Bến xanh gấm vóc lụa là
Sương sớm ở Vọng Binh Trạch đọng trên những phiến ngói mũi hài xám xịt, buốt như chọc vào da thịt. Tiếng mõ cầm canh từ lũy tre mạn đông vừa dứt thì tiếng giày da trâu nện trên nền gạch tàu ngoài hiên đã dội thẳng vào buồng trong.
Đoàn Quý Nhi ngồi trước tấm gương đồng mờ đục, hai bàn tay luồn vào trong vạt áo tứ thân bằng lụa sồi chưa kịp ấm hơi người. Đêm qua, chiếc giường gỗ gụ chạm hoa sen chỉ có một mình nàng nằm ép mình sát mép tường vôi. Người mang danh phu quân của nàng Phạm Hạo Nhiên dứt dải khăn điều, chỉ để lại một câu cộc cằn rồi xăm xăm rảo bước sang phía Tây lang, cửa thư phòng đóng then cài suốt từ canh ba.
Một đêm trôi qua, cái khoảng trống lạnh ngắt bên chiếc gối thêu chỉ đỏ dường như đã kịp rỉ qua khe cửa, ngấm vào tai mắt của từng đứa ở, con đòi trong cái cơ ngơi nửa dinh thự nửa trại lính này. Lúc mụ quản gia họ Lại bước vào bưng thau nước đồng, mắt mụ không nhìn thẳng vào mặt nàng mà khẽ đảo qua tấm nệm phẳng phiu không một nếp nhăn nhúm, khóe môi mụ giần giật một nét cười kín đáo đến rợn gáy. Chiếc khăn lau trao tay nàng ráp sáp, nước trong thau chỉ vừa đủ độ nguội ngắt của sương mai.
– Mời Lệnh cô qua Chính đường. Giờ Thìn đã điểm, quan Đô đốc và các quan khách trên Đô Sát Viện về dự lễ Khai ấn đang đợi.
Chính đường nhà họ Phạm không treo hoành phi câu đối chữ son thếp vàng như những nhà khoa bảng xứ kinh kỳ, mà dựng sừng sững hai hàng gươm trường và kích đồng gác trên giá gỗ lim. Trên chiếc sập gụ giữa nhà, quan phụ thân ngồi ngay ngắn, áo the thâm thụng thịnh che khuất đôi bàn tay gân guốc từng quen nắm đốc kiếm.
Quý Nhi bưng khay trà mắt trúc, tà áo chạm nhẹ vào mép chiếu hoa. Nàng hạ gối, đầu cúi vừa tầm để đôi mắt chỉ thu trọn ba tấc đất trước mặt. Chiếc chén sứ men lam vẽ tích tùng lộc bốc khói nghi ngút. Theo lễ giáo làng quê nơi nàng lớn lên, dâu mới dâng trà phải nâng ngang trán, mắt nhìn thẳng vào gấu áo trưởng bối để tỏ lòng thuần phục. Nhưng vừa khi ngón tay nàng siết nhẹ lấy chân chén, một luồng hàn khí dường như đã chặn ngang sống lưng nàng.
Phía bàn trà bên tả, nơi Hạo Nhiên đang đứng chắp tay trầm mặc, chiếc kỷ trà bằng gỗ trắc bị kê lệch sang một góc. Trên mặt kỷ, chén nước vối của người vừa rời đi được đặt thấp hẳn xuống, nằm lọt thỏm ngay sát cạnh chiếc cơi đựng trầu bằng đồng han gỉ một vị trí nghịch mắt, phá vỡ toàn bộ quy củ bày biện nghiêm ngặt của gia phong. Ngay bên cạnh chiếc chén đặt thấp ấy, một tập bảng ghi quân tịch đóng bìa giấy bản màu nâu sẫm mở hé. Nơi hàng chữ ghi danh dịch tráng đinh của phiên hiệu tả dực, lớp mực nho đen nhánh bị một vết cạo sắc lẹm phạt ngang, trơ ra thớ giấy xơ xác, trắng bệch như một vết chém chưa kịp liền da.
