Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Bà lão thấy Sephira như người mất hồn thì có vẻ lo lắng, bà ta đi lại hỏi thăm cô. Sephira giật mình khi bà ta vừa chạm vào người mình, cô bèn nhận ra ngay là biểu hiện nãy giờ của mình rất đáng nghi. Cô vội vàng chào bà ta rồi đứng lên đi ra cửa.

Nhưng ngay khi Sephira vừa bước ra khỏi cửa, cô lại nghe bà lão ở phía sau nói với giọng cảm thán: “Chắc cô sốc lắm khi biết một gia đình đôn hậu như thế phải chết, tất cả là tại bà Đại công tước đó”.

Sephira khựng lại, quay đầu nhìn bà lão. “Ý bà là sao ạ?”.

“Ban đầu, họ không có tên trong danh sách hành khách của con tàu đó đâu,” bà lão nói. “Nhưng ba mẹ của Josephine làm người hầu cho một gia đình Đại Công tước. Thế rồi chẳng hiểu sao cuối cùng bà Đại Công tước đó lại sắp xếp cho cả gia đình họ lên thuyền, để rồi tất cả đều mất mạng. Mà họ chỉ là những người hầu, nên khi tàu đắm họ không được ưu tiên cứu hộ. Đa số những người sống sót đều là quý tộc, hoàng tộc cả. Bọn họ định đi ăn mừng dinh thự mới sửa trên hòn đảo nào đó, cuối cùng tất cả thành mồi cho cá!”.

Đại Công tước? Đại Công tước! 

Sephira nhớ lại thông tin vị chủ nhân trước của hòn đảo, chẳng phải cô đã từng nghe cảnh sát nói nó là tài sản truyền thừa của một gia đình Đại Công tước sao? 

Thế là mọi chuyện đã rõ ràng! Sephira cười đắc thắng trong lòng. Nếu có lão Bell ở đây, chắc cô đã cười vào mặt lão.

“Nhìn xem, lão già, thế này mới gọi là hợp lí, mới gọi là lôgic chứ! Chỉ nên kết luận khi mọi manh mối đều đã được xem xét đến và có một ý nghĩa nào đó trong toàn bộ chuỗi vụ án chứ!”. Sephira cảm thấy lòng mình hân hoan và vui sướng như có pháo hoa đang nở rộ.

Cô hỏi dồn dập bà lão về địa chỉ của gia đình Đại Công tước đó. Bà ta có vẻ ngạc nhiên khi thái độ của cô đột ngột xoay chuyển như thế.

Mà câu trả lời sau đó của bà ta còn khiến Sephira thấy sung sướng gấp bội - dinh thự của gia đình Đại Công tước chỉ cách đây có năm doman (~9 km)!

Không chần chừ, Sephira lao ra khỏi nhà của bà ta. Cô chạy như bay ra chỗ chiếc xe ngựa, nhảy lên và ra lệnh cho người đánh xe phóng thẳng đến địa chỉ đó. 

Chiếc xe một ngựa ọp ẹp lao đi trên con đường quê gồ ghề, bánh gỗ nện xuống mặt đất thỉnh thoảng lại làm đá sỏi bắn tung tóe. Mỗi ổ gà trên con đường cũ lại mấy lần suýt hất Sephira bật lên khỏi ghế, tay cô phải bám chặt vào thành xe để ngồi vững.

Nắng chiều rọi xiên qua lớp bụi đất mù mịt bốc lên từ vó ngựa, Sephira cảm giác cả người mình lúc này có lẽ đã lấm tấm bụi đường. Gã đánh xe thì có vẻ không quan tâm gì đến trạng thái của người khách phía sau, chỉ biết quất roi không ngớt, miệng quát ầm ĩ làm chiếc xe một ngựa kéo nghiêng ngả như sắp sụm xuống bất cứ lúc nào. Ngay lúc đó, một cơn mưa rào mùa hạ bỗng dưng đổ xuống. Cỗ xe ngựa không mái che hạng rẻ mà cô thuê ở ga tàu giờ đây đã hại chính cô. Sephira chỉ còn thầm biết than trời vì đã tiếc rẻ vài đồng bạc mà đẩy mình vào cảnh khốn đốn thế này.

