Người đi dây sinh ra trong một thành phố chỉ có hai màu trắng đen.
Lúc còn nhỏ, gã sống cùng hai chiếc bóng, một chiếc là nữ, chiếc còn lại là nam. Mỗi chiếc bóng có một trái tim và một bộ não. Hằng ngày, họ buộc hai thứ ấy lên hai đầu của một cái cây dài rồi ra ngoài từ rất sớm. Những lúc rảnh rỗi, họ sẽ giăng một sợi dây nhỏ giữa căn nhà chật để gã tập đi trên đó. Ban đầu, gã cảm thấy rất mới mẻ. Gã tự luyện tập kể cả khi hai chiếc bóng không có ở nhà. Trái tim của gã ở bên cạnh và cổ vũ cho gã, thích thú reo hò hoặc lo lắng cho từng bước chân gã. Gã cảm thấy việc này rất dễ, cũng rất vui.
Đến một ngày kia, bộ não của gã xuất hiện. Người đi dây cảm thấy cuối cùng mình cũng đã trở nên giống như hai chiếc bóng. Hai chiếc bóng vui mừng. Họ lấy một cây gậy khác, buộc trái tim và bộ não của gã lên hai đầu rồi dạy gã mang theo nó mà tập đi trên dây, nói rằng đó là việc gã nên làm để trở nên giống những người khác, hoặc thậm chí là vượt trội hơn họ. Gã cảm thấy mục tiêu ấy rất khó hiểu, nhưng gã tin rằng nó tốt đẹp.
Gã bắt đầu đi trên sợi dây, cố gắng giữ trái tim và bộ não ở vị trí cân bằng. Bộ não của gã run sợ, bối rối tính toán góc độ từng cử động, sức lực ở mỗi cánh tay, khoảng cách mỗi bước chân, trọng lực, không khí và cả những lời dạy của hai chiếc bóng nữa. Trái tim gã khóc lóc, nó ghét bị trói lại và buộc phải đứng yên. Nó muốn chạy nhảy, muốn reo hò, muốn cùng gã tận hưởng niềm vui đi trên dây và sự bình an của lòng chân chạm đất. Đi trên dây trở nên thật khó khăn và mệt mỏi, còn gã thì tập quen với việc ấy, tự nhủ rằng nó sẽ có ích cho gã về sau.
***
Người đi dây đã đi trên dây rất nhiều năm, không ngừng cố gắng để đảm bảo trái tim và bộ não ở vị trí cân bằng. Bây giờ gã đã đủ vững vàng để bước ra khỏi cánh cửa, quen với bầu trời xám đặc mây và mặt đất dày đặc sương. Nhà của họ nằm trên đỉnh một cột đất cao, nối với các cột đất khác bằng những sợi dây mảnh. Những ngôi nhà như các điểm chấm cách đều nhau trên mặt giấy kẻ ô, chúng trông hệt như nhau, đều đặn, tẻ nhạt. Gã đi từ cột đất này qua cột đất khác, từ ngày này qua ngày khác, đi chăm chỉ như mọi con người khác trong thành phố.
Thời gian trôi qua, hai chiếc bóng không còn ở bên cạnh nữa. Còn gã thì đã thấy vô số người đi dây. Họ từng giao động, từng sợ hãi, từng chần chừ bước đi. Rồi họ quen dần, trở nên thuần thục và hoàn toàn trở thành những chiếc bóng, với trái tim và bộ não lặng câm cân bằng hoàn hảo. Gã lại nhìn mình, chân gã đang chuyển dần thành bóng đen. Một ngày nọ, trái tim nói với gã, thôi thì hãy thả nó xuống dưới vực kia, có lẽ nó sẽ vỡ tan ở đó, nhưng thế còn hơn những ngày tháng bị trói buộc, kìm kẹp. Bộ não nghe thấy và lặng thinh, nó cũng từng muốn tính khoảng cách đến trời cao, nó tự hỏi mình có thể làm gì nhiều hơn việc tính toán về những sợi dây hay không?
