Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Trời, sẽ thế nào nếu Savadov đã tìm ra được nghi thức đúng rồi thực hiện nó từ trước và đã thành công? Sẽ thế nào nếu cô ta thực sự đã đạt đến trạng thái bất tử, không diệt không tổn? Nếu thật sự là thế, cô ta đã chiến thắng quy luật tối thượng của tự nhiên và có được tri thức quý giá nhất về sự sống.

Cô ta đã thật sự hóa Thánh theo chính nghĩa đen của từ này.

Sephira thấy cả người mình lạnh đi, mọi giác quan của cô đều tê dại trước thông tin này. Mồ hôi lạnh bắt đầu thấm ra áo, tuy không nhìn thấy nhưng cô biết mặt mình lúc này có lẽ đã trắng bệt.

Có thể vì thấy biểu cảm của Sephira đột ngột thay đổi theo hướng bất thường nên cậu nhân viên đã đón tiếp cô ban sáng mới từ từ đi lại hỏi thăm.

Sephira cố tỏ ra là bình thường nhưng sự lắp bắp khi trả lời và cử chỉ lúng túng của cô đã tố cáo tất cả.

Cậu ta nhìn vào số sách cô đang đọc, rồi như hiểu ra điều gì, cậu ta bắt đầu nói bằng giọng như cảm thông: “Ai lần đầu tìm hiểu về lĩnh vực này cũng thấy choáng váng. Lúc tôi mới nhập học, tôi cũng bàng hoàng nhiều thứ lắm, mấy kiến thức về tôn giáo và tâm linh này luôn là một sự bí ẩn đối với khoa học duy lí mà chúng ta thường biết mà”.

Sephira đâu còn tâm trí mà nghe cậu ta dông dài về sự nghiệp học thuật của mình. Dù vậy cô cũng cảm giác mình chẳng còn sức lực để đứng lên nữa, nhất là sau khi cô đã nhịn ăn cả ngày, ngồi bẹp ở thư viện suốt gần mười tiếng đồng hồ và rồi biết được thông tin về chuyện một bệnh nhân tâm thần có khả năng là kẻ bất tử.

Nhưng nếu Savadov là kẻ bất tử thì cô ta ở đó làm gì? Cô ta có liên hệ gì với những người đó, và rốt cuộc là vì sao cô ta lại muốn giết họ?

“Chuyện cô ta giết họ không phải là nghi ngờ nữa”. Sephira nghĩ. “Chắc chắn là cô ta rồi, nếu cô ta là kẻ bất tử thật thì cô ta nên là hung thủ chứ không phải Wellowe. Cô ta đã lên kế hoạch cho toàn bộ chuyện này! Thư là cô ta gửi, một bức cho mình và bốn bức cho những nạn nhân xấu số!”.

Nhưng thế thì cô phải chứng minh cô ta là kẻ bất tử! Ôi, nhưng lẽ nào chuyện cô ta sống sót thần kì như thế đã chẳng là bằng chứng vững chãi nhất rồi sao? Và còn một điều rằng, có lẽ cả cô ta và Wellowe đã từng thực hiện nghi thức Thánh hóa đến mức thông thạo hoặc đã tìm hiểu nó cặn kẽ, nhất là Wellowe chăng, vì ông ta đã lập tức nhận ra các dấu hiệu của việc nghi thức đang diễn ra để rồi “hoàn thành” nó bằng cách đuổi giết Savadov.

Và còn…

“Và còn rất có thể bọn họ quen biết nhau là vì đã từng cùng thực hiện nghi thức đó!”. Sephira bất ngờ đến mức gần như quên cả hít thở. Cô nhớ lại hình ảnh cô bé gái trong cái đồng hồ quả quýt của Lesis và cái chết kinh hoàng của con bé. Một đứa trẻ “thuần khiết, trong sạch như một con chim trắng”. Và cái đồng hồ quả quýt mà Lesis giữ bên người chính là di vật của con bé, cái đồng hồ mà Klatinrofto đã tặng cho “một nữ sinh” như lời của ông quản gia. Có lẽ sau khi con bé bị giết chết, ông ta đã giữ lại di vật như món đồ tưởng niệm.

“Điên hết rồi, điên hết rồi!”. Sephira cảm thấy mình cũng đã phát điên. Năm con người ấy là quỷ chứ chẳng phải người, một bọn điên loạn, khát máu mượn vỏ bọc học đạo để làm mấy nghi thức điên rồ và giết hại bao người khác. Còn lời giải thích nào hợp lí hơn nữa? Thời gian trùng khớp, sự kiện cũng trùng khớp, còn lời giải thích nào khác.

