Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Con Đường Thái Bình

Hồi 1 - Thượng

Cơ đồ ngập bóng lầm than,

Đa Bang vỡ nát, muôn ngàn bi thương.

Giặc Minh gieo rắc tai ương,

Trường Yên khép cổng, đoạn trường xót xa.

 

Chuyện kể rằng, vào cuối thời nhà Trần, thiên hạ đương lúc thái bình mà mạch đất Trường Yên lại âm ỉ những luồng khí khác thường.

Đúng đêm tiết Kinh Trập, trời Trường Yên không có mưa, nhưng sấm chớp từ mạn phương Bắc kéo về rạch nát màn đêm. Tiếng sấm nổ rền như hàng vạn tiếng trống trận dội thẳng xuống vách núi Tràng An, dội ngược lại, vang vọng khắp mười hai làng. Vượn cáo trong đầm lầy đồng loạt rống lên từng hồi, tiếng rống bất an xé toạc sương đêm. Chó nhà ép bụng sát đất rúm ró. Bầy dơi ở miếu hoang bay từng đàn lớn, loạng choạng đâm vào vách đá rồi rơi lộp bộp xuống mặt nước đầm.

Đúng vào khắc sấm nổ to nhất, phu nhân của Hào trưởng Đỗ Sán trở dạ. Mụ bà gào lên gọi nước nóng, hai đứa ở gái cuống cuồng bê chậu đồng ra giếng múc, nước giếng bắn tung tóe lên nền sân gạch ướt nhẹp sương đêm. Mùi máu tanh ngòm trộn lẫn mùi ngải cứu và vỏ bưởi đun sôi tràn ra khắp gian buồng.

Đứa trẻ lọt lòng không khóc ngay. Nó mở to đôi mắt đen thẳm, tĩnh lặng nhìn chằm chằm vào ngọn đèn dầu đang nhảy múa bập bùng trên chiếc đĩa sành. Mụ bà hoảng hốt vỗ mông, lắc chân, lật ngửa lật sấp đứa bé nhưng nó vẫn không khóc. Cho đến khi Đỗ Sán bước vào, đưa hai bàn tay gân guốc nâng thân hình đỏ hỏn bé tẹo lên ngang mặt, đứa trẻ mới cất một tiếng khóc dõng dạc, vang dội lấn át cả tiếng sấm ngoài trời. Sán rùng mình. Tiếng khóc ấy trong vắt và sắc lẹm, không giống tiếng khóc oe oe yếu ớt của trẻ sơ sinh, mà giống tiếng quát tháo của kẻ vừa đặt chân xuống cõi trần gian, dõng dạc báo cho quỷ thần biết ta đã tới.

Khi mụ bà cẩn thận dùng nước lá sài đất lau rửa cho đứa trẻ, Đỗ Sán đứng bên cạnh, tay khoanh trước ngực, mắt dõi theo không rời. Ông vốn đọc nhiều sách thánh hiền, lại am tường tướng số. Bỗng dưng mặt ông biến sắc. Ông vội vàng giật lấy ngọn đèn cầy từ tay đứa ở, khuỵu gối xuống, soi sát vào lòng bàn chân trái của đứa bé.

Dưới ánh lửa leo lét, trên lòng bàn chân nhỏ xíu trắng ngần, hiện rõ bảy nốt ruồi đỏ chót như son, xếp thành hình vòng cung sắc lẹm. Ông nhận ra hình thế này: Chòm sao Bắc Đẩu.

Bàn tay cầm đèn của Đỗ Sán run lên bần bật. Ông vội lấy vạt áo che kín chân đứa trẻ, quay ngoắt lại, quát đuổi hết mụ bà và người hầu ra ngoài, đóng sập cửa buồng. Ngọn đèn dầu trên đĩa sành chao đảo vì gió lùa, hắt cái bóng gầy guộc của ông in xiêu vẹo lên vách tường vôi loang lổ.

