1. Cơm mệ quê cha.
CƠM MỆ QUÊ CHA
Nếu được cho thời gian để kể về cái cội nguồn của mình, Yên chắc phải tặc lưỡi vì lắm sự lòng vòng nhiêu khê, nói kiểu đao to búa lớn là nhiều khi có thể làm thành bài diễn thuyết đọc giữa hội trường được đấy. Nhiêu khê không phải vì cội nguồn rắc rối chi đâu, mà tại bản thân Yên như một tập hợp của nhiều thứ khá là lòng vòng thôi. Tuy quê quán Yên ở Trung Bộ, thế nhưng cả đời mình Yên lại sống ở Nam Bộ. Dầu mang nét của con gái miền Tây từ bộ điệu tới cách dùng từ vì sống cạnh hàng xóm miền Tây từ nhỏ đến lớn, vậy mà những con chữ Yên viết ra lại hay được nhận xét mang ít nhiều nét Bắc Bộ.
Yên thấy hay đấy chứ, một cô gái nhỏ bé bình thường như Yên, thế mà lại vinh dự được cả đất nước Việt Nam to lớn mến thương in dấu lên mình.
Vu vơ về cái gốc gác của mình thế, xem như món ăn chơi đưa ra mời khách quý ghé qua nhấm nháp nhằm khai mở vị giác, để vào món chính thì ăn cơm cho ngon đấy thôi.
Bữa cơm thường nhật tại nhà Yên cũng giống như bao gia đình bình thường khác, cơm trắng kèm hai món một canh. Tất nhiên, với cái sự lòng vòng tự phong Yên đã giới thiệu trước đó, thì bữa cơm nhà Yên thiên về ăn cơm miền Nam kiểu một gia đình miền Trung, nêm nếm lại hơi có xíu xiu phong vị miền Bắc. Nói nghe có vẻ rắc rối quá hen, thôi để Yên diễn giải ra rồi thì sẽ thấy nó đơn giản ngay thôi. Ví dụ khi mẹ Yên nấu thịt kho rệu, chính là món thịt heo kho trứng nấu bằng nước dừa kiểu miền Nam, bà hay dằn nhiều nước mắm hơn cho đằm vị kiểu Bắc và cho thật nhiều ớt để lên màu au đỏ thay vì màu cánh gián từ nước dừa. Hoặc nấu canh chua cá với nguyên liệu rặt miền Tây từ lá me, trái giác tới điên điển, kèo nèo, bông súng vân vân và mây mây, tuy vẫn giữ độ ngọt y nguyên nhưng cũng tăng thêm độ cay xé họng theo kiểu miền Trung. Những nguyên liệu cùng quy trình nấu mang đậm dấu ấn nơi sinh sống hiện tại của gia đình Yên, chỉ gia giảm cho vừa miệng đẹp lòng ba mẹ Yên, những người đã rời xa nơi cắt rốn chôn nhau quá lâu, đến độ chẳng nhớ chính xác hương xưa vị cũ năm ấy của mình rốt cuộc ra sao, chỉ mang máng một loại bản năng mách bảo phải như thế này rồi như thế kia mà thôi.
Yên ăn quen thế rồi, bữa cơm với mắm chưng chấm rau nhút Yên ăn được, mà chén cà bát muối mặn cùng canh bồng khoai nấu ốc Yên cũng ăn tuốt. Yên thảo tính và dễ ăn lắm. Còn ba mẹ Yên thì có vẻ hơi khó, nói khó ở đây là vì hai người nặng lòng những ngổn ngang của khái niệm cơm mệ quê cha, bởi vẫn mang ít nhiều khẩu vị được chăm bẵm dưỡng nuôi thuở tấm bé, cái thời quá vãng mà Yên không tài nào hình dung nổi vì xa xôi nhòe nhoẹt cả về không gian lẫn thời gian. Để chiều ý Yên và chị hai, những đứa con đã sống cả đời mình từ thuở lọt lòng tại miền Nam này, ba mẹ Yên chỉ đành xuôi theo một cách phiên phiến chứ biết làm sao, thành ra khó là khó vì lòng nhớ dạ thương mà thôi.