Nhưng may rằng cô không phải dầm mưa lâu vì gã đánh xe đã cho con ngựa kéo chạy chậm lại và thả những nước đi thong thả khi họ rẽ vào một cái cổng sắt lớn.

Tòa biệt thự hiện ra sau màn mưa xám nhạt uy nghi và lạnh lẽo như một quý tộc già đang lặng im giữa miền đồng nội. Công trình được dựng bằng đá trắng đã ngả màu thời gian. Nó có ba tầng cao với những khung cửa sổ hẹp cao xếp đều đặn dọc mặt tiền cùng mái ngói đen dốc đứng. Chính giữa lối vào là bậc thềm rộng dẫn lên đại sảnh, hai lan can đá cong nhẹ hai bên. Trước biệt thự trải dài một khu vườn rộng nhưng hoang vắng. Con đường đất nhỏ cắt ngang thảm cỏ úa, hai bên lác đác những bụi thông có vẻ từng được cắt tỉa cầu kì song đã bắt đầu mất dáng.

Chiếc xe ngựa của Sephira được đánh vào sát ngay cầu thang ngắn dẫn lên cửa chính của dinh thự.

Sephira xuống xe trong bộ dạng chật vật và thảm hại vô cùng. Cô và người đánh xe chạy ngay lên mái hiên và kéo sợi dây chuông. Lúc này thì cơn mưa rào đã bắt đầu ngớt.

Một lúc sau, cánh cửa chính hé mở. Một người phụ nữ trung niên, dáng người hơi béo, mặc bộ đồ hầu gái đã sờn cũ thò đầu ra. Bà ta có khuôn mặt tròn trĩnh, phúc hậu và đôi mắt nâu ấm áp.

“Xin hỏi, cô cần gặp ai?”. Bà ta hỏi, giọng nhẹ nhàng.

Sephira cố gắng nở một nụ cười lịch sự nhất có thể trong tình trạng ướt như chuột lột: “Xin chào bà, tôi đi công tác, dọc đường bị mắc mưa, bà có thể cho tôi trú tạm một lúc để hong khô quần áo không?”.

Bà hầu nhìn cô với ánh mắt vừa thương hại lại vừa ái ngại. Gương mặt phúc hậu của bà ta khiến cô nghĩ rằng bà sẽ mời mình vào trong ngay khi nghe về hoàn cảnh, nhưng rồi bà ta lại lắc đầu và nói: “Gia đình của ông chủ tôi đều ở Thủ đô cả rồi, tôi thì không được phép cho người lạ vào dinh thự, mong cô thông cảm”.

Sephira cảm thấy thất vọng tràn trề, nhưng rồi bà hầu lại nhìn cô một lượt nữa từ trên xuống dưới và có vẻ như lúc này bà bắt đầu động lòng trắc ẩn vì bộ dạng thảm hại của cô - quần áo ướt sũng, mặt mày tái nhợt vì lạnh.

“Thôi cô vào nhà đi, đợi mưa tạnh rồi hãy đi. Tôi sẽ lấy cho cô khăn khô để lau người”.

Sephira mừng như vớ được vàng. Gã đánh xe và cô lúi cúi bước vào trong.

Bên trong dinh thự, khung cảnh cũng ảm đạm không kém gì bên ngoài. Những tấm thảm trải sàn đã sờn chỉ, những bức rèm nhung đã bạc màu vì bụi bặm, những bức chân dung sơn dầu đồ sộ trên tường vẫn còn đó nhưng khung của chúng đã trầy xước và màu tranh thì phai nhạt. Mọi thứ trong dinh thự đều toát lên một vẻ u buồn và như tiếc nuối cho một thời vàng son đã qua.

Sephira thầm đoán, dựa theo tình trạng của nơi này, có lẽ các thế hệ sau của bà Đại Công tước đã không đủ tài năng để giữ lại những vinh quang mà cha ông họ đã gây dựng trong quá khứ.

Bà hầu dẫn Sephira vào căn bếp nơi có một lò sưởi nhỏ đang cháy. Bà ta đưa cho cô và gã đánh xe một chiếc khăn bông khô rồi pha cho hai người một bình trà nóng.