Ông biết quá rõ dị tướng này. Trong sử sách xưa nay, kẻ sinh ra có nốt ruồi dưới lòng bàn chân là bậc vương hầu, nhưng kẻ có đủ bảy nốt ruồi xếp thành chòm Bắc Đẩu thì gọi là “Thất tinh đạp địa” (Chân đạp bảy sao). Kẻ mang dị tướng này, gót chân giẫm xuống đâu là thiên hạ đại loạn đến đó. Lớn lên nếu không làm thống soái thâu tóm binh quyền, giẫm đạp lên hàng vạn xác người, thì cũng là kẻ mang tội tru di cửu tộc, lật đổ cả một ngai vàng.

Mồ hôi lạnh toát ra, ướt đẫm trán ông. Đất Trường Yên chỉ là một nốt chấm nhỏ xíu của Đại Việt. Nhà họ Đỗ chẳng qua là hạng Hào trưởng làng xã, chỉ biết cầm cày và nương nhờ bổng lộc vua Trần. Mang trong nhà một đứa trẻ thế này, phúc chưa thấy mà họa diệt môn đã kề tận cổ. Bất cứ một tên quan triều đình nào nhìn thấy bảy nốt ruồi kia, đứa trẻ chắc chắn không sống nổi qua đêm.

Đỗ Sán ôm đứa trẻ vào lòng rồi quỳ xuống trước bàn thờ tổ tiên, nơi khói nhang trầm lạnh đã tắt từ lâu, chỉ còn sót lại một vệt tro mỏng phủ trên bát hương đồng xỉn màu. Ông run rẩy mở chiếc rương gỗ mít dưới chân bàn thờ, lấy ra một tấm lụa điều đỏ rực - kỷ vật quý nhất của dòng họ, tương truyền từ đời ông nội để lại. Tấm lụa mềm mại, thơm thoang thoảng, rực lên dưới ánh lửa như một giọt máu đông đặc.

Ông tự tay quấn chặt tấm lụa quanh thân hình đứa bé sơ sinh, che kín đôi bàn chân mang hình Bắc Đẩu, rồi cắn răng khấn nguyện, giọng khàn đục như tiếng rạn nứt của gỗ mục:

“Con ta sinh ra mang dị tướng, số mệnh quá lớn, e rằng quỷ thần đố kỵ. Nay ta dùng tấm lụa điều này ủ ấm sinh khí, cầu mong rằng sau này con chẳng gặp điều bất trắc.”

Ông nhìn đứa trẻ đang chìm vào giấc ngủ ngoan ngoãn trong tấm lụa đỏ. Gương mặt nó thanh thản kỳ lạ, môi mấp máy, như thể nó đã biết trước sóng gió cuộc đời nhưng chẳng thèm bận tâm. Đỗ Sán bấm đốt ngón tay, khẽ nuốt nước bọt, cất giọng trầm trầm:

“Hung nhiều hơn cát, e rằng sau này sẽ gặp không ít sóng gió. Bàn chân giẫm bảy vì sao là kẻ khác biệt. Vậy cứ gọi con là Dị Nhân. Dị tướng giấu bên trong, Dị Nhân giấu giữa đời thường. Chỉ mong con trọn đời bình an, đừng bao giờ phải dùng đến cái mệnh cách đạp nát thiên hạ kia.”

Bên ngoài, sấm vẫn chưa ngớt. Đứa trẻ ngủ say trong tấm lụa đỏ, hai bàn chân bé xíu mang bảy vì sao co quắp lại, ấm áp và vô hại. Đỗ Sán ngồi ôm con suốt đêm, lưng tựa vào bàn thờ, mắt nhìn trân trân ra khoảng tối ngoài cửa.

Hai mươi lăm năm trôi qua kể từ đêm sấm động ấy.

Cái tên Đỗ Dị Nhân đã quen thuộc với dân mười hai làng như một chàng trai trầm tính, vững chãi của nhà Hào trưởng. Không ai biết về bí mật dưới lòng bàn chân trái. Tấm lụa điều năm xưa được cất kỹ dưới đáy rương, cùng với lời nguyện cầu của một người cha mong con mình bình an.

Nhưng bình an là thứ xa xỉ nhất trên cõi đời loạn lạc.