***
Ngày hôm sau, người đi dây không đi dây nữa. Gã ngồi ở mép cột đất và ngắm nhìn những chiếc bóng trên dây. Gã quan sát mây trời, cảm nhận cơn gió theo một cách trước đây gã chưa từng nghĩ đến. Gã tự hỏi có gì ở phía trên những đám mây và bên dưới thảm sương kia. Gã tự hỏi có gì ở đầu cơn gió.
“Tôi cũng muốn tìm hiểu chúng.” Bộ não lên tiếng.
“Tôi thì muốn cảm nhận chúng.” Trái tim chen vào.
Song, bộ não tìm kiếm những công thức an toàn cho hành trình của gã và kết luận rằng họ nên tiếp tục đi trên dây như trước nay luôn làm vậy. Trái tim thổn thức và quả quyết một cách điên rồ rằng ngày người đi dây trở thành chiếc bóng sẽ là ngày mà nó không còn muốn đập nữa.
Người đi dây nằm ườn xuống đất, nhìn mặt trời xám chìm xuống đệm sương, những chiếc bóng ung dung trở về nhà trên những sợi dây và đóng chặt cửa lại. Có điều gì đó thôi thúc gã, từ tận sâu bên trong. Gã lặng yên nghe cuộc cãi cọ của bộ não và trái tim, nhớ về những điều hai chiếc bóng đã dạy. Gã tự hỏi đây có phải cách mà gã muốn sống, như cách mà hai chiếc bóng của gã đã sống hay không? Gã tự hỏi họ đã nghĩ gì khi dạy gã những điều này. Sáng hôm sau, gã thức dậy và quyết định mình phải rời khỏi thành phố.
***
Gã tìm đến các căn nhà gần đó và xin những sợi dây thừa. Mấy chiếc bóng cười gã gàn dở. Chúng đã được dạy dỗ để trở thành những người đi dây thuần thục, ổn định, vì cớ gì lại phải liều mạng cho điều chưa ai nghe nói bao giờ? Người đi dây không phản bác lại, chỉ lẳng lặng gom những sợi dây. Gã nối chúng lại với nhau, buộc chặt một đầu vào cột nhà mình và thả mớ còn lại xuống màn sương. Đầu giây mất hút. Không một âm thanh. Chẳng ai biết mặt đất cách bao xa và có thứ gì tồn tại dưới đó.
Người đi dây hơi chần chừ. Gã ngẩng mặt nhìn bầu trời xám như sương, trong thành phố chỉ có hai màu đen trắng. Những chiếc bóng vẫn chăm chỉ đi trên dây. Bộ não gã cố gắng tính toán bằng kinh nghiệm trống rỗng, nó cũng hơi hoài nghi về quyết định này. Nhưng trái tim thúc giục gã gieo mình vào sương. Kể từ lúc cùng gã sinh ra, nó chưa bao giờ được cảm nhận sự sợ hãi và phấn khích rõ ràng như vậy.
***
Thế là gã nhắm chặt mắt lại, hít một hơi sâu và bò khỏi mép cột đất. Khí lạnh dưới chân khiến gã rùng mình, nhưng gã quyết không quay đầu lại. Màn sương rất dày, gã chầm chậm thả mình xuống rất lâu, cảm nhận không khí dần dần thay đổi. Có tiếng gió rít bên dưới và những màu sắc khác nhau luân phiên ẩn hiện.