Và trong những con người điên loạn ấy giờ đây chỉ còn lại Savadov.

Sephira nhớ lại những điều mình biết về Savadov. Quá khứ của cô ta là một bức màn mờ mịt vì cha mẹ cô ta đã chết, cô ta còn mất trí nhớ nữa, thứ liên hệ với cô ta gần nhất là bệnh viện tâm thần. Sephira bắt đầu nảy sinh những câu hỏi và loại trừ từng trường hợp. Nếu cô ta thật sự mất trí nhớ từ trước khi lên đảo chứ không phải giả bộ thì rõ ràng cô ta đã đạt đến trạng thái hóa Thánh từ trước, nhưng nếu cô ta chỉ vừa đạt đến trạng thái bất tử sau chuỗi án mạng thì cô ta chỉ vừa mới là kẻ bất tử không lâu đây.

Nhưng theo hiện trường và khám nghiệm từ cảnh sát thì cô ta thực sự bị đâm rất nặng và đã chết nếu trước đó không đạt đến trạng thái bất tử, cô ả cũng không thể mạo hiểm tính mạng mình vào một đám người điên loạn như thế được, cô ta ắt hẳn phải tính đến trường hợp những kẻ kia hành động chệch đi kế hoạch của mình và như thế thì ả sẽ toi mạng ngay.

Như vậy có thể tạm thời kết luận nếu cô ả Savadov này là kẻ đã nắm được tri thức tối thượng mà chỉ có Thánh thần mới biết được thì ả đã thông thạo nó từ trước khi lên đảo.

Có lẽ việc điều tra tiếp theo nên bắt đầu từ Viện Tâm thần nơi Josephine Savadov đã ở trước khi lên đảo. Đó là điểm giao giữa hai giai đoạn trong cuộc đời của cô ta, trước khi mất trí và lúc đã điên loạn.

Cậu thanh niên kia vẫn huyên thiên khi Sephira đã tính ra đường đi nước bước tiếp theo của mình, và trong những phút suy nghĩ đó, cô không để ý đến ánh mắt săm soi khác thường của cậu ta dành cho mình.

Sephira đứng dậy, quên cả câu chào tạm biệt mà nhanh chóng rời khỏi để rồi sau đó cảm thấy rất tội lỗi vì đã phớt lờ lòng nhiệt thành truyền bá tri thức của cậu ấy.

Lúc Sephira về nhà thì nhận được một bưu thiếp được nhét qua khe cửa.

Downson đã được thông báo là cô sẽ tiếp tục điều tra vụ án. Anh ta sẽ giúp cô nếu cô cần hỗ trợ.

T/b: Tuy chưa biết kết quả vụ việc sẽ thế nào, cấp trên vẫn rất tán dương những gì cô đang làm.

Như thế thì công việc của cô lại nhàn nhã đi phần nào, trước hết là cô không cần khổ sở tra cứu xem Viện Tâm thần mà Savadov từng ở tên là gì, nằm ở đâu.

Sáng hôm sau Sephira dậy từ rất sớm. Cô chỉ kịp nuốt vội một mẩu bánh mì và uống một ngụm trà nguội trước khi lao ra khỏi nhà. Đường phố lúc này còn vắng tanh, những chiếc xe ngựa đầu tiên bắt đầu lăn bánh trên nền đá ẩm ướt vì sương đêm. Sephira rảo bước nhanh về phía Sở Cảnh sát, lòng đầy phấn khích và hồi hộp. Cô không biết Downson sẽ nói gì khi nghe cô đưa ra một giả thuyết điên rồ đến thế, rằng hung thủ thực sự của vụ án Boun là một kẻ bất tử.

Khi đến nơi Sephira đi thẳng vào trong. Cô đã quá quen thuộc với những hành lang tối tăm và mùi ẩm mốc của tòa nhà Sở này rồi. Cô tìm thấy Downson đang đứng ở quầy tiếp tân, tay cầm một tập hồ sơ dày cộp. Anh ta ngước lên khi nghe tiếng bước chân của cô, đôi mắt thoáng qua một tia cười.

“Cô đến sớm thế, cô phóng viên. Có chuyện gì mà trông cô như vừa trúng số vậy?”. Anh ta hỏi mà thừa biết câu trả lời là gì.