Sephira run rẩy cầm lấy tách trà, hơi ấm từ nó dần dần lan tỏa khắp cơ thể, xua tan đi cái lạnh buốt của cơn mưa. Gã đánh xe thì thản nhiên đi lên phòng khách, có lẽ gã đi tìm một bếp sưởi ở nơi riêng tư hơn để tự làm ấm cơ thể.

Còn lại một mình với bà hầu, Sephira lên tiếng hỏi thăm: “Bà quán xuyến cả dinh thự này một mình sao? Chắc là vất vả lắm.” Cô cố gắng tạo một bầu không khí thân thiện.

Bà hầu cười hiền: “Cũng quen rồi cô ạ. Tôi cũng đã gần bảy mươi tuổi rồi, nhưng nhờ thường xuyên vận động nên vẫn còn khỏe. Có thêm một lão hầu nữa nhưng ông ta già yếu lắm rồi, chỉ quanh quẩn trong nhà phụ tôi mấy việc lặt vặt thôi”.

Sephira suýt sặc trà khi nghe bà ta nói mình đã gần bảy mươi. Bà ta trông trẻ hơn tuổi rất nhiều với làn da hồng hào và dáng người nhanh nhẹn. Cô vội vàng khen ngợi sức khỏe của bà ta rồi từ từ lái câu chuyện sang chủ đề mà cô muốn.

Cô hỏi bà ta về gia đình chủ mà bà ta đang phục vụ. Thoạt đầu, bà ta có vẻ ngần ngại không muốn kể, nhưng có lẽ vì không khí trong căn bếp quá lặng lẽ và hai người ở cùng nhau mà không nói gì thì gượng gạo quá nên bà ta lại bắt đầu kể về cuộc đời làm hầu của mình ở đây. Ban đầu khi nghe bà ta dông dài về cơ duyên bà ta được đến đây phục vụ, Sephira tưởng mình lại phải ngồi hầu chuyện một lão Bell phiên bản nữ, nhưng rồi bà ta lại bắt đầu kể về gia đình chủ cũ của mình, về bà Đại Công tước quá cố. Sephira nghe đến đó thì mừng như kẻ mù thấy ánh sáng, cô đổi tư thế rồi chăm chú lắng nghe không để sót một chữ.

Giọng bà hầu lúc này đầy vẻ ngưỡng mộ và kính trọng: “Bà Đại Công tước của chúng tôi là một người tuyệt vời. Bà vừa có lòng nhân hậu, lại vừa vô cùng sùng đạo. Bà đã quyên góp rất nhiều tiền cho Tòa Thánh và còn được dựng cả tượng tưởng nhớ khi qua đời nữa. Chính vì cái chết đột ngột của bà trong vụ đắm tàu năm xưa mà gia tộc này mới xuống cấp như bây giờ. Trước đó, nhờ bà là Cố vấn Hoàng gia, cả gia tộc đều được hưởng ké vinh quang và được Đức Vua trọng dụng, sống trong nhung lụa. Còn giờ,” bà hầu già thở dài một cái thật khẽ, “chỉ còn biết mưu sinh thập xứ nhưng tình hình cũng chẳng khá khẩm mấy”.

Sephira nghe đến đây thì không nén nổi một nụ cười.

Tòa Thánh. Lại là Tòa Thánh. Mọi manh mối trong vụ án này dường như đều dẫn về đó. Như thế là có khả năng bà Đại Công tước đây cũng là một trong những người từng đến Tòa Thánh Jean-sé!

Cô vội vàng lục tìm trong túi mình và lấy ra tấm hình của Josephine Savadov, may mắn là nó chỉ bị thấm nước mưa trong một lúc nên chưa đến mức hỏng. Tay cô run run cầm tấm ảnh, chìa ra phía bà hầu.

“Thưa bà, bà có biết người này không ạ?”.