Gã ra khỏi màn sương, thấy trước mắt là mặt trời cam đỏ, dưới chân là đồng cỏ xanh tươi. Gã đặt chân xuống cỏ, cảm nhận hơi ẩm và vị ngọt chát lạ lùng. Gã mỉm cười, ôm trái tim và bộ não của mình mà ngồi xuống. Chúng cũng như gã, đều đang mê mẩn trước vẻ đẹp của hoàng hôn đổ về sau đồi xa. Khi mặt trời khuất hẳn đi, bầu trời lấp lánh những vì sao. Gã không biết phải diễn tả chúng như thế nào. Cũng là những đốm trắng trên nền đen, nhưng hai thứ sắc ấy sao mà khác với thành phố của gã. Có thể vì gió đã có hương vị. Có thể vì đất vọng đến những âm thanh. Có thể vì bất cứ điều gì gã chưa từng nghĩ được. Gã quyết định rồi, ngày mai gã sẽ đi đến chỗ mặt trời đã lặn kia, để xem bên trong quả cầu cam ấy còn điều gì mà gã chưa biết nữa. Sau đó, có lẽ gã sẽ trở lại thành phố trắng đen và kể về nơi này cho những chiếc bóng. Và họ sẽ biết ai mới là kẻ gàn dở.
Gã ôm lấy trái tim hạnh phúc và bộ não mộng mơ rồi ngủ thiếp đi.
***
Khi mặt trời lên lần nữa, gã thức dậy và đi về phía nó. Gã thích thú với mọi sự vật, mọi sắc màu mà gã thấy dọc đường đi. Mây trời ám màu xanh nhạt của nắng gắt trên cao. Cỏ màu úa đan xen với phiến lá xanh mơn mởn. Hoa dại muôn màu tô điểm mặt đất phì nhiêu. Gã nghĩ gió là thứ có nhiều màu sắc nhất, chúng chứa những hương tinh tế và những vị xa xăm. Chúng khác hẳn những cơn gió xám một chiều ở thành phố đen trắng. Trái tim gã xúc động, thổn thức, còn bộ não thì thoải mái thư giãn, sau bao nhiêu năm làm việc không hề nghỉ ngơi.
Họ băng qua cánh đồng cỏ rộng, vượt ngọn đồi thoải và đến được phía bên kia khi mặt trời đang dần rơi xuống. Đó là một nơi lạ lùng. Ở phía xa, một mảng màu xanh dập dờn chuyển động, tạo ra âm thanh đều đặn vui tai. Nó có mùi mặn mặn và gió từ nó thì mang vị ẩm của nước. Mặt trời rơi vào lòng nó, những sợi nắng cuối cùng tan ra, đổ loang trên mặt nước lấp lánh, như thể trút mọi sức lực còn lại trước khoảnh khắc yên nghỉ. Nơi tận cùng của đất liền mọc lên những căn nhà, chúng nằm rải rác, cái sát cái xa nhau. Chúng có đủ hình dạng, màu sắc.
Người đi dây lấy làm hiếu kỳ về những con người sống ở đó, tự hỏi họ có treo trái tim và bộ não mình lên hai đầu gậy cân bằng hay không. Gã phấn khích chạy về hướng những căn nhà, tò mò dừng lại ở khoảnh đất đầu tiên. Nơi đây giăng đầy những lưới, có vị tanh nồng. Có một ông lão đang ngồi trước khoảng sân, cũng nhìn về phía mặt trời. Liếc thấy người lạ đến gần, ông nhìn gã một lượt từ đầu đến chân rồi mỉm cười ngoắc tay gọi gã ngồi xuống cạnh. Hai người ngồi đó cho đến khi mặt trời hoàn toàn ngủ yên.
“Vật đó là gì thế? Thứ đã ăn mất mặt trời ấy?” Gã hỏi.
“Đó gọi là biển.” Ông lão cười. “Còn nơi này là một làng chài.”
“Thì ra là biển. Thì ra là làng chài. Mà làng chài nghĩa là gì?”
Ông lão cười hiền từ và ôn tồn giải thích từng điều cho gã hiểu.