Sephira không có thời gian để đáp lại câu bông đùa của anh ta, cô vào thẳng vấn đề một cách rành mạch: “Tôi cần anh giúp. Tôi muốn đến Viện Tâm thần nơi Savadov từng điều trị. Tôi cần gặp bác sĩ của cô ta”.

Downson có vẻ mất hứng khi thấy cô không đáp lại mình, nhưng rồi anh ta lại gật đầu và ra hiệu cho cô đi theo mình: “Tôi biết cô cần gì mà. Hồ sơ của Savadov vẫn còn ở trong phòng lưu trữ, tôi đã trì hoãn với bên Tòa án từ tối hôm qua đấy”.

Họ đi dọc hành lang xuống một dãy cầu thang hẹp và tối om. Phòng lưu trữ của Sở Cảnh sát nằm ở cuối tầng hầm, một căn phòng rộng và thấp, trần nhà chỉ cách đầu họ chừng nửa mét. Không khí ở đây ẩm thấp và nồng nặc mùi giấy cũ, mùi mực in và mùi bụi bặm của những thứ bị bỏ quên. Căn phòng được chiếu sáng lờ mờ bởi vài ngọn đèn dầu treo trên tường, ánh sáng vàng vọt hắt lên những dãy kệ gỗ cao ngất ngưởng, chất đầy những thùng hồ sơ và những tập tài liệu được buộc lại bằng dây thừng mục nát. Trên sàn, vài thùng gỗ lớn đang mở nắp, bên trong là những tập hồ sơ được xếp lộn xộn, chờ được phân loại hoặc chuyển đi. Những cái thùng này trông còn mới nên không phủ bụi.

“Hồ sơ của Savadov ở trong cái thùng này”. Downson nói, chỉ vào một thùng lớn đặt ở giữa phòng. Trên thùng có dán một mảnh giấy ghi dòng chữ “Vụ án Boun - Hồ sơ nạn nhân”.

Anh ta bắt đầu lục lọi trong thùng, lôi ra từng tập hồ sơ được bọc trong bìa cứng.

“Tôi đã xem qua mấy thứ này rồi, nhưng chưa có thời gian đọc kĩ. À mà này, cô có biết chuyện gì đã xảy ra ngày hôm qua không?”. Anh ta vừa ngồi khuỵu xuống cạnh thùng vừa nói.

Sephira lắc đầu, cô đang mải nhìn những thùng hồ sơ được chất đống trên các kệ vì lòng tò mò, đây là lần đầu tiên cô được vào phòng lưu trữ của Sở Cảnh sát.

“Cảnh sát đã trả thi thể các nạn nhân về cho gia đình họ”. Downson nói, tay vẫn lục tìm. “Tang lễ của bà Klatinrofto đang được tổ chức tại tư gia. Bà ta là quý tộc mà nên đám tang cũng trọng thể lắm, bao nhiêu người tụ tập đấy, các nữ sinh đến viếng bà ấy làm nghẹt cả con đường. Nghe nói bên gia đình còn định làm lễ cầu siêu suốt ba ngày rồi mới đưa bà ấy về an táng trong nghĩa trang gia tộc ở vùng quê”.

“Đúng là chết rồi cũng không được yên”. Sephira không nén được một câu cảm thán mỉa mai. “Thế còn những người khác thì sao?”. Cô hỏi vì tò mò.

Downson rút ra một tập hồ sơ mỏng.

“Dinamil thì rắc rối hơn. Gia đình ông ta từ chối nhận thi thể. Họ nói thẳng với cảnh sát rằng ông ta là một kẻ dơ bẩn, bỉ ổi, và họ không muốn để ông ta làm ô uế nghĩa trang gia đình. Có vẻ như những tin đồn về chuyện trăng hoa và sàm sỡ của lão ta không phải là không có căn cứ”. Nói đến đây Downson đột nhiên hạ thấp giọng. “Tôi nghe nói gia đình người em trai của cha mẹ nuôi của ông ta còn tố cáo là ông ta cướp ý tưởng phát minh của vài sinh viên, trong số đó có người uất ức đến độ tự sát đấy. Họ nói gì mà, để cái loại đê hèn đó được chôn trong nghĩa trang gia tộc là xúc phạm đến thanh danh của gia đình trí thức. Họ cũng chỉ trích ông ta vì thái độ tự cao tự đại, thích làm kiêu và khinh khi người khác, không xứng đứng trong hàng ngũ những người khiêm tốn, đạo đức, tận hiến cho khoa học. Xem ra đúng như ông quản gia của bà Klatinrofto nói, chủ nhân của ông ta nhìn người chuẩn trăm phần trăm nhỉ”. Downson nhìn lên Sephira, nhếch mép một cách ẩn ý: “Cuối cùng thì bên Chính phủ và Hội đồng Khoa học, nơi lão ta là thành viên, lên tiếng đứng ra tổ chức tang lễ. Họ sẽ làm một buổi lễ long trọng ở hội trường của Hội đồng rồi đưa lão ta ra an táng ở một nghĩa trang công cộng. Một kết thúc buồn cho một nhà phát minh lừng lẫy, nhỉ?”.