Cuối năm Bính Tuất, đại quân nhà Minh do Trương Phụ chỉ huy tràn vào bờ cõi, kéo theo những cơn bão máu tàn khốc nhất kể từ thuở lập quốc. Tháng Chạp, thành Đa Bang vỡ. Rồi Đông Đô vỡ. Cơ đồ nhà Hồ bắt đầu tan rã. Tin dữ từ mạn ngược dồn dập đổ về Trường Yên như nước lũ tràn bờ, mỗi ngày một tối tăm hơn ngày trước.

*

Tháng Chạp năm Bính Tuất. Bầu trời Trường Yên xám xịt, vẩn đục màu khói khét lẹt thổi về từ mạn Đa Bang. Gió bấc thốc từng cơn mang theo mùi cháy rất lạ, không phải mùi rơm rạ, không phải mùi gỗ mục. Thứ mùi ấy ngòn ngọt, tanh nồng, ám vào vạt áo và tóc, cào xước cuống họng. Ai từng qua chiến trận đều nhận ra: mùi thịt người bị đốt.

Trên chòi canh bằng gỗ lim đặt ngay cổng chính của mười hai làng, ba người đàn ông đứng lặng nhìn xuống con đường đất cái quan. Bên dưới, từng đoàn tàn quân nhà Hồ vứt bỏ giáp trụ lổn nhổn ven đường, chen lấn cùng đám dân tị nạn rách rưới đang lê lết tháo chạy. Lẫn trong đám đông là những kẻ bị cắt trụi tai, xẻo mũi, máu me đã đóng vảy đen xì trên mặt. Tiếng khóc than, tiếng chửi rủa, tiếng trẻ con gào khản đặc hòa vào nhau thành một thứ âm thanh rền rĩ không dứt.

Đứng ở vị trí chính giữa là Đỗ Sán. Ông đã ngoài năm mươi, vận bộ áo giao lĩnh bằng lụa thô màu tro đã sờn mép, vạt áo phấp phới trong gió rét. Mái tóc hoa râm búi gọn bằng một chiếc trâm sừng trâu. Khuôn mặt ông hằn sâu những nếp nhăn của một đời luồn cúi lo toan cho mười hai làng, đôi mắt lờ đờ vì thức trắng nhiều đêm nhưng vẫn sắc như mắt diều hâu mỗi khi rà xuống đám đông bên dưới. Ông chắp hai bàn tay gân guốc sau lưng - đôi bàn tay thô ráp vì cầm cày cầm cuốc chứ chưa từng cầm gươm đao.

Nhìn cảnh nước mất nhà tan, ánh mắt ông không có sự bi phẫn của kẻ sĩ. Chỉ có sự cảnh giác cực độ của một con thú già đang đánh hơi mùi nguy hiểm, sẵn sàng cắn xé bất cứ thứ gì dám bén mảng tới gần bầy đàn. Ông cất giọng khàn đục, ra lệnh cho đám tráng đinh bên dưới:

“Đóng cổng lại! Chèn thêm gỗ lim! Bắt đầu từ hôm nay, nội bất xuất, ngoại bất nhập.”

Đứng chếch sang bên trái là cậu cả Đỗ Dị Nhân, hai mươi lăm tuổi. Trái ngược với dáng vẻ gầy guộc của Đỗ Sán, Dị Nhân vóc người vạm vỡ, bả vai rộng và vững chãi như tảng đá núi Tràng An. Chàng vận bộ áo giao lĩnh vải củ nâu mộc mạc, ống tay áo xắn cao để lộ những bắp tay cuồn cuộn gân xanh. Khuôn mặt góc cạnh, quai hàm bạnh ra, đôi mắt đen thẳm và sắc lạnh, lông mày rậm chau lại thành một đường thẳng tắp mỗi khi chàng cắn răng nhìn xuống biển người rách rưới bên dưới. Bàn tay phải chàng đặt hờ lên chuôi thanh đoản đao dắt ngang hông. Bàn tay ấy chằng chịt những vết chai sần của kẻ tập đao từ thuở mười lăm.

Nghe lệnh đóng cổng, Dị Nhân nhíu mày. Chàng nhìn xuống đám người đang kêu gào ngoài cổng, trong đó có một mụ đàn bà ôm đứa trẻ bọc trong tấm chiếu rách. Đứa trẻ im lặng, không khóc, mặt xám ngoét. Dị Nhân cắn chặt hàm răng, khẽ cất tiếng:

“Phụ thân... đóng cổng lúc này, bọn họ sẽ làm mồi cho kỵ binh Trương Phụ mất.”