Người đi dây thấy lòng mình rộng ra còn trí óc thì bận rộn một cách hào hứng hơn. Anh ta quyết định ở lại làng chài, để có thể thu thập nhiều câu chuyện hơn và trở về kể với những chiếc bóng. Ông lão cho phép gã ở lại trong căn nhà đó và bắt đầu chỉ cho gã những gì ông biết. Gã ngạc nhiên khi ông nói rằng ở làng này chẳng ai biết đi dây, cũng không ai cố gắng cân bằng bộ não và trái tim mình. Và đó chỉ là một trong vô số điều ngạc nhiên khác.
***
Một tối nọ, khi cả hai đã ngà ngà say bên dưới những vì sao, lão ông hỏi gã:
“Chàng trai trẻ, giờ thì cậu đã biết làng chài là gì, đã biết chim trời cá biển, phân biệt được màu của bình minh và sắc của hoàng hôn. Hãy nói cho ta nghe, còn điều gì mà cậu thắc mắc nữa không?”
Người đi dây suy nghĩ một hồi lâu, bắt đầu kể với ông lão về thành phố đen trắng, về những chiếc bóng và những sợi dây nối dài bất tận. Đoạn, gã hướng mắt về biển đêm xa xăm.
“Tôi muốn biết người ta sẽ làm gì với trái tim và bộ não của mình, nếu chúng không được dùng cho việc đi dây.”
Nghe đến đây, ông lão liền bật cười nắc nẻ.
“Chàng trai trẻ, bộ não và trái tim đâu phải sinh ra chỉ để đi trên dây? Mà chúng vốn cũng chẳng cân bằng cho tới khi cậu buộc chúng phải thế. Tôi thấy việc ấy mới gàn dở làm sao!”
Người đi dây ngạc nhiên vì phản ứng của ông lão. Đó là lần đầu tiên gã tự hỏi, những con người khác đang dùng tim và não họ như thế nào?
***
Sáng hôm sau, lão ông dẫn gã ra sau vườn, cho gã xem trái tim và bộ não của ông. Chúng được đặt trên một cái bập bênh và đang chơi đùa một cách vui vẻ. Khi trái tim được đẩy lên cao, bộ não lùi xuống thấp và ngược lại. Chúng luôn nhường nhịn và hòa thuận với nhau, thay nhau tiến lùi, làm những việc mà đối phương không làm được. Những lúc không có nhiều việc, chúng chia sẻ thời gian yên bình và tận hưởng sự nhàn rỗi.
“Tôi không hiểu. Như thế nghĩa là làm sao?”
Ông lão bật cười và bắt đầu giải thích.
“Thay vì bắt chúng phải cùng làm mọi công việc, ta để trái tim và bộ não mình lần lượt làm những việc mà nó giỏi nhất, trong lúc thứ còn lại có thể nghỉ ngơi. Khi ta ra biển và thả lưới, bộ não đồng hành cùng ta, chỉ cho ta những nơi tốt để đánh cá, nói với ta về hướng gió và khí trời, về cách ta nên dẫn dắt thuyền của mình. Khi ta trở về nhà, trái tim cùng ta yêu thương gia đình, chiều chuộng người thân và làm những việc khiến họ vui.”
Lão ông kể về những trò đùa ngốc nghếch ông dùng để khiến đám trẻ của ông cười. Những lúc như vậy, bộ não sẽ lùi về phía sau, nhường chỗ cho trái tim điều khiển. Đuôi mắt ông nheo lại khi nhớ đến những việc cũ.
“Nhưng cũng có lúc trái tim và bộ não phải cùng lên tiếng hoặc tranh cãi dữ dội. Chúng cùng nhau tìm cách nuôi dưỡng những đứa con ta, bảo vệ gia đình ta và cùng ta trưởng thành.”
Lão ông lại kể về một người thợ cơ khí, kẻ sinh ra với một bộ não lớn hơn trái tim. Trong khi bộ não anh ta bận rộn sáng tạo và kiến tác, làm hầu hết mọi việc trong cuộc đời cần cù vẻ vang, thì trái tim chỉ làm một việc duy nhất, đó là ôm lấy niềm đam mê của anh ta với nghề anh ta đã chọn. Anh ta sống một cuộc đời hạnh phúc và thành công dù trái tim và bộ não chẳng hề cân bằng.