Sephira không nói gì, trong đầu cô đang nhớ về những di vật của ông ta, nhất là cuốn sổ ghi chép các phát minh kia. Thảo nào cô cứ cảm thấy nó là lạ, nói nó là sổ ghi ý tưởng cũng không đúng, vì chẳng ai có thể chú thích mọi ý tưởng mình nảy ra trong đầu một cách chi tiết và lớp lang như thế, nói nó là cuốn sách giáo khoa hướng dẫn thì hợp lí hơn. Và quả thực sự thật đã chứng minh phần nào, mấy cuốn sổ đó có thể là các ghi chép ông ta ăn cắp từ người khác.

“Nhưng mà rắc rối nhất là Wellowe”. Downson tiếp tục, tay vẫn không ngừng tìm kiếm. Anh ta rút ra một tập hồ sơ dày hơn, lật qua vài trang rồi lại đặt sang một bên. “Lúc đầu Tòa Thánh không chịu nhận thi thể của lão ta. Họ nói lão ta là kẻ phạm tội, kẻ giết người, vấy bẩn đến Đức Thánh và là nỗi nhục nhã cho các tín đồ ngoan đạo. Việc mai táng lão ta theo nghi thức tôn giáo sẽ làm ô uế sảnh đường, nhưng sau đó họ lại đổi ý”.

“Sao lại thế?”.

“Chắc là vì danh tiếng”. Downson nhún vai. “Tôi nghĩ Tòa Thánh sợ rằng nếu họ từ chối mai táng Wellowe, sau khi công bố vụ việc, người ta sẽ tự hỏi ông ta đóng vai trò gì trong chuỗi án mạng này mà không được đưa vào nghĩa trang của Tòa Thánh, có phải lão lại phạm trọng tội? Thế thì danh tiếng của Tòa Thánh tiêu tan hết nên họ phải cố đấm ăn xôi thế này”.

“Là sao?”. Sephira hỏi lại. “Tôi tưởng bên cảnh sát sẽ công bố toàn bộ sự thật về tội lỗi của Wellowe theo như lão Bell đã ‘điều tra’ ra?”.

“Ôi trời”. Downson cười khẩy. “Bên đó đã cho người qua đàm phán rồi. Chẳng biết thế nào mà cấp trên đã đồng ý sẽ công bố rằng hung thủ là lão Arat đấy, con cừu thế mạng của Tòa Thánh. Dù sao dân chúng cũng sùng đạo lắm, chính quyền dựa vào đó để củng cố quyền lực mà, nếu để niềm tin sụp đổ thì đất nước loạn lạc mất”.

Sephira cười nhẹ, tuy cô không ưa lão Arat mấy nhưng hoàn cảnh của lão cũng khiến cô phần nào cảm thông, nhất là khi cô từng ở trong thế như lão bây giờ.

“Thế còn Lesis?”. Giọng Sephira bỗng trầm xuống. Cô nhớ đến gương mặt khả ái của cô gái trong chiếc đồng hồ quả quýt và mùi rượu nồng nặc trên tử thi của người đàn ông tội nghiệp ấy. So với Klatinrofto hách dịch hay lão già dê xồm đạo đức giả Dinamil, Sephira cảm thấy thương cảm cho Lesis hơn cả.

“Lesis thì bị đưa đến trại tế bần,” Downson trả lời. “Không ai nhận ông ta. Ông ta không có gia đình, không có bạn bè, không có gì cả. Họ sẽ chôn ông ta trong một ngôi mộ tập thể ở nghĩa trang của trại tế bần. Một cái kết lặng lẽ cho một con người lặng lẽ”. Downson thở dài sau khi nói xong.

