nằm sấp trên lớp rơm. Chàng lầm lì nhai dập một nắm lá sài đất, nhổ vào lòng bàn tay, rồi dứt khoát ấn thẳng nắm lá xuống vết thương rách nát trên lưng Minh Hải, dùng giẻ rách cột chặt lại.

Bị xót, Minh Hải giật nảy mình tỉnh lại sau cơn sốt li bì. Gã vội vã thò tay tìm vũ khí theo thói nhà binh, nhưng chỉ quờ trúng đống rơm rạ ướt. Mồ hôi vã ra như tắm, toàn thân run lẩy bẩy.

Ở góc chòi, Dị Nhân ném khúc giáo gãy dính máu xuống nền đất, nhàn nhạt cất tiếng:

“Giáo của huynh gãy rồi. Tôi là Đỗ Dị Nhân, người làng Trường Yên. Ba tên lính Minh nằm chết ngoài đầm lầy kia đều là do anh đúng không? Bộ giáp của huynh, tôi để ở góc kia. Huynh là tàn quân nhà Hồ đúng không? Chạy loạn từ tận Đa Bang tới đây sao?”

Minh Hải lồm cồm chống tay ngồi dậy, lồng ngực vạm vỡ phập phồng. Gã nhìn Dị Nhân, lại nhìn bộ giáp dính đầy bùn đất từng là niềm kiêu hãnh của mình nay nằm góc xó như đống sắt vụn. Gã cười nhạt, nụ cười thê lương:

“Tàn quân nhà Hồ sao? Nói vậy thì ta vẫn có triều đình để phục vụ, nhưng ngươi nhìn xem, giờ ta chẳng khác nào một con chó bị bỏ rơi, không nơi nương tựa.”

Rồi gã đưa tay quệt mồ hôi lạnh trên trán, ánh mắt vằn đỏ:

“Tháng Chạp vừa rồi, Đa Bang vỡ. Trương Phụ xua hàng vạn thiết kỵ giẫm nát phòng tuyến. Ta dẫn năm ngàn huynh đệ tiên phong tử chiến ở cổng thành phía Tây, đinh ninh đại quân phía trong sẽ tràn ra tiếp ứng...”

Giọng gã bỗng run lên vì phẫn nộ. Hai bàn tay siết chặt lại, đốt ngón tay kêu răng rắc:

“...Nhưng ngươi biết lũ khốn kiếp mặc giáp vàng giáp bạc đó làm gì không? Hô hào tử thủ đấy, nhưng bí mật khóa chặt cổng thành phía Tây. Nhốt năm ngàn huynh đệ ta và ba vạn dân đen ở bên ngoài làm bia thịt cản vó ngựa, để đổi lấy thời gian cho cha con hoàng tộc mở cổng phía Nam mà tháo chạy!”

Gã ngước lên nhìn Dị Nhân, đôi mắt hằn học:

“Ta tận mắt thấy kỵ binh giặc xiên chết từng đứa trẻ con. Thấy chúng lột da đồng đội ngay trước mặt. Còn triều đình? Mang theo lương thảo, cờ quạt, chạy tít vào mạn Nam, gọi đó là ‘bảo toàn xã tắc’. Cái ngai vàng chết tiệt của bọn chúng được đắp lên bằng ba vạn cái xác không đầu ở Đa Bang!”

Gã thở hổn hển, ngực phập phồng dữ dội, vết thương trên lưng rỉ máu ướt đẫm lớp giẻ rách. Nhưng gã không buồn để ý, mắt vẫn đỏ ngầu, giọng gằn từng chữ:

“Đến lúc lâm nguy mà chỉ biết tìm đường chạy cho riêng mình, thì dẫu sau này có bị bắt hay bị xẻ thịt, cũng không rửa sạch được vũng máu huynh đệ ta ở Đa Bang.”

Căn chòi chìm vào im lặng. Chỉ còn tiếng ếch nhái kêu ngoài đầm lầy, đều đều, vô cảm.

Dị Nhân vốn chẳng ưa quan lại triều đình, nghe chuyện này cũng không lấy làm lạ. Chàng lẳng lặng rót một bát nước vối đục ngầu, đưa cho Minh Hải.

“Huynh hận triều đình vì bọn chúng lừa huynh đem mạng ra cản giặc cho chúng tháo thân sao?”

Dị Nhân khẽ lắc đầu, chép miệng:

“Những kẻ đó, huynh không nên bán mạng làm gì. Những người huynh nên bảo vệ là những người dân tay không tấc sắt kia kìa. Họ mới là những người thật sự cần được bảo vệ trong thiên hạ này.”

Dị Nhân ngồi xổm xuống trước mặt Minh Hải, nhìn thẳng vào mắt gã, giọng trầm đục:

“Huynh đang ở Trường Yên và Trường Yên không có ngai vàng nào cho huynh phò tá. Ở đây chỉ có những người dân lương thiện đang cố không bị bọn giặc Minh ép chết mà thôi. Nơi đây đang rất cần một cánh tay to khỏe để đề phòng bất trắc.”

Gã vỗ nhẹ lên chuôi đoản đao bên hông:

“Tôi nghĩ huynh nên ở lại đây. Tôi sẽ cho huynh chỗ ăn chỗ ở, đổi lại chỉ mong huynh ra sức vì Trường Yên.”

Minh Hải nhìn trân trân vào chàng trai trẻ áo vải trước mặt rồi y phì cười. Một nụ cười rệu rã nhưng nhẹ nhõm, lần đầu tiên kể từ khi cổng thành Đa Bang đóng sập sau lưng gã.

Minh Hải cầm bát nước vối lên uống cạn, ném cái bát lăn lóc xuống góc chòi, giọng khàn đặc:

“Đa tạ! Ta đây hiện đang là kẻ không nhà, không chủ. Ơn tri ngộ của Đỗ huynh, Hải ta xin nhận lấy. Lý Minh Hải giờ đây xin nguyện dốc sức vì Trường Yên!”

Dị Nhân khẽ gật đầu. Chàng đứng dậy, phủi bùn trên đầu gối, bước ra cửa chòi. Sương mù vẫn đặc quánh bên ngoài, phủ kín mặt đầm lầy. Chàng dừng lại ở bậc cửa, quay đầu lại, mỉm cười nói:

“Dưỡng thương cho lành đi, huynh đệ của ta!”

Trong căn chòi hoang rách nát ven đầm lầy Tràng An, Lý Minh Hải nằm ngửa trên lớp rơm ẩm, nhìn lên mái lá cọ mục nát, thấy qua khe hở một mảng trời xám đục. Gã khẽ nắm lại bàn tay to bè đã trống không, nơi vốn quen siết chuôi gươm. Lần đầu tiên kể từ đêm Đa Bang vỡ, gã nhắm mắt lại mà không thấy xác đồng đội chất đống sau mi.

 

Bàn chân giấu vết thất tinh,

Giặc Minh càn quét, điêu linh cõi bờ.

Trần nương kết nghĩa tóc tơ,

Thu dung Minh Hải, giữ bờ Trường Yên.

- Hết hồi một -

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px