“Huynh đừng để tâm đến mấy chuyện không đâu! Chúng ta lo bản thân còn chưa xong. Sao có thể lo cho đám người đó chứ? Nếu mở cổng ra thì liệu đất Trường Yên này có nuôi nổi từng ấy người không? Hay tất cả đều ôm nhau mà chết đói?”

Một giọng nói đều đều, lạnh tanh, không gợn chút xao động, vang lên từ phía bên phải. Đỗ Hạo bước lên đứng ngang hàng với anh trai. Mười tám tuổi, Hạo trông lạc lõng giữa hai người đàn ông gai góc của nhà họ Đỗ. Hạo cao và gầy, dáng dấp thư sinh, lưng thẳng tắp. Y mặc chiếc áo giao lĩnh lụa xám nhạt tươm tất, mái tóc đen lánh búi gọn gàng bằng chiếc trâm trúc. Làn da trắng bệch vì quanh năm giam mình trong phòng đọc sách, bàn tay búp măng thon dài, sạch bong không tì vết. Đó là bàn tay của kẻ chỉ quen cầm bút lông, chưa từng dính bùn đất, máu tươi.

Hạo quay sang nhìn Dị Nhân, giọng ôn tồn nhưng từng chữ sắc như dao cạo:

“Phụ thân chọn đúng rồi, đại ca à. Huynh nhìn kỹ đi! Tàn quân nhà Hồ vứt cả cờ quạt mà chạy, cơ đồ vỡ tan tành rồi. Chúng ta phải tự lo cho bản thân mình thôi!”

Y ngừng lại, đưa mắt nhìn thoáng qua mụ đàn bà ôm đứa trẻ xám ngoét dưới chân cổng, rồi thản nhiên nói tiếp:

“Sống chết có số. Âu cũng là ý trời muốn họ như vậy chăng? Đã là ý trời thì ta đừng nên làm trái.”

Ba bóng người in hình trên nền trời xám xịt. Dị Nhân nhìn Hạo, khẽ cắn môi. Bên dưới, tiếng cổng gỗ lim nặng nề rít lên ken két rồi đóng sập lại, từ chối tất cả những kẻ còn đang đứng bên ngoài.

Dị Nhân thở dài ngán ngẩm. Thời buổi loạn lạc này sao tàn nhẫn quá! Cùng là con người với nhau nhưng tình cảnh buộc họ phải giết hại lẫn nhau để sinh tồn. Phải chăng trời đất đã đui mù rồi sao? Lũ giặc Minh tàn ác chẳng khác nào cầm thú. Bọn nó giết hại dân lành, tàn sát người Việt. Nếu ông trời có mắt thì lũ yêu nghiệt này sớm muộn gì cũng bị trừng phạt thích đáng.

Dị Nhân nghiến răng nhìn xuống biển người bên ngoài. Từ trong đám đông bỗng tách ra một gã đàn ông mặt mũi lấm lem, vai đeo xác một đứa trẻ đã chết cứng. Gã quỳ sụp trước cổng gỗ, đập đầu xuống đất bình bịch, gào lên bằng giọng khản đặc:

“Mở cổng! Xin mở cổng cho con! Con của con chết rồi! Xin ngài cho con vào chôn nó, cho nó có ba thước đất mà nằm, đừng để nó thành ma đói lang thang!”

Tiếng gào xé ruột xé gan vọng lên chòi canh. Dị Nhân nắm chặt chuôi đao, lưng cứng đờ. Chàng muốn bước xuống mở cổng, nhưng nhìn sang Đỗ Sán đứng im phăng phắc, mắt nhìn thẳng về phía trước. Hạo cũng đứng im, mặt lạnh như đá, tay khẽ xoay chiếc trâm trúc trên tóc.

Tiếng đập đầu và tiếng gào thưa dần, rồi tắt hẳn. Gã đàn ông ôm xác con lết đi trong sương mù lạnh buốt, mất hút ở khúc quanh cuối con đường cái quan.