Lão ông lại kể về một họa sĩ nọ, kẻ sinh ra với trái tim lớn hơn bộ não. Hắn cảm nhận vạn vật bằng cả tâm hồn mình, lắng nghe mưa gió và quan sát mọi sắc màu, rồi trái tim sẽ thôi thúc hắn họa ra khung cảnh mà nó muốn. Đó có lẽ là sự trừu tượng mà bộ não không hiểu được, kẻ khác cũng không hiểu được. Người đời xem hắn là tên gàn dở, là một kẻ điên, nhưng hắn đã sống một cách trọn vẹn biết nhường nào.
“Anh bạn trẻ à. Chúng ta sinh ra với những bộ não và trái tim không giống nhau. Có khi chúng tròn đầy, có khi khiếm khuyết. Có cái thì mạnh mẽ, cũng có cái yếu mềm. Làm sao ta ép chúng phải sống hệt như nhau và buộc ta trở nên hệt như những người khác?”
Người đi dây ngẫm nghĩ về những điều đó. Trước mắt gã là trái tim và bộ não của lão ông đang vui đùa trên chiếc bập bênh. Gã cứ nghĩ về điều đó mãi, và cũng nghĩ về những sợi dây ở vùng trời chỉ có hai màu trắng đen.
***
Vài ngày sau, giữa làng chài, người ta thấy gã dựng hai chiếc cột rất cao và buộc dây trên đó. Gã cầm cây gậy thăng bằng và bắt đầu đi trên dây. Mọi người đều trầm trồ thán phục, vì không ai biết phải làm việc ấy như thế nào. Trái tim và bộ não của gã ngồi trên hàng ghế khán giả, chúng lặng yên, quan sát gã, cảm nhận mọi thứ cùng gã. Vẫn là việc mà gã đã làm hàng vạn lần, bây giờ lại thấy nó khác đi nhiều.
Không bao lâu sau, người đi dây đã tạo ra một gánh xiếc nho nhỏ trong ngôi làng ấy. Không chỉ đi dây, gã còn tập tành thêm nhiều trò khác. Trẻ con thích thú với những trò của gã, và gã thấy rất vui, dần quên mất ý định ban đầu của mình, quên việc trở về thành phố đen trắng cùng những chiếc bóng thầm lặng. Gã kết hôn với một cô gái trong làng. Họ xây một ngôi nhà cạnh biển, nơi có khung cửa sổ rộng mà nàng sẽ ngồi đó thêu thùa cả ngày, còn gã sẽ ở bên cạnh, tập những trò xiếc của gã. Họ sinh được một cậu con trai kháu khỉnh và thông minh. Nàng thường ôm nó lắng nghe âm thanh của biển, còn nó sẽ ôm trái tim của mình. Gã không dạy nó đi dây, nhưng kể về thành phố với những ngôi nhà bị kẹp giữa tầng mây với sương mù. Đứa trẻ lắng nghe rất chăm chú, nó hỏi về những ngôi nhà và chiếc bóng, về đoạn đường mà gã đã đi qua.
***
Nhiều năm qua đi, con trai người đi dây đã trưởng thành.
Nó dành nhiều thời gian quan sát gã làm xiếc và luôn có vẻ trầm tư. Cho đến một ngày, nó nhìn về ngọn đồi xa xăm, mặc mặt trời lặn xuống sau lưng và nói:
“Cha ơi, con muốn đến thành phố đen trắng.”
Người đi dây lấy làm ngạc nhiên. Gã bối rối khi nhìn vào ánh mắt của đứa con mình.
“Con muốn biết làm sao để cân bằng trái tim và bộ não mình trên sợi dây đó. Con muốn trở thành người đi dây giỏi nhất.”