Bà hầu cầm lấy tấm hình, nhìn một lúc. Rồi đột nhiên, đôi mắt bà ta mở to và bà ta kêu lên một tiếng kinh ngạc. “Trời ơi, đây chẳng phải là bà Đại Công tước thời trẻ sao? Giống hệt như in! Tôi đã sống trong dinh thự này từ bé, từ lúc tôi còn nhỏ đến giờ. Tôi vẫn nhớ như in dáng vẻ của bà Đại Công tước khi mới tốt nghiệp đại học và bắt đầu vào Nội các làm việc. Dáng vẻ đó giống hệt người trong hình này!”. Rồi bà ta nhìn Sephira, hỏi với giọng run rẩy: “Ôi trời, cô gái, sao cô có được bức ảnh này thế? Cô là gì của bà ấy? Sao cô có được tấm ảnh lúc trẻ của bà ấy chứ? Tôi còn nhớ trước khi mất, bà ấy đã cho đốt hết ảnh chụp và các đồ dùng của mình. Ban đầu bọn hầu chúng tôi chẳng hiểu gì nhưng vì đó là lệnh nên chúng tôi không dám không tuân theo”.

Lúc này thì Sephira không kiềm nổi khoé môi bắt đầu cong lên, cô bật cười sặc sụa, cả cơ thể run lên, cả tách trà cũng bị cô đánh đổ ra bàn.

Josephine Savadov, kẻ duy nhất sống sót trên đảo Boun, thực chất chính là bà Đại Công tước!

Ngay lúc đó, mọi mảnh ghép trong đầu Sephira đột nhiên xếp lại với nhau, tạo thành một bức tranh hoàn chỉnh và khủng khiếp đến rợn người. Thì ra là thế. Tất cả đều là do bà ta sắp xếp. Bà Đại Công tước, một người phụ nữ thông minh tuyệt đỉnh, một cố vấn Hoàng gia đầy quyền lực, đồng thời cũng là một kẻ cuồng tín đã tìm ra bí mật của sự bất tử. Bà ta sắp đặt vụ đắm tàu để hợp thức hóa thân phận của mình và còn chu toàn đến nỗi tiêu hủy hết tất cả bằng chứng về dung mạo của mình để không ai liên kết được hai con người lại với nhau!

Trời, và cô còn phát hiện ra một điều khác, rằng khi bà ta “hồi phục” qua một kiếp sống khác, bà ta thậm chí có được cả sự trẻ trung! Hoặc có thể rằng bà ta đã trở về với nguyên dạng khi mình mới bất tử? Có thể bà ta đã đạt đến trạng thái bất tử từ lúc còn trẻ, và bà ta đã dành mấy mươi năm còn lại của đời mình để sắp xếp chu toàn cho bản thân ở kiếp sống sau, và cô con gái của gia đình Savadov chính là con át chủ bài trong kế hoạch này của bà ta.

Nhưng còn Josephine Savadov thật sự đang ở đâu? 

Sephira nhớ lại những lời của bà lão ở ngôi làng ban nãy, gia đình Savadov từng là người hầu ở nơi này.

Cô quay sang nhìn bà hầu già bên kia, bà ta vẫn còn đang bàng hoàng rúng động vì một bức hình. Sephira cố mở lời chen vào mấy tiếng sụt sùi của bà ấy: “Bà này, tôi nghe nói hồi thời của bà Đại Công tước, hình như có một gia đình người hầu ở đây có họ là Savadov phải không? Tôi nghe nói,” bà hầu già lúc này đã rời mắt khỏi bức hình kia mà nhìn lên cô, “họ cũng thiệt mạng trong vụ tai nạn tàu thủy đó”.

Ánh mắt bà hầu già hơi mơ màng như đang nhìn vào xa xăm, một lúc sau bà mới chậm chạp đáp lại: “Tôi nhớ ra rồi, đúng là có đấy”. Thế rồi bà ấy lại chậm rãi kể tiếp: “Hai vợ chồng họ có một cô con gái nhỉ? Con bé đó hiền lành, đáng yêu lắm, nhưng mà hình như nó không được sáng dạ mấy, ý tôi là,” bà ấy ngập ngừng chỉ vào đầu mình, “con bé gần hai mươi rồi nhưng không được như mấy đứa trẻ cùng trang lứa. Ban đầu con bé sống với đám hầu chúng tôi ở nhà dưới, nó cũng không quấy phá gì nên không ai thấy phiền hà đâu. Rồi hình như khoảng,” bà ấy dừng một lúc như để nhớ lại, “khoảng nửa năm trước khi vụ tai nạn đó diễn ra, bà Đại Công tước phát hiện ra con bé rồi nhận nuôi nó ngay lập tức. Bà ấy quý nó lắm, chăm chút hết sức, hai vợ chồng Savadov cũng được hưởng lây. Bà ấy còn cho tu sửa một trang viên của gia tộc trên đảo để làm quà mừng sinh nhật cho con bé ấy. Hòn đảo ấy tên gì ấy nhỉ, tên gì ấy nhỉ?”. Bà giúp việc lẩm bẩm.