Dị Nhân đứng trên chòi canh, hai bàn tay siết chặt lan can gỗ đến bạc cả đốt ngón tay. Chàng không quay đầu lại. Hàm răng gã nghiến ken két, âm thanh ấy nhỏ lắm, nhưng trong gió bấc im ắng, cả hai người đứng bên cạnh đều nghe rõ mồn một.

**

Chiều hôm ấy, Đỗ Sán ra lệnh mở hé cổng cho đám tráng đinh ra ngoài thu thập tin tức và nghe ngóng tình hình. Dị Nhân dẫn đầu, Hạo lẽo đẽo theo sau. Những gì họ thấy ngoài cổng làng, cho đến chết Dị Nhân cũng không quên nổi.

Dọc ven đường cái quan, xác người nằm la liệt. Có kẻ bị rạch ngang cổ, đầu lật ngửa ra sau gập gãy như cành cây khô, mắt vẫn mở trừng trừng nhìn lên trời. Có kẻ bị mổ bụng, ruột gan xổ tràn ra đất, bầy chó hoang đang giành nhau giằng xé. Nặng nhất là ba cái xác bị lột da, treo ngược lên cành cây gạo ven đường. Da bị lột từ cổ xuống đến bụng, ruồi nhặng bu kín thành từng lớp đen xì, tiếng vo ve ong ong rung cả cành cây.

Mùi tử khí nồng nặc xộc vào mũi. Hai gã tráng đinh đi sau Dị Nhân quay mặt nôn thốc nôn tháo. Dị Nhân cũng lùi lại một bước, hàm răng cắn chặt vào cổ tay áo để nén cơn buồn nôn, mắt đỏ ngầu. Chàng rùng mình. Những xác chết này đâu phải lính. Toàn dân thường. Đàn bà, trẻ con, người già. Xác một bà lão bị chặt đứt hai bàn tay, có lẽ vì bà túm lấy cương ngựa cầu xin. Xác một đứa trẻ chừng năm sáu tuổi bị vó ngựa giẫm bẹp lồng ngực. Lũ quân Minh chẳng phù Trần diệt Hồ như chúng rêu rao. Chúng tàn sát dân Việt.

Dị Nhân nhớ lại hồi nhỏ, con đường cái quan này mỗi dịp chợ phiên đông đúc bao nhiêu, giờ chỉ toàn xác người và ruồi nhặng. Mới hôm nào thái bình còn là chuyện đương nhiên. Giờ nó đã thành thứ xa xỉ nhất trên đời.

Giữa lúc Dị Nhân đứng chết lặng trước bãi xác, Hạo bước tới bên cạnh. Đứa em trai chàng im lặng nhìn xung quanh. Rồi ánh mắt nó dừng lại nơi chàng. Đỗ Hạo cất giọng run rẩy:

“Huynh à, đệ…”

Chưa nói hết câu, Hạo đã ngã khuỵu ra đất, tay chân run lẩy bẩy. Nó quá sốc trước cảnh tượng hãi hùng trước mắt. Mười tám năm vùi đầu vào sách vở có thể giúp Hạo có kiến thức hơn người, nhưng trải nghiệm của nó vẫn quá ít để chịu được những cú sốc thế này. Nó đã đọc nhiều sách nên cũng biết sơ lược qua những lời văn miêu tả về những cảnh chiến tranh khói lửa, nhưng nay, Hạo mới thấy thực tế khác biệt cỡ nào.

Dị Nhân bèn chạy đến đỡ lấy đứa em trai, ôn tồn nói rằng:

“Bình tĩnh nào! Bình tĩnh! Có đại ca ở đây rồi!”

Hạo run cầm cập, đôi mắt ngấn lệ như muốn sắp òa khóc đến nơi. Hạo nói:

“Sao chúng ta lại phải sống vào thời này hả, đại ca? Những kẻ đang nằm ở kia cũng là người mà. Chẳng lẽ họ không đáng sống hay sao? Đệ cảm thấy hối hận vì những lời nói khi ở trên trạm gác quá. Nếu cho họ vào thì có lẽ đã không…”

Nói rồi, Hạo òa lên khóc nức nở như một đứa trẻ.