Người đi dây trầm mặc. Dù lòng bất an, gã chẳng biết phải giải thích với con thế nào về sự tù túng của thành phố mà gã đã trốn khỏi. Gã tự hỏi con mình đã thấy điều gì thú vị trong thế giới đơn sắc đó? Đã thấy điều kì diệu gì từ những ràng buộc kia? Gã dành nhiều ngày để cố gắng khuyên con, nhưng không được. Đứa trẻ đã quyết tâm và gấp rút chuẩn bị hành trang cho riêng mình. Người đi dây thấy thất vọng, vì điều gì gã cũng không rõ. Gã tìm đến khung cửa sổ, nơi vợ mình vẫn đang điềm tĩnh thêu những con sóng lên nền vải trắng tinh. Lặng yên hồi lâu, gã trút một tiếng thở dài.
“Em ơi, em không muốn khuyên con sao?”
Người vợ hơi ngước mắt lên nhìn gã, mỉm cười dịu dàng. Những ngón tay mềm mại vẫn không ngừng đan xuống từng mũi kim.
“Tại sao anh lại muốn khuyên con?” Nàng hỏi.
Người đi dây lại kể về thành phố một lần nữa, kể về cách gã thoát khỏi nó và những điều kỳ diệu đã nhận ra sau đó. Gã kết luận:
“Kẻ gàn dở nào lại muốn sống ở một nơi như vậy chứ? Thay vì một mảnh đất đẹp đẽ phì nhiêu thế này?”
Người vợ chỉ cười, hệt như ngày đầu họ gặp nhau. Gã đã luôn yêu thích nụ cười của nàng, yêu thích vẻ ung dung của nàng bên khung tranh thêu dở. Nàng yên bình như biển đêm xa xăm. Trái tim nàng luôn ở cạnh cửa sổ, lắng nghe tiếng sóng. Còn bộ não nàng thì tĩnh lặng ngồi cạnh, thả suy nghĩ đan bện theo từng mũi chỉ đường kim.
“Anh thật yêu cách em chung sống cùng bộ não và trái tim mình. Điều ấy đến nay vẫn chưa từng thay đổi.” Gã nhắc lại điều mình đã nói hàng trăm lần.
Nàng mỉm cười nhìn gã, mái tóc nghiêng nghiêng lay động trước gió đêm.
“Anh có biết tại sao em cứ liên tục thêu những con sóng không?”
Người đi dây suy nghĩ hồi lâu, cảm thấy mọi câu trả lời đều mông lung, đều dường như không đúng.
“Anh cũng không biết. Chẳng phải con sóng đều giống nhau ư?”
“Không phải.” Nàng đáp: “Đều là sóng, nhưng chúng nào có giống nhau. Dù có cố bao nhiêu, em vẫn chẳng tìm ra hai ngọn sóng nào hoàn toàn giống nhau. Anh có nghĩ điều đó thật lạ lùng không?”
Người đi dây lại suy nghĩ. Có vẻ như gã chưa bao giờ quan sát những con sóng đủ lâu để thấy được.
“Vậy em đang cố thêu ra những con sóng giống nhau sao?”
Vợ gã lại mỉm cười.
“Không. Không, anh ạ! Ngược lại mới đúng. Em thấy biển thật tuyệt diệu khi tạo ra những con sóng khác nhau. Em cũng muốn được như biển, em muốn sáng tạo ra những bức tranh độc nhất. Mỗi ngày, em ở đây và thêu ra những bức tranh. Chúng đều là sóng, nhưng lại chẳng giống nhau. Đều là mũi kim, nhưng không bao giờ lặp lại. Em nghĩ đó là niềm vui của việc sáng tạo, khi chứng kiến những vẻ đẹp duy nhất dần thành hình dưới tay mình.” Nàng ngưng một lúc rồi nói tiếp. “Em nghĩ, Thượng Đế cũng là một nghệ nhân, và hẳn là Người cũng nghĩ y như em vậy.”