Quý Nhi khẽ rùng mình, bàn tay bưng khay trà run lên một nhịp cực nhỏ khiến giọt nước rớt xuống đĩa lách cách. Vết cạo ấy hãy còn mới, bụi giấy vụn vương lại trên mặt bàn chưa kịp phủi. Đó là danh tính của ai? Kẻ nào đã bị xóa tên, hay một kẻ vô danh nào vừa được lén lút lấp vào chỗ trống trước giờ kiểm duyệt của quan Đô Sát?
Nàng không kịp nghĩ sâu, bởi bên ngoài cổng trại, tiếng pháo lệnh khai màn cho Lễ Hạ Nêu Khai Ấn và Hội Đấu Vật Mạ Xuân đã nổ ran từng chặp, xé toang màn sương dày đặc.
Tiếng vó ngựa rộn rã ngoài ngõ gạch, tiếng lính tráng dẹp đường xen lẫn tiếng cười nói lanh lảnh của đám gia nhân đưa rước. Trong làn gió sớm thốc vào ngưỡng cửa, mùi trầm hương thượng hạng từ kinh thành tỏa ra ngạt ngào, át hẳn mùi dầu trẩu và ẩm mốc của xơ gỗ trong sảnh đường. Đoàn người của Đô Sát Viện đã đến, theo sau là những cỗ kiệu sơn son thếp vàng của đám nữ quyến quý tộc.
Quý Nhi ngước mắt lên qua làn khói trà bảng lảng. Ở bậc thềm đá, bước xuống từ cỗ kiệu bát cống là một vạt áo lụa mỡ gà thêu hoa hải đường rực rỡ.
Từ xa, Trịnh Ngọc Thức khẽ nghiêng chiếc nón quai thao, ánh mắt sắc sảo lướt qua hàng kích đồng, rồi dừng lại ngay trên khuôn mặt nàng với một nụ cười nửa miệng đầy thâm ý.
Không khí của ngày đầu tiên làm dâu ở Vọng Binh Trạch ngột ngạt tựa hồ một trận cờ thế đã bày sẵn quân, chỉ chờ tiếng trống vật mạ xuân dóng lên là bước vào hồi sinh tử.
Gió bấc luồn qua các kẽ liếp của gian buồng tân hôn, mang theo hơi ẩm ngai ngái của đất nện và mùi ẩm mốc của những góc tường vôi lâu ngày chưa quét lại. Trong căn phòng tối lờ mờ chỉ thắp một ngọn đèn dầu lạc chân đồng leo lét, cái rét ngọt cuối đông xứ Bắc như ngấm vào tận xương tủy.
Từ bên ngoài hiên, một bóng người lướt nhẹ qua bậu cửa. Đứa nha hoàn thân tín do Hạo Nhiên sai đến bước vào, hai tay bưng chậu than củi còn đượm hồng. Con bé khẽ cúi đầu theo đúng phép tắc gia giáo nhà quan họ Phạm, ánh mắt liếc trộm chiếc tráp gỗ mun cũ kỹ mà Quý Nhi mang theo từ Đoàn trạch. Nhẹ nhàng bước tới mép phản lim, nha hoàn đưa đôi bàn tay xương xẩu định với lấy chiếc then cài bằng đồng đã ngả màu ten rỉ của chiếc tráp:
– Thưa phu nhân, thiếu tướng dặn con vào dọn dẹp xiêm áo, xếp đặt lại tráp kỷ vật của người cho gọn ghẽ.
Chưa kịp để đầu ngón tay của con bé chạm vào mép gỗ xỉn màu, một bàn tay thon thả nhưng lạnh ngắt đã ấn chặt xuống nắp tráp. Khớp ngón tay của Quý Nhi nổi lên trắng bệch.
Dù bờ vai mảnh khảnh vẫn còn run lên dưới làn áo giao lĩnh bằng vải thô màu nâu sẫm bạc phếch, thứ áo mặc lót giản dị đối lập hoàn toàn với sự bề thế của phủ đệ, giọng nói cất lên từ cổ họng Quý Nhi lại đanh thép đến kỳ lạ:
– Đồ của ta, ta tự xếp.