Sephira cảm thấy cổ họng mình nghẹn lại. Cô không biết tại sao mình không thể ngăn được cảm giác xót xa khi nghĩ về số phận của ông ta. Một người cha đã mất con, sống những ngày cuối đời trong nghèo khổ và tuyệt vọng, rồi chết một cách thê thảm trên một hòn đảo hoang. Và giờ đây, ngay cả cái chết của ông ta cũng không được ai đoái hoài.

Downson dường như nhận ra sự im lặng của cô. Anh ta ngừng tay, nhìn cô một lúc, rồi nói với giọng nhẹ nhàng hơn: “Đời là thế, cô phóng viên ạ. Cái chết không phân biệt giàu nghèo, nhưng cách người ta đối xử với người chết thì có đấy”.

Sephira không đáp lại, tuy vậy vẫn không thể nhịn được mà nghĩ đến hoàn cảnh của từng người. Cô chẳng rõ được lí do Savadov muốn trở thành kẻ bất tử, nhưng còn những người khác thì phần nào cô đã đoán biết. Ai cũng nghĩ rằng mình có đóng góp, rằng mình xứng đáng, nhưng có vẻ Thánh ý không không thuận theo nhân ý, hay phải chăng Thánh ý toàn minh hơn vì đã nhìn thấy những tội lỗi của con người? Sự kiêu ngạo độc đoán của Klatinrofto, sự xảo quyệt, biến thái của Dinamil, và ôi, sự tàn nhẫn của Lesis vì đã hiến mạng con gái mình, rồi lại dùng cả đời để day dứt, hay ám ảnh về cô bé. Con người là một tổ hợp của những mặt đối nghịch.

Tuy vậy, giờ đây cô ép bản thân không nghĩ về chuyện đó nữa, giờ đây cô chỉ muốn tập trung vào thứ mình đang tìm kiếm.

“Tìm thấy rồi”. Downson đột nhiên lên tiếng, rút ra một tập hồ sơ mỏng từ trong thùng. Trên bìa có ghi dòng chữ “Savadov, Josephine - Hồ sơ y tế”. Anh ta mở nó ra, lướt qua vài trang rồi dừng lại ở một trang có chữ kí và con dấu đỏ. “Bác sĩ điều trị chính cho cô ta là một người tên là Alistair Graves, nhưng hiện tại ông ta đã nghỉ hưu rồi”.

Sephira cảm thấy tim mình hẫng đi một nhịp: “Nghỉ hưu? Vậy giờ ông ta đang ở đâu?”.

Downson đọc tiếp trang hồ sơ rồi nói: “Ở đây không có ghi, chắc ta phải ra ngoài kia tra tên ông ta trong cuốn danh bạ thôi”.

Sephira gật đầu tỏ vẻ đã hiểu.

“Cơ mà tôi có biên bản mấy buổi thẩm vấn của bên cảnh sát với ông ta đây, cô có muốn đọc không? Đỡ một quãng đường đi vất vả”. Downson hỏi lại.

Sephira hơi giật mình khi nghe anh ta nói, nhưng rồi cô lại nhớ ra nghiệp vụ điều tra của cảnh sát đâu phải trò chơi trẻ con, đương nhiên là họ đã điều tra và hỏi cung tất cả những bên liên quan.

Cô đón lấy tập hồ sơ từ tay Downson và lật giở từng trang để đọc. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau mọi hi vọng của cô đã bị đập tan. Các câu hỏi của cảnh sát chỉ mang tính sơ bộ và ước lệ cho có. Họ hỏi về thời gian cô ta nhập viện, hỏi về tính cách của cô ta khi ở trong viện, cô ta có thái độ gắt gỏng, dễ nổi nóng, có hành vi bạo lực với những bệnh nhân khác và đội ngũ bác sĩ… Ôi những câu hỏi chẳng đi vào vấn đề mà cô đang thắc mắc.

“Tôi sẽ đi hỏi trực tiếp ông bác sĩ vậy”. Sephira đóng tập hồ sơ rồi trả lại cho Downson.

Downson cất tập hồ sơ ấy vào thùng rồi lại lục tiếp trong thùng hồ sơ, rút ra một tập tài liệu khác, mỏng hơn, được kẹp trong một chiếc bìa các-tông đã ố vàng.