“Boun?”. Sephira lên tiếng.

“Ờ, đúng, đúng”. Bà ta gật đầu lia lịa. “Cái tên ấy là do con bé chọn đấy. Đó là hòn đảo duy nhất của được Hoàng gia tặng cho gia tộc, vậy mà bà ấy để con bé đặt tên, rồi còn cho người tu sửa lại mọi thứ. Chuyến đi thuyền ấy là để họ đến đảo ăn mừng đấy. Cứ tưởng là chuyện vui, thế rồi,” bà hầu thở dài, “thế rồi…”.

“Thế rồi bà ta đã thành công, đã đánh bại cái chết, đánh bại cả Thượng đế và lừa cả những con mắt phàm trần, chủ của bà đã làm được như thế đó”. Sephira không tránh khỏi mà cảm thán. Nếu theo hướng này thì có thể giải thích được số tiền bảo hiểm mà Josephine nhận được sau vụ tai nạn, chắc rằng bà ta đã “tự” mua cho mình, bởi người hầu thì chẳng ai mua bảo hiểm làm chi khi còn phải chắt chiu lo ăn từng bữa. Và ôi trời, chắc chắn căn mật thất đã lấy mạng Klatinrofto được cho xây dựng trong lần tu sửa ấy chăng? 

Chắc chắn bà ta đã ngấm ngầm lên kế hoạch từ lúc đó, từ trước khi vụ tai nạn xảy ra, không thể nào có chuyện trùng hợp như thế được.

Sephira điểm lại tất cả. Vậy là đầu tiên bà Đại Công tước đó đã tìm được phương pháp để đạt được sự bất tử. Ôi, có thể bà ta đã loại trừ từng trường hợp sau khi những lần hội họp với đám người kia thất bại. Và rồi khi đã nắm được bí kíp trường sinh, bà ta lại lên kế hoạch tạo dựng cho mình một thân phận mới hoàn hảo, bằng cách đánh cắp thân phận của người khác - đứa con gái nuôi bị lợi dụng của nhà Savadov. Thế rồi bà ta lại nghĩ cách lấy mạng những người “chung chí hướng” năm xưa với mình bằng một kế hoạch kín kẽ, đánh vào tính cách và thói quen, thói xấu của bọn họ. 

Một kế hoạch mĩ mãn biết bao nhiêu. Quả không hổ danh là một người từng là Cố vấn Hoàng gia! Một người phụ nữ phi thường trong thời đại này!

Nhưng một câu hỏi vẫn còn đó, quay cuồng trong tâm trí Sephira. Nếu bà ta đã đạt được bất tử, đã có được quyền lực sánh ngang với thần thánh, vậy thì tại sao bà ta vẫn muốn giết những con người trên hòn đảo kia? Đúng là bọn họ có thể là những kẻ khó ưa, làm nhiều chuyện sai trái, nhưng họ không xứng đáng phải chết. Bà ta đã có tất cả, một cơ thể không thể bị hủy diệt, một trí tuệ có thể lên kế hoạch cho cả một vụ thảm sát hoàn hảo, và khả năng tự “sinh” ra chính mình để bắt đầu một cuộc đời mới, bà ta đã làm được điều mà đồng loại bà ta không làm được: lựa chọn cách mình được sinh ra, nơi mình được sinh ra và có lẽ là cả cuộc đời mình có thể sống, thật thế chăng? Bà ta đã như một vị thánh rồi, còn điều gì có thể thôi thúc một vị thánh phải giết người như là muốn tận diệt họ thế kia?