Lời nói buông xuống giữa gian phòng tĩnh mịch, không một thanh âm gắt gỏng, không có một giọt nước mắt thừa thãi. Con bé nha hoàn giật mình khựng lại. Nó ngước mắt nhìn bóng lưng thẳng tắp của nàng dâu mới, toan hé môi định phân bua điều gì, nhưng cái nhìn lạnh lùng tựa băng tuyết của Quý Nhi đã bóp nghẹt mọi lời lẽ nơi cuống họng.
“Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước vào nội viện biết là cậy ai…”
Câu ca dao xưa bỗng văng vẳng dội về trong tâm tưởng Quý Nhi. Người đời vẫn bảo bước chân vào cửa hào môn là đổi đời, là phúc phận muôn trùng, nhưng có ai thấu chăng cái đạo lý nghiệt ngã của mảnh đất Thịnh An này: kẻ mang thân phận con gái của một gia tộc đã bị bôi đen trên trang sổ triều đình thì dẫu có khoác lên mình gấm vóc cũng chỉ là một kẻ lưu đày trong chính số phận của mình.
Nha hoàn không dám bước thêm nửa bước. Nó khẽ lùi dần về phía cánh cửa gỗ, từng bước chân gượng gạo ghìm chặt trên nền gạch Bát Tràng. Khi chạm đến mép cửa, con bé khoanh tay, đầu hơi cúi xuống, đứng chôn chân nguyên tại vị trí canh gác bên ngoài ngưỡng cửa.
Cánh cửa khép hờ, để lại Quý Nhi một mình giữa khoảng tối mênh mông. Nàng vẫn giữ nguyên bàn tay trên nắp tráp gỗ.
Tiếng trống vật ở bãi đất phía nam thành dội lên từng chặp, nện vào lòng đất nén tựa tiếng chày giã vỏ cây dó ngâm vôi, đùng đục mà tức ngực. Bụi phù sa xám mờ cuộn tròn theo từng đợt gót chân trần của cánh đô vật đang ghì vai, khóa khớp giữa sới, phả vào không gian cái oi nồng của mồ hôi chua lợ xen lẫn mùi mạ xuân vừa bén rễ bên mép đầm. Giữa cái nhốn nháo của chợ búa và hội hè, nơi chiếu manh rách của lũ phu bến nằm xô vào gánh chè lam của mấy ả lái buôn, tiếng gõ mõ phân bua bỗng chốc tắt ngấm khi bánh xe song mã bịt đồng của Phạm phủ nghiến rền rĩ lên mặt đường đá hộc, rẽ đám đông nhung nhúc áo nâu sồng sang hai bên bờ cỏ như lưỡi bừa xé toang vạt ruộng ải.
Ngồi bên trong thùng xe lót gấm lục nhạt thoảng mùi gỗ gọt, Quý Nhi giữ lưng thẳng tắp theo đúng khuôn thước của một tân phụ họ Phạm. Nàng nhìn ra mép rèm buông nửa. Bàn tay nàng, dẫu giấu kín trong ống tay thụng đoan chính, vẫn gập chặt các khớp ngón tay cho đến khi móng bấm sâu vào da thịt: nàng căm ghét cái nghi lễ ra mắt công khai này, nhưng lại khao khát cái ồn ào bụi bặm của nó, bởi chỉ nơi dân gian nới lỏng trật tự thế này.
Bên cạnh nàng, Phạm Hạo Nhiên ngồi im như một pho tượng tạc bằng đá núi. Gương mặt chàng phủ bóng lạnh của một võ tướng quen tiết chế, chỉ có chiếc quạt giấy trên tay chàng lại khẽ mở ra một phân rồi khép lại.
– Đừng nhìn lâu – Hạo Nhiên buông giọng, âm lượng vừa đủ chìm dưới tiếng phèng la ngoài bãi.
Quý Nhi không quay đầu, ánh mắt vẫn neo vào một gã phu bến say khướt đang ngả ngớn bên vại rượu nếp:
– Phu quân sợ điều gì chăng? Hay chàng đang day dứt vì ta thế chỗ người ấy?