“Còn cái này nữa”. Anh ta nói, đưa tập tài liệu cho Sephira. “Đây là thông tin về quê cũ của Savadov, nơi gia đình cô ta từng sống trước khi họ chết trong vụ đắm tàu ba năm trước. Cảnh sát xem mấy thứ này là dư thừa nhưng tôi nghĩ nếu cô đã muốn điều tra cặn kẽ về cô ta thì nên biết cái này luôn cho tiện”.

Sephira cầm lấy tập tài liệu rồi mở ra xem. Đó là bản sao của một biên bản điều tra cũ kĩ, ghi lại thông tin về vụ đắm tàu và danh sách những người thiệt mạng. Trong đó, tên của gia đình Savadov được khoanh tròn bằng mực đỏ. Địa chỉ của họ trước khi chết là một ngôi làng nhỏ ở vùng quê.

“Cảm ơn anh, Downson”. Sephira nói với giọng chân thành. “Tôi không biết phải cảm ơn anh thế nào cho đủ. Tôi vừa dấn thân vào mấy chuyện này thôi mà gặp được một người nhiệt tình như anh là may mắn nhường nào”.

Downson nhún vai, vẻ mặt lại trở về vẻ lạnh lùng thường ngày.

“Thôi đi cô phóng viên, dành mấy lời sến sẩm đó để nói chuyện với nhân chứng mà lấy thông tin. Tôi cũng như cô, cố gắng để kiếm cơm thôi”. Anh ta ngừng một lát rồi nói tiếp với giọng ngập ngừng: “Nhưng tôi phải nói thật với cô, Sephira, tôi không dám tin là một chuyện siêu nhiên như thế này có thể xảy ra. Cô đang đi theo một giả thuyết rất phi lí, và nếu cô đúng, nếu Savadov thực sự là một kẻ bất tử, thì sự thật này có thể thay đổi toàn bộ hệ thống, cách hoạt động của tổ chức chúng tôi từ trước đến giờ. Những gì chúng tôi vẫn tin, những gì chúng tôi vẫn làm... tất cả sẽ phải xem xét lại, ngay cả cách vận hành của thế giới này cũng cần được xem xét lại”.

Sephira nhìn thấy trong đôi mắt sắc lạnh thường ngày của Downson thoáng một tia bối rối, một sự dao động mà cô chưa từng thấy trước đây. Trông anh ta lúc này như một kẻ đi lạc giữa hai thái độ, hoang mang và hào hứng, tuy nhiên Sephira lại không được như thế.

“Tôi không biết liệu mình có đúng hay không”. Giọng Sephira nhỏ dần.

Downson nhìn cô một lúc lâu, giờ thì anh ta lại cười với vẻ động viên: “Đâu có ai biết mình đúng hay sai vào ban đầu, phải xem đến cuối cùng mới biết”.

Sephira gật đầu nhẹ nghe anh ta nói. Nhưng rồi cô lại thấy sống lưng mình lạnh toát khi nghĩ đến những lời Downson vừa nói.

“Tôi đã nói với ai về nghi ngờ của mình đâu?”. Cô ngỡ ngàng quay sang nhìn anh ta. Dù đang mất bình tĩnh, cô vẫn cố kiềm giọng mình lại để âm lượng không quá lớn. “Làm sao anh biết tôi đang nghi ngờ Savadov bất tử?”.

Điều đầu tiên cô nghĩ đến là bọn họ đã biết tỏng mọi thứ ngay từ đầu, rằng cả vụ án chỉ là một “bài kiểm tra” mà họ dày công sắp đặt để thử thách cô. Ý tưởng ấy khiến Sephira thấy đầu óc mình xây xẩm, choáng váng.

Downson nhìn vẻ mặt lúc xanh lúc trắng của cô thì nhoẻn môi cười thích thú: “Ôi trời, cô phóng viên, bình tĩnh nào, đừng có hãi hùng thế”. Đoạn, anh ta hắng giọng một cái rồi nói tiếp: “Tai mắt của tổ chức ở khắp nơi đấy, có khi vài người cô vô tình gặp hàng ngày cũng có thể là người của chúng tôi”.

Sephira nghe anh ta nói thế thì dù đầu óc đang trì trệ và kinh hoàng, cô cũng cố nhớ lại xem đã gặp những ai kể từ lúc cô tuyên bố với ả thư kí kia về ý định điều tra độc lập của mình. Tuy nhiên, cô chẳng tài nào nhớ nổi. Nhiều chuyện ngoài sức tưởng tượng dồn dập đến cùng một lúc khiến trí tuệ cô chẳng đủ minh mẫn để xử lí toàn bộ thông tin.