Họ hàng hai bên nội ngoại của Yên vào đây lập nghiệp cũng nhiều, trải dài dọc suốt mảnh đất Nam Bộ mến khách này từ Đông sang Tây. Mọi người ít khi gặp mặt vì còn bận cơm áo, gạo tiền, học hành, sự nghiệp, chỉ đôi ba lần trong năm là có dịp tụ họp, tại nhà một ông hoặc một bà vai vế lớn nhất sống ở Sài Gòn. Những buổi ấy được người lớn gọi là Họp Họ.
Ngày nhỏ, trong những buổi Họp Họ ấy Yên thường lẻn xuống bếp, ào vào chỗ các dì, các o, các mự đang nấu ăn. Bởi tuổi hãy còn nhỏ lại là con út nên Yên lúc nào cũng được ưu tiên dành cho mấy cái đùi chim cút chiên bơ thơm phưng phức hoặc miếng xôi đậu xanh dẻo bùi, tất nhiên đấy là phần ăn nằm trong mâm đãi tiệc chứ không phải mâm cúng các cụ. Khi lớn thành thiếu nữ, Yên lại không muốn đi theo ba mẹ tới những buổi Họp Họ ấy nữa, với cái cớ bận học hành thi cử hoặc đường xa mệt mỏi gì đó. Thực ra, nguồn cơn mọi sự chủ yếu vì Yên chẳng khác nào hạt mầm đã theo gió bay đi rồi đâm chồi nảy nhánh ở một chốn quá xa cội rễ của mình. Niềm háo hức được bốc nhón ăn vụng ngày bé bị khỏa lấp bởi đủ thứ của ngon vật lạ khác, chẳng còn gì gợi nhắc đủ sức đẩy kéo để nâng bước vượt nắng băng đường chỉ vì cái đùi cút chiên bơ hay miếng xôi đậu xanh.
Thôi luyên thuyên về mâm tiệc lâu lâu mới có để quay về với bữa cơm hàng ngày nhà Yên nhé. À thì vốn gốc gác cả ba và mẹ Yên đều dân xứ Nghệ, nhà anh cách nhà em chỉ một cánh đồng lúa, nên dù thời gian sống ở miền Nam dài ngang ngửa thậm chí hơn hẳn quê gốc, ba mẹ Yên vẫn làm những món quê nhà luôn luôn. Đa số là đồ ăn cơm bình thường thôi nhưng đậm đà phong vị quê nhà, mà Yên luôn thấy khó kiếm tìm được ở nơi nào khác ngoài căn bếp của mẹ mình.
Đấy là đĩa mùng mói (1) trộn tỏi ớt lá chanh mà mẹ tự tay làm từ mớ môn bạc hà chú hàng xóm tặng cho. Cái món chi mà lạ lùng, gắp một miếng mùng mói chấm phơn phớt vào chén nước mắm mặn trong veo rồi ăn cùng miếng cơm trắng, quay đi quay lại là thấy nồi cơm cạn đáy lúc nào không hay. Làm mùng mói cũng như bất cứ loại dưa chua nào thôi, phơi héo xong bóp cùng muối hạt rồi nén vào vò gốm tầm một tuần là chua ngấu ăn được. Tuy nhiên khác ở chỗ món mùng mói này để nguyên phần vỏ xanh bên ngoài của môn bạc hà chứ không tước đi, lần đầu Yên thấy mẹ làm món này đã thầm nghĩ để vậy thì ăn chắc dai nhách với ngứa lắm đây. Nhưng ăn rồi mới biết phần vỏ ấy giòn khấu nhai đã miệng vô cùng, càng nhai càng có tầng hậu ngọt ẩn dưới lớp chua cay của đồ lên men chứ không hề ngứa, đã vậy còn thơm thoang thoảng mùi lá chanh và the cay vị tỏi ớt trộn cùng nữa chứ. Thật đúng như mẹ Yên vẫn nói là “mùng mói hết cơm” mà!