Dị Nhân nhẹ nhàng xoa đầu đứa em trai. Những gì Hạo nói trên trạm gác là những lời gan ruột mà chàng hay thậm chí người cha Đỗ Sán đã không dám nói. Việc không cho thêm người bên ngoài vào, thoạt nhìn có vẻ tàn nhẫn nhưng đối với chàng, đó là cách duy nhất có thể giữ mười hai làng tránh bị liên lụy trong hoàn cảnh hiện tại. Chàng đã không dám nói ra khi đó. Cha chàng lại càng không. Và người đứng ra đóng vai kẻ ác nhằm bảo đảm an toàn cho tất cả lại là Hạo. Đứa em trai này quá thông minh. Chàng tự hào về nó, nhưng thông minh quá mức cũng có thể khiến bản thân chịu nhiều thương tổn.

Dị Nhân vuốt má Hạo, mỉm cười hiền từ, nói với giọng trấn an rằng:

“Quyết định của đệ là đúng đắn! Đệ đừng tự trách bản thân nữa! Nào, đi với đại ca nhé! Chúng ta quay về thôi!”

Hạo úp mặt trong ngực áo anh trai, ngoan ngoãn gật đầu. Hai anh em sau đó dìu nhau về nhà trên con đường tràn ngập xác người và máu tanh.

***

Ba ngày sau.

Tin dữ tiếp tục đổ về. Quân Minh không dừng lại ở Đa Bang mà tràn xuống như nước vỡ bờ, nuốt chửng từng vùng đất. Đông Đô thất thủ. Cha con Hồ Quý Ly bỏ chạy về phương Nam. Dọc đường, lính Minh đốt phá trạm dịch, cắt đứt mọi đường tin tức, vây bít từng phủ, từng huyện. Trường Yên như một hòn đảo nhỏ giữa biển lửa, chưa bị đánh nhưng đã bị vây kín tứ bề bằng nỗi sợ.

Dân tị nạn vẫn ùn ùn kéo về. Cổng làng đóng chặt nhưng họ dồn ứ lại ngoài cổng, dựng lều bạt tạm, gào khóc đòi vào. Tiếng khóc ngày đêm không ngớt, vọng qua tường gỗ, ám vào giấc ngủ của dân mười hai làng.

Rồi một buổi sáng, khi sương chưa tan hết, đám đông tuyệt vọng bên ngoài đã xông thẳng vào Trường Yên. Cổng bị phá bằng một khúc gỗ lim đâm thủng then cài. Hàng trăm con người gào khóc, xô đẩy, chen lấn tiến về phía kho lương.

Tiếng la hét vang rền cả sân đình:

“Gạo! Gạo! Mở kho ra!”

Đỗ Dị Nhân đứng chắn trước cánh cửa kho. Chàng vận áo giao lĩnh củ nâu, tay nắm chặt chuôi đoản đao. Cánh cửa kho đóng bằng ổ khóa đồng to bằng nắm đấm, chùm chìa khóa lủng lẳng bên hông gã. Mặt chàng lạnh tanh, đưa mắt quét qua đám đông như quét qua một bầy thú đói.

Một gã tị nạn to khỏe, mắt đỏ ngầu vì đói, gầm lên một tiếng rồi lao thẳng tới, toan giật chùm chìa khóa. Dị Nhân không rút đao. Chàng chỉ hơi xoay hông, tung một cú đá vào giữa ngực, khiến gã tị nạn văng ngược lại, lăn mấy vòng trên sân gạch, hộc ra một bụm máu tươi.

Dị Nhân rút nửa thanh đao ra khỏi vỏ. Tiếng kim khí cọ xát rít lên trong sân đình im phắc. Chàng gầm lên, giọng trầm đục vang vọng:

“Còn kẻ nào dám hung hăng như vậy nữa?”

Đám đông chết khiếp, dạt ra như thủy triều rút. Sân đình rơi vào khoảng lặng, chỉ nghe thấy tiếng rên rỉ của kẻ đang ôm ngực lết dưới đất.

Ngay lúc ấy, từ trong đám đông, một người đàn bà lẳng lặng bước lên.