Hạo Nhiên không đáp. Xe ngựa dằn mạnh qua một rãnh cày sâu khiến Quý Nhi hơi ngả người, bàn tay chàng đã vươn ra theo phản xạ đỡ lấy khuỷu tay nàng, rồi ngay khoảnh khắc đầu ngón tay chạm vào làn vải thô bên dưới lớp lụa ngoài, chàng rút tay lại như thể vừa chạm phải tàn than hồng rực.
Cỗ xe dừng hẳn trước khán đài dựng tạm sát mé sông. Khi cánh cửa gỗ mở ra, tiếng reo hò của dân chúng dội vào đặc quánh, át cả tiếng nước sông Ngân vỗ mạn thuyền chở thóc. Giữa vũng bùn lầy lội dưới bục bước, Hạo Nhiên nghiêng mình định đưa tay dẫn nàng bước vòng qua chỗ đất khô ráo. Nhưng Quý Nhi, trong một cử chỉ điềm nhiên đến lạnh lùng, bước thẳng một chân xuống vũng bùn nhão nhoét, để bùn nâu bám lấy gấu váy thêu chỉ kim tuyến.
Hạo Nhiên nhìn vệt bùn vấy bẩn trên nền gấm quý, đôi chân mày khẽ giật, rồi nơi khóe môi chàng một nụ cười bất đắc dĩ bỗng bật ra.
“Vải thô mà giữ lấy lề,
Gấm kia vấy bẩn biết về tay ai…”
Dưới chân khán đài gỗ dựng sát mé sông Ngân, tiếng phèng la cùng tiếng hò reo đùng đục của hội vật Mạ Xuân dội ngược lên cao, tan loãng vào làn sương mỏng giăng ngang mặt nước. Đứng cạnh Phạm Hạo Nhiên nơi hàng ghế danh dự phủ gấm điều giữa trật tự nghi lễ nghiêm cẩn của giới quyền quý là sự xô bồ lầy lội của chốn bến bãi, Đoàn Quý Nhi khẽ nâng tầm mắt, vượt qua bờ vai vững chãi của vị tướng trẻ khoác gia phục Tùng Vân, phóng thẳng cái nhìn ra toàn cảnh đô thành Thịnh An đang trải rộng ngút ngàn.
Dưới bầu trời đầu xuân xám bạc như mặt gương đồng chưa mài, tựa lưng vào những dãy lũy thành đất đá sừng sững nghìn năm, kinh kỳ Thịnh An hiện ra trong mắt nàng không còn là những bức vách giam lỏng hay từng trang sổ sách khô khốc chốn nha môn. Nơi đây tựa như một cơ thể sống khổng lồ, cuồn cuộn thở bằng muôn vạn lọn khói bếp lam chiều, gầm rền theo nhịp đập của nghìn cỗ bánh xe bịt đồng, và rực rỡ tráng lệ dưới lớp lớp mái ngói liệt đỏ nâu đan xen những mái rạ bần hàn.
Ở độ cao của khán đài danh gia vọng tộc vị trí tôn nghiêm mà thân phận con gái họ Đoàn trước kia chưa từng với tới, và ngay cả những ngày êm ấm bên án thư Thư Các Tinh Văn cũng chưa từng hình dung nổi, Quý Nhi lần đầu tiên nếm trải cảm giác choáng ngợp khi thu trọn cả giang sơn vào đáy mắt. Nàng nhìn thấy tất cả: từ dòng Ngân Giang chở nặng những đoàn thuyền nan buôn gạo, dòng người áo nâu sồng chen chúc nơi bãi lầy tựa bầy kiến tha mồi, cho đến những mái lầu cong vút của hoàng thành Thiên Trụ ẩn hiện nơi chân trời xa thẳm.
Một cảm giác giằng xé bóp nghẹt lồng ngực nàng. Nàng thấy mình bé nhỏ khôn cùng trước sự phồn hoa ngợp thở của đế chế, nhưng cùng lúc lại thấy mình uy quyền đến tàn nhẫn khi đứng trên đầu muôn vạn kiếp phù sinh bên dưới. Sự thịnh vượng rực rỡ này hoá ra không thuộc về riêng bậc đế vương trên ngai vàng hay bốn đại gia tộc lớn; nó là dòng chảy vật chất cuồn cuộn, bánh xe nghiền lên những hằng hà mồ hôi công sức của kẻ cùng đinh nơi bến bãi và toan tính lạnh lùng của những kẻ cầm quyền.