Thường khi kể tới đặc sản xứ Nghệ, ai cũng nghĩ ngay đến súp lươn, điều ấy không sai nhưng riêng với Yên thì lươn xào củ chuối (2) mới đúng là món ngon xứ Nghệ số dách trong lòng. Khác với mùng mói ào vào nhận thức của Yên như cơn gió lạ thì lươn xào củ chuối lại như ánh nắng trưa hè quen thuộc từ thời ấu thơ, không nói rõ được thời gian, chỉ biết rằng khi Yên biết cầm đũa ăn chung mâm với ba mẹ thì món ấy đã có sẵn. Lươn xào củ chuối nguyên liệu cũng toàn những thứ rẻ bèo, nhưng với những con người sống giữa đô thị như nhà Yên thì phải nói đúng là khó tìm, lươn có thể mua ngoài chợ chứ củ chuối thì hiếm. Chỉ lâu lâu hàng xóm người miền Tây đốn một cây chuối để gói bánh tét thì ba Yên sẽ sang “ngoại giao” rồi lôi về một gốc chuối to oạch, thế nên món này dẫu quen thuộc nhưng thường mang tính thời vụ chứ không cố định. Củ chuối lấy phần gốc sát rễ sẽ bùi béo nhất, gọt hết vỏ đen xong cứ thế xắt sợi ngâm nước muối cùng chanh tầm một tiếng cho bớt mủ, sau đó trụng nước sôi có pha bột nghệ khoảng năm phút, cuối cùng vớt ra rửa dưới vòi nước lạnh rồi để ráo. Lươn cứ cắt khúc, phi thơm hành tăm tỏi ớt để khử tanh khi xào lươn, đảo đều cho chín thịt là có thể trút hết phần củ chuối kia vào trộn cùng. Nêm nếm ngoài muối đường bột ngọt cơ bản thì lúc nào cũng cần chút mắm tôm cho dậy vị. Một thứ rau nêm nữa mà nếu thiếu đi thì không hoàn chỉnh chính là ngò gai, chỉ cần tắt bếp rồi rắc ngò gai đã xắt sợi xong trộn đều lần cuối là cả gian bếp lập tức thơm bát ngát. Bữa cơm nhà có món lươn xào củ chuối kiểu gì củ chuối cũng hết trước thịt lươn. Kể tới đây, Yên đã thấy bụng cồn cào, miệng nếm được vị mằn mặn bùi bùi của củ chuối, mũi đã ngửi được mùi hành tăm ngò gai mắm tôm thơm ngào ngạt rồi.
Chà, đấy chỉ là hai trong số vô vàn món ngon cơm mệ quê cha của nhà Yên, kể ra không chỉ để hoài thương, mà còn nhằm tự bào chữa cho cái việc Yên tránh đi Họp Họ bên trên. Ngẫm lại, có thể Yên đúng là “Con Yên chừ mất gốc rồi a tề!” đúng như lời họ hàng đã đùa vui trong lần Họp Họ của những ngày xa xưa. Hồi ức ấy cũ tới mức Yên chẳng nhớ ai đã nói, chỉ duy cảm giác buồn lòng là đeo theo Yên tới tận hôm nay, nhưng Yên chắc chắn mình không bao giờ quên gốc, bởi bữa cơm nhà Yên luôn nhắc nhớ mỗi ngày về cội nguồn với Yên. Một hạt mầm dù có bay xa tới đâu thì trong mã gen cũng chưa từng phai dấu tổ tiên.
Cơm mệ quê cha, nhớ và yêu.
_
*Chú thích:
(1) Mùng mói: Phương ngữ Nghệ An. Nghĩa là dọc mùng (môn bạc hà) muối chua, một loại dưa chua làm từ thân cây dọc mùng, đặc sản Nghệ An.
(2) Củ chuối: Phần thân của cây chuối mọc sâu dưới đất gắn liền với rễ, hơi phình to ra và có kết cấu tựa như khoai.