Nàng mặc áo giao lĩnh sẫm màu đã bạc, thắt bao xanh ngang lưng, mái tóc vấn gọn bằng chiếc trâm sừng hươu giản dị. Người gầy, dáng nhỏ, nhưng bước chân vững vàng, lưng thẳng tắp. Sắc mặt nhợt nhạt vì sương lạnh, nhưng ánh mắt phẳng lặng như mặt nước giếng khơi.

Nàng không hề tỏ ra sợ hãi trước Dị Nhân. Nàng bước thẳng tới sát bên cạnh Dị Nhân, liếc nhìn người đàn ông đang hộc máu dưới đất, rồi cất giọng rằng:

“Đao kiếm dùng để chém giặc, cớ sao lại đem dọa nạt dân mình?”

Dị Nhân nhíu mày nhìn cô nàng đang đứng trước mặt, hỏi:

“Cô là ai? Cô biết kho gạo này dùng để nuôi dân mười hai làng Trường Yên không? Nếu lấy gạo trong đây ra phân phát thì con dân Trường Yên biết sống bằng gì đây?”

Nàng ta bước ra giữa đám đông, vừa đi vừa cất giọng dõng dạc rằng:

“Vừa rồi, đại nhân đây đã hỏi ta ba câu hỏi. Trước khi ta trả lời, cảm phiền đại nhân cũng trả lời ba câu hỏi của ta. Thứ nhất, dân mười hai làng Trường Yên và những con người đứng đây có cùng dòng máu người Việt không? Thứ hai, nếu đã cùng là người Việt, con cháu Vua Hùng, nòi giống Rồng Tiên, thì cớ sao lại bức bách nhau đến thế? Những người ở đây không chỉ biết ăn rồi rời đi. Những nạn dân đến đây cũng để tìm nơi an cư lạc nghiệp mới, tránh đi chiến loạn bên ngoài. Họ cũng sẽ làm việc đồng áng, phụ giúp bà con mười hai làng. Cứ coi như chỗ gạo hôm nay là họ vay mượn, sau này họ sẽ trả lại tất cả, thậm chí còn nhiều hơn. Vì thế, câu hỏi thứ ba sẽ là: Đại nhân, ngài còn gì để nói hay không? Nếu để những người này chết đói thì người Trường Yên khác gì lũ giặc Minh tàn ác kia chứ?”

Dị Nhân im lặng không đáp. Người đàn bà này đã nói ra hết những nỗi băn khoăn nằm sâu trong tâm khảm của chàng: Cùng là người với nhau, sao nỡ lòng nhìn nhau mà không cứu giúp? Tuy vậy, ở trên vẫn còn người cha Đỗ Sán nên Dị Nhân cũng không thể làm gì khác được. Những lý lẽ của cô nàng đang đứng trước mặt khiến cho Dị Nhân thán phục, nhưng ở đây, chàng không có quyền quyết định lớn đến vậy.

Dị Nhân gật gù, nói:

“Hãy để ta quay về báo lại với Đỗ Hào trưởng rồi sẽ tính sau!”

Nàng ta thấy vậy bèn bảo rằng:

“Vậy ta sẽ đi cùng ngài! Chí ít cũng phải có người đứng trước mặt Đỗ Hào trưởng đòi lại công bằng cho nạn dân.”

Dị Nhân sững lại. Chàng nhìn người phụ nữ trước mặt với sự nể phục không nhỏ. Nàng ta không hề lùi bước, ánh mắt tuyệt nhiên không có lấy một tia dao động.

Dị Nhân liền cười hỏi:

“Cô nương là ai?”

Người đàn bà đáp:

“Cứ gọi là Trần Thị Ngân.”

Im lặng một hồi lâu. Tiếng gió bấc thổi qua mái đình vi vu. Rồi Dị Nhân sai người canh giữ kho thóc, sau chậm rãi quay bước rời đi về phía nhà Hào trưởng, cố tình chần chừ một lúc để Thị Ngân đuổi theo kịp.

Lát sau, Dị Nhân mới biết rằng: Nàng ta vốn là cháu gái của Trần Nguyên Thúy, dòng dõi cựu triều Trần lưu lạc ở đất Trường Yên.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px