Sephira rời khỏi dinh thự trong khi câu hỏi đó vẫn còn đeo đẳng trong tâm trí. Cô vừa nghĩ như thế vừa bước ra ngoài thì chẳng biết vô ý thế nào lại thấy ngay một bức tượng trắng bị đổ nằm khuất trong bụi cây ở sát bên mép tường cạnh cửa ra vào. 

Bức tượng bị những bụi cây lùm lùm che mất phần thân, chỉ còn thấy được đỉnh đầu. Sephira bước xuống bậc thang và chẳng biết vì sự gì thôi thúc, cô đi lại gần và vén những cành cây đang phủ lên nó.

Đó là bức tượng bán thân, hay nói đúng hơn là giờ chỉ còn bán thân, của một người đàn ông với vẻ mặt khốn khổ, phần bụng bị rách toác bởi móng vuốt của một con đại bàng đang móc vào.

Dựa theo kích thước hiện tại của bức tượng, cô đoán nếu còn nguyên vẹn thì nó ắt hẳn phải to gấp đôi một người trưởng thành khi có bệ đỡ và nửa thân dưới.

Sephira càng nhìn bức tượng lâu lại càng thấy nó quen thuộc, để rồi nhớ lại mình đã từng thấy nó ở trên đảo Boun, ở phía trước lối vào mê cung nơi ả Savadov, nói đúng hơn là bà Đại Công tước, gặp nạn.

Sephira trở về Thủ đô vào sáng sớm hôm sau sau một đêm dài ngồi trên tàu mà không sao chợp mắt được. 

Cô nghĩ về những việc mình phải làm vào ngày hôm sau. Có lẽ là đi gặp Downson, nói với anh ta toàn bộ sự thật. Ôi, nhưng như thế thì làm được gì, cô tự hỏi như thế thì làm được gì. Cứ cho là nếu Josephine Savadov tỉnh lại, cơ chế bất tử của cô ta được kiểm chứng, mà Sephira biết là họ sẽ có nhiều cách để làm thế, từ cách nhân đạo đến vô nhân đạo cũng chẳng xá gì nếu so với bốn mạng người trên đảo Boun và hàng chục con người khác thiệt mạng trong vụ đắm tàu kia, nhưng như thế thì sao? Công lí có được thực thi chăng? Thực thi như thế nào? Họ phải bắt tù ai? Cô ả bệnh nhân vừa tỉnh lại kia sao?

Sephira về đến nhà lúc gần hai giờ sáng. Cô vừa cởi bỏ bộ quần áo nhàu nhĩ, lấm bụi bẩn rồi đang chuẩn bị đi tắm thì có tiếng gõ cửa dồn dập. Cô mở cửa thì thấy Downson đứng bên ngoài gương mặt đầy vẻ kích động.

Anh ta nhìn thấy cô thì nói ngay với giọng gấp gáp: “Savadov đã tỉnh lại rồi”.

Sephira không thèm tắm rửa gì nữa, cô chỉ kịp thay bộ quần áo mới rồi cùng Downson lao thẳng đến bệnh viện. Khi họ đến nơi, trước cửa phòng bệnh đã có vài viên cảnh sát và trong phòng, Thanh tra Bell đang đứng cùng với một viên kỹ thuật viên đang loay hoay với một cỗ máy kì lạ.

“Máy phát hiện nói dối”. Downson thì thầm giải thích khi thấy vẻ mặt tò mò của Sephira. “Bell muốn làm cho đủ thủ tục và hợp lí hóa mọi thứ, dù về lôgic thì vụ án đã kết thúc rồi, nhưng ông ta vẫn muốn thẩm vấn lại Savadov một lần cuối xem cô ta có nhớ gì không và,”Downson cười nhẹ, “để củng cố thêm cho những ‘suy luận tài tình’ của mình”.

Trong lúc đợi viên cảnh sát kia lắp máy và kiểm tra các thứ trước khi bắt đầu quá trình lấy lời khai, Sephira âm thầm quan sát người sống sót cuối cùng sau vụ thảm án kinh hoàng kia.