Gã thấy trong lòng mình có cái gì vừa mở ra, khiến lòng gã nhẹ đi. Hình như gã đã hiểu điều mà nàng muốn nói. Có điều gã vẫn chưa thật chắc chắn rằng việc ấy có đúng đắn hay không.
“Anh đã sống nửa cuộc đời gàn dở ở một chốn tù túng xa xôi, và giờ đây con chúng ta lại muốn đi về nơi ấy. Chẳng lẽ anh cứ mặc nó làm chuyện gàn dở ấy sao? Chẳng lẽ chúng ta không nên làm điều gì cho nó à?”
“Nên! Tất nhiên chúng ta phải làm gì đó cho con chứ.” Nàng tạm dừng mũi thêu và nắm nhẹ bàn tay gã. “Nhưng em tin việc ấy không có nghĩa là cố thuyết phục con sống như chúng ta. Ta hãy kể về những điều mình đã thấy, đã nghe. Hãy san sẻ câu chuyện của ta với con như những người bạn. Và hãy chỉ dừng lại ở đó mà thôi.”
Nàng vẫn mỉm cười, buông tay gã mà trở về với sợi chỉ xanh.
“Anh biết gì không, em chưa bao giờ nghĩ anh là kẻ gàn dở. Cho dù là anh của trước kia hay anh của bây giờ, em tin rằng mỗi quyết định của anh đều có ý nghĩa của riêng nó. Quyết định của chúng ta tỉnh táo, đúng đắn trong mục tiêu của chúng ta, nhưng nó mơ hồ, gàn dở trong mục tiêu của kẻ khác. Ngược lại, mục tiêu của kẻ khác trong mắt ta cũng trông thật gàn dở, mơ hồ. Tất cả chỉ vì chúng ta khác nhau. Em đoán rằng chúng ta đều là kẻ thông minh và kẻ ngốc cùng một lúc. Nhưng chẳng sao cả, chúng ta vẫn đang sống tốt đấy thôi?”
Nàng nói xong, dùng kéo cắt sợi chỉ cuối cùng trên bức tranh thêu hoàn chỉnh. Bức tranh được tạo nên từ muôn đường chỉ với vô số sắc độ khác nhau. Nếu nhìn thật kỹ, trông chúng thật đơn điệu, nhưng chúng lại đẹp rực rỡ khi được xếp cạnh nhau trong một bức tranh chung. Nó hoạ lên một nửa mặt trời nằm trên những con sóng, không rõ đang rơi xuống hay mọc lên.
***
Sáng hôm sau, người đi dây thức dậy từ rất sớm. Gã ngồi bên khung cửa sổ, cạnh bức tranh thêu, bần thần nhìn về phía chân trời. Gã lần mò lại những ký ức của mình và cố sắp xếp mọi thứ theo một lý lẽ nào đó, cảm giác hệt như lần đầu gã tập đi trên dây. Từ xa, những tia nắng đầu tiên đã ló dạng. Nó đẹp đến nỗi gã chẳng còn nhớ được mặt trời ở nơi xa xôi kia có hình dạng thế nào nữa. Trái tim gã đột ngột giãn ra, nhẹ bẫng đi và bộ não của gã cũng vậy.
“Cha ơi, con phải đi.” Đứa con trai đã đến sát bên. Hành trang nó đã sẵn sàng.
Người đi dây thở dài một hơi, mỉm cười. Gã đứng dậy và ôm lấy đứa con của mình.
“Ừ.”
Vậy là đứa trẻ quay đi, bước ra khỏi cánh cửa của ngôi nhà trong làng chài nhỏ, hướng về khung trời dày sương phía bên kia ngọn đồi thoải. Sau lưng nó, mặt trời từ lòng biển bay lên, hút ánh sáng lấp lánh từ mặt nước lạnh mà trỗi dậy trên bầu trời quang đãng, như thể đang gom lại sức lực nó đã đánh mất trước đó mà sẵn sàng cho một cuộc tái sinh.
END Mặc Phong Lữ
Bình luận
Chưa có bình luận