“Trèo lên ngọn núi trông sang,
Thấy kinh đô rộng, thấy ngàn trùng mây.
Tay cầm chén ngọc vơi đầy,
Dưới chân cát bụi biết ngày nào tan…”
Chiếc quạt giấy trên tay Hạo Nhiên khẽ gõ nhẹ vào mép lan can gỗ lim, một cử chỉ tiết chế phá vỡ khoảng lặng giữa hai người:
– Kinh thành nhìn từ đây, phu nhân thấy thế nào?
Giọng chàng phẳng lặng, Quý Nhi không quay đầu, các khớp ngón tay siết chặt vào dải lụa thêu chỉ kim tuyến, đáy mắt ánh lên vẻ lạnh lùng kiêu hãnh mà chàng chưa từng chứng kiến:
– Hóa ra bấy lâu nay, thiên hạ chỉ nhìn thấy tội ác của một kẻ phản thần, mà chưa từng thấy cái giá để nuôi sống sự phồn hoa này lớn đến nhường nào.
Quý Nhi không quay đầu, ánh mắt đăm đăm nhìn về dòng người cuồn cuộn bên dưới, nơi một Thịnh An tráng lệ và chân thực đang trải rộng đến ngợp ngợp cõi lòng. Một thoáng rung động ngỡ ngàng len lỏi trong lồng ngực, thứ xúc cảm vừa choáng ngợp, vừa ngỡ như hạnh phúc đầu đời khi lần đầu chạm tay vào sinh khí của cõi trần ai. Và giữa dòng cảm xúc ấy, lần đầu tiên nàng cảm thấy một tia biết ơn mơ hồ hướng về Phạm gia.
Nếu ngày biến cố ấy gia tộc họ Phạm không dang tay giữ lại, đứa con tội đồ mang nặng chữ hiếu như nàng đáng lẽ đã phải vùi thây theo gia môn để đền bù tội nghiệt tày trời của cha. Tội ác của phụ thân là vết nhơ không thể rửa sạch, nàng biết thân mình là kẻ có tội và đã từng nghĩ chỉ có cái chết mới trọn vẹn đạo làm con. Nhưng sự ngăn cản cùng chốn nương náu từ Phạm gia dẫu chỉ là sự sắp đặt hay tính toán, đã vô tình mở ra trước mắt kẻ mang tội như nàng một chân trời lộng lẫy đến nhường này.
Trông xuống bến sông, nàng mới vỡ lẽ ra những điều mà ngày trước dẫu có đốt đuốc soi kinh sách cũng chẳng thể nào tường tận. Cái chốn kinh kỳ ngất ngưởng nghìn năm này nào phải đứng vững nhờ mấy câu tụng ca trơn miệng hay vết triện son đỏ chói nơi công đường, mà cậy vào muôn ngàn cơ sự ngấm ngầm, trĩu nặng lên từng manh chiếu rách dưới chân cầu. Đứng giữa chốn cao sang ngút mắt, trong lòng kẻ mang dòng máu tội đồ bỗng dấy lên mối xốn xang khôn xiết. Nàng biết tội lỗi phụ thân rành rành ra đấy chẳng mong gì gột rửa, cái án nghịch tặc treo trên đầu họ Đoàn vẫn là gánh nặng khôn kham. Thế nhưng, giữa chốn bụi trần cuồn cuộn này, việc nàng còn giữ được nắm xương tàn chẳng lẽ chỉ để cắn răng chịu tội thay người trước? Nàng không cam lòng chôn vùi ngày tháng như một cái bóng mượn hơi tàn của kẻ khác; giữa cuộc đổi thay ghê gớm của trời đất, nàng muốn tự tay nắm lấy phần số mỏng manh của mình, dẫu phải đánh đổi bằng cả kiếp trầm luân.