Josephine nằm trên chiếc giường sắt sơn trắng đã bong tróc vài chỗ được kê cao phần đầu bằng hai chiếc gối bông nhồi rơm cứng. Người ta đã đặt cô ta ở tư thế nửa nằm nửa ngồi để giữ đúng tư thế cho hai lá phổi bị tổn thương của cô ta có thể tiếp tục hoạt động. Một chiếc gối khác được chèn dưới cánh tay trái, nơi ống truyền dịch bằng cao su nâu sẫm nối từ một chai thủy tinh trong suốt treo lủng lẳng trên giá sắt. Dung dịch nước muối sinh lí chảy xuống từng giọt chậm rãi xuyên qua ống kim loại cắm vào mu bàn tay xanh xao đã được cố định bằng thanh nẹp gỗ nhỏ và vài vòng băng trắng.

Phần ngực cô ta được quấn kín trong lớp băng vải dày xiết chặt từ vai xuống đến tận bụng, giữ cho lồng ngực gần như bất động, chỉ đủ để những nhịp thở nông và yếu ớt có thể nâng lên hạ xuống một cách khó nhọc. mMảng băng trên vai trái vẫn còn thấm vệt máu khô màu nâu sẫm từ vết tích của vết thương đã từng suýt lấy mạng cô ta. Cánh tay phải, cũng được quấn băng ở cổ tay, để lộ những ngón tay thon gầy và nhợt nhạt, nơi những sợi dây điện mảnh của cỗ máy phát hiện nói dối được kẹp vào.

Điều kì lạ rằng dù cả cơ thể cô ta hốc hác và bị băng bó một cách thảm thương, Sephira có thể nhận ra gương mặt cô ta có vẻ trẻ trung và làn da thì mịn màng, như thể cuộc hôn mê vừa qua đã giúp cô ta “hồi sinh” tuổi xuân.

Downson trong lúc đó lại bắt đầu tò mò mà hỏi cô: “Thế ngày hôm qua cô đi điều tra được gì rồi? Thêm được nhiều thứ mới chứ?”.

“Một mớ ấy chứ”. Sephira lúc này chỉ còn đủ sức để đáp lại một câu ngắn. Cô đoán mình đã bị cảm sau khi dầm trận mưa rào hôm qua.

“Nào, đừng nói nửa chừng thế, với đóng góp của tôi thì tôi nghĩ bản thân xứng đáng được nghe tường tận những chuyện cô đã tìm được chứ”. Downson hăng hái tiếp lời.

Sephira nhìn qua anh ta, cười nhẹ rồi đáp với sự cảm kích: “Tôi bảo đảm sau khi tôi viết xong bài đó, anh sẽ là người đầu tiên được đọc, trước cả mấy ông sếp bên tổ chức gì đó”.

Nghe Sephira nói vậy, cộng với thần sắc nhợt nhạt của cô thì Downson đoán được có lẽ cô đã mệt nên không muốn dông dài, dù vậy lời hứa của cô cũng đáng để kì vọng.

“Tôi thì có thêm tin cho cô đây, cô phóng viên”. Anh ta nói tiếp. “Sau này chắc cô không tìm được người truyền tin nào đắc lực hơn tôi đâu, chuyện gì cũng nói cho cô biết đầu tiên”.

Sephira dựa đầu vào khung cửa, gật gù.

“Lão Arat hôm qua bị thẩm vấn một lần nữa. Đa số các thông tin lão cung cấp không có gì mới, nhưng mà có một cái về Savadov tôi nghĩ là cô muốn nghe đấy”.

“Savadov à?”. Sephira lặp lại bằng giọng nhỏ. “Đúng là thế”. Nhưng cô cũng không chắc rằng sau những gì cô đã biết về người đàn bà này thì thông tin mới từ Downson có đủ làm cô hứng thú.

“Lão ta nói trước khi cô nàng ngất đi có ú ớ nói gì mà, ‘Nước lạnh quá, ngộp quá’, như vậy đó. Lão nói ban đầu lãi tưởng cô ta mê sảng hay gì đó, nhưng giờ nghĩ lại lão thấy lạ vì cô ta mê sảng cái gì mà ngộ đời thế, xung quanh cô ta lúc đó hoàn toàn khô ráo mà”.

Sephira nhìn qua Downson, anh ta cũng nhìn lại cô.

“Sao thế? Có phải bất ngờ lắm không?,” anh ta hỏi với nụ cười hứng thú.