“Thôi, ta đi ra ngoài nào cô phóng viên. Đến chỗ thoáng đãng để cô hít thở không khí trong lành nào, ở trong này thêm một lúc nữa thì cô ngất ra đây, tôi lại mang tội vào thân”. Downson đẩy các thùng về vị trí cũ, sau đó ngoắt tay ra hiệu cho cô.

Hai người đi ra quầy thông tin ở bên ngoài, sau khi tra cứu về Alistair Graves và ghi lại địa chỉ hiện tại của ông ta vào sổ tay, Sephira như người mất hồn rời khỏi Sở Cảnh sát.

Sephira đi thẳng ra ga tàu.

Ga tàu lúc này đang là giờ cao điểm, đông đúc và nhộn nhịp một cách hỗn loạn. Tiếng còi tàu rít lên inh ỏi hòa lẫn với tiếng người hối hả gọi nhau, tiếng rao hàng của những người bán rong và tiếng lộc cộc của những chiếc xe đẩy hành lí. Mùi khói than từ những đầu tàu hơi nước quyện với mùi mồ hôi của hành khách tạo thành một thứ mùi khó chịu đến nghẹt thở. Những người đàn ông mặc vest, tay cầm cặp da, vội vã bước qua những người phụ nữ ăn mặc sang trọng đang che ô và khẽ nhăn mặt vì tiếng ồn. Một vài đứa trẻ con chạy lăng quăng giữa dòng người bị mẹ chúng quát tháo ầm ĩ.

Sephira len lỏi qua đám đông, cố gắng tìm đến quầy bán vé. Cô mua một vé hạng ba đến ngoại ô nơi bác sĩ Graves đang sống. Chuyến tàu sẽ khởi hành trong vòng nửa tiếng nữa.

Khi tàu đến nơi thì trời đã gần trưa. Không khí ở vùng ngoại ô trong lành và yên tĩnh hơn hẳn Thủ đô. Sephira bắt một chiếc xe một ngựa kéo tuy ọp ẹp nhưng vừa túi tiền từ bến tàu. Chiếc xe lăn bánh trên con đường đất ngoằn ngoèo, hai bên là những cánh đồng lúa mì trải dài ngút tầm mắt, thỉnh thoảng lại điểm xuyết vài nông trại nhỏ với những đàn bò đang gặm cỏ. Xa xa, những rặng núi thấp mờ ảo trong làn sương mỏng. Sau khoảng nửa giờ, chiếc xe dừng lại trước một ngôi nhà nhỏ xinh xắn nằm khuất sau những hàng cây sồi cao vút. Đó là một ngôi nhà gỗ kiểu nông thôn điển hình với mái ngói đỏ sậm đã ngả màu thời gian, những bức tường được phủ đầy dây thường xuân xanh mướt và một khu vườn nhỏ phía trước trồng đủ loại hoa đang tỏa hương thơm ngát. Một con chó săn lông vàng đang nằm ngủ dưới gốc cây và khi nghe tiếng xe ngựa dừng lại, nó liền vểnh tai lên, sủa vang vài tiếng rồi chạy ra phía cổng.

Sephira bước xuống xe, hít một hơi thật sâu không khí trong lành. Cô bỗng cảm thấy có chút hồi hộp. Đây có lẽ là manh mối quan trọng nhất trong toàn bộ cuộc điều tra của cô. Cô bước đến cánh cổng gỗ nhỏ, và ngay lúc đó, một người đàn ông lớn tuổi từ phía sau nhà đi ra. Ông ta mặc một chiếc áo sơ mi trắng đã cũ, xắn tay áo đến tận khuỷu, tay cầm một chiếc kéo cắt tỉa cây. Đôi tay ông ta lấm lem đất còn trên trán lấm tấm mồ hôi. Đó là một người đàn ông khoảng ngoài sáu mươi, mái tóc bạc trắng và bộ râu được cắt tỉa gọn gàng. Đôi mắt ông ta, sau cặp kính dày, ánh lên vẻ tinh anh, sắc sảo của người từng trải và có khí chất của một bậc trí thức.

“Xin chào, tôi có thể giúp gì cho cô?”. Ông ta không có vẻ gì là thấy lạ khi nhìn thấy Sephira xuất hiện trước cổng nhà mình.