Sephira cười nhạt: “Không bất ngờ lắm, chỉ là tự tin hơn chút đỉnh thôi”.

Nét mặt vui vẻ của Downson biến mất ngay. Anh ta lại điềm tĩnh chuyển ánh mắt vào hành động của mấy viên cảnh sát trong phòng.

Sephira không nhìn thấy sự thất vọng của Down, cô đang tự đoán một cách mơ màng, vậy là họ quên hết tất cả mọi thứ ở kiếp sống trước khi sống lại, và chỉ nhớ ra những kí ức ấy khi cận kề cái chết ở kiếp sống này. Một sự nhớ lại muộn màng.

Thế thì đúng hết rồi còn gì, nhỉ?

Cuối cùng sau một lúc loay hoay thì viên cảnh sát kia đã xếp đặt xong cỗ máy, quá trình thẩm vấn bắt đầu. 

Bởi vì Josephine còn quá yếu ớt nên cô ta không thể nói chuyện được, chỉ có thể trả lời các câu hỏi có - không bằng cách chớp mắt, nhưng với lão Bell thì như thế cũng đã đủ.

Bell hắng giọng, âm thanh khô khốc cắt ngang sự tĩnh lặng và mở đầu cuộc thẩm vấn: "Cô Savadov, cô có nhớ bất cứ điều gì đã xảy ra trên đảo Boun không? Có thì cô chớp một cái, không thì hai cái".

Josephine chậm rãi quay đầu về phía Bell, động tác ấy dường như tiêu tốn của cô ta rất nhiều sức lực. Cô ta nhìn ông ta một lúc lâu, đôi mắt vô hồn ấy không hề có một tia dao động nào, rồi dường như nửa thế kỉ trôi qua, cô ta như mới dùng hết sức bình sinh để chớp nhẹ mí mắt hai lần.

Mọi ánh mắt trong phòng đều đổ dồn vào cỗ máy. Thế nhưng kim của nó không hề run rẩy mà vẫn di chuyển một cách từ tốn, vẽ nên một đường cong mềm mại, liên tục và ổn định trên tờ giấy trắng.

Không có một cú giật hay một đỉnh nhọn bất thường nào. 

“Cô ta đang nói thật đấy”. Downson thì thầm. “Cô ta không nhớ gì cả”.

Lão Bell rộng miệng cười khi nhìn thấy những đường cong đều đặn trên tờ giấy. Lão ta nhìn ra phía Downson và Sephira đang đứng, lên tiếng với giọng cao vút hứng khởi: “Thế là xong vụ án rồi các cô cậu”.

Downson gật đầu ngay lập tức, hưởng ứng một cách hời hợt: “Vâng, chúc mừng Thanh tra”.

Sephira nhìn thẳng vào gương mặt của Josephine, hay nói đúng hơn là bà Đại Công tước, lúc này. Cô nhớ lại dáng vẻ của người đàn bà trong lời kể của bà hầu già, một người mạnh mẽ, trí tuệ, khiến người ta kính nể, ngay cả Đức Vua cũng quan tâm đến các ý kiến và quan điểm của bà, và cô cũng không thể không nghĩ rằng nhiều chính sách, bộ luật mang lại đời sống hiện tại cho mình và cho những người dân của đất nước này đều có một phần do bàn tay bà tạo ra, người như thế giờ đây lại yếu ớt, mong manh trên giường bệnh. Nét mặt hoang mang và sợ sệt, đôi mắt đầy vẻ lo lắng, dè chừng vì chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra. Tuy vậy, trên gương mặt đó, Sephira vẫn thấy toát ra sự đau khổ và dằn vặt làm sao, như thể một người đang chịu tội, như gương mặt của bức tượng người đàn ông hàng ngày bị đại bàng mổ bụng kia. Mỉa mai rằng người đàn bà này không làm được những điều đáng nể trọng như ông ta.

Sephira tự hỏi bà ta có thật sự tính toán tường tận đến các khả năng khi mình đã đạt được bất tử, rằng dù con người có chạm được bàn tay vào ngôi vị của Thánh thần thì đôi chân vẫn bị xiềng xích trần gian cầm tù.

-Hết-

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px