Điều này khiến cô có chút bất ngờ và nhẹ nhõm, tuy vậy cô vẫn hơi hồi hộp.

“Xin lỗi, ông có phải là bác sĩ Alistair Graves không ạ? Tôi là Sephira, tôi đến đây để hỏi ông về một bệnh nhân cũ”.

Bác sĩ Graves mỉm cười khả ái, nhìn cô một lúc rồi gật đầu, ra hiệu cho cô vào trong vườn. Ông ta đặt chiếc kéo xuống chiếc bàn gỗ ọp ẹp, bản thân thì ngồi xuống chiếc ghế bành cũ kỹ đặt dưới gốc cây sồi. Ông ta làm động tác mời cô ngồi xuống cái ghế đẩu ở phía gần mình: “Trong nhà tôi bừa bộn lắm, ta trò chuyện ngoài này đi, mát mẻ và thoải mái hơn. Thế cô muốn hỏi về vị bệnh nhân nào?”.

“Josephine Savadov”. Sephira cuối cùng cũng lên tiếng với chút ngập ngừng. “Cô ấy là bệnh nhân ở Viện Tâm thần cách đây ba năm. Ông còn nhớ cô ấy không?”. Lời vừa nói ra thì cô lại tự thấy mình ngớ ngẩn, làm sao ông ta có thể không nhớ khi vừa bị cảnh sát thẩm vấn cách đây chẳng bao lâu?”.

Quả nhiên, ông ta im lặng một lúc rồi đột nhiên bật cười: “Josephine Savadov. Tất nhiên là tôi nhớ cô ấy chứ. Làm sao tôi có thể quên được một bệnh nhân đặc biệt như thế, nhỉ?”.

Sephira cảm thấy tim mình đập nhanh hơn. “Đặc biệt? Ông có thể nói rõ hơn cho tôi được không?”.

Bác sĩ Graves quay sang nhìn cô, đôi mắt sau cặp kính ánh lên vẻ trầm ngâm. “Khi cô ấy mới đến, tình trạng của cô ấy rất tệ. Mất trí nhớ hoàn toàn, thường xuyên gặp ảo giác, hoảng loạn, phát dại. Điều đó không có gì lạ đối với những bệnh nhân vừa trải qua một cú sốc lớn như mất gia đình và tai nạn thảm khốc. Chúng tôi đã bắt đầu các liệu trình điều trị tiêu chuẩn: thuốc an thần, liệu pháp trò chuyện, và cả liệu pháp thôi miên nữa. Nhưng...”.

Ông ta ngừng lại, như đang cố nhớ lại chính xác những gì đã xảy ra. “Nhưng cô ấy không phản ứng. Hoàn toàn không. Những bệnh nhân khác, dù có nặng đến đâu, ít nhất cũng sẽ có một chút tiến triển sau vài tuần, hoặc vài tháng, nhưng Savadov thì không. Cô ấy cứ như một bức tường đá vậy. Chúng tôi đã thử mọi cách nhưng tình trạng của cô ấy không hề cải thiện. Sau khoảng nửa năm, tất cả các bác sĩ trong viện đều thống nhất rằng cô ấy có lẽ sẽ không bao giờ hồi phục được nữa. Chúng tôi đã quyết định chuyển sang phương pháp duy trì, chỉ để giữ cho bệnh của cô ấy không nặng thêm chứ không còn hi vọng chữa khỏi”.

Sephira nín thở chờ đợi.

“Thế rồi,” bác sĩ Graves nói tiếp, giọng ông ta bỗng trở nên đầy vẻ kinh ngạc, “đột nhiên cô ấy bắt đầu hồi phục mà không một dấu hiệu báo trước nào. Khoảng hai tháng sau khi chúng tôi ngừng các liệu pháp chữa trị, cô ấy đột nhiên ngừng gặp ảo giác, rồi cô ấy bắt đầu nhận thức được mọi thứ xung quanh, rồi cô ấy bắt đầu học tập, ghi nhớ kiến thức. Tốc độ hồi phục của cô ấy nhanh đến mức đáng kinh ngạc. Chỉ trong vòng vài tuần, cô ấy đã được đánh giá là đủ điều kiện để chuyển qua một cơ sở khác, nơi cô ấy có thể học nghề và tái hòa nhập cộng đồng. Cứ như thể,” vị bác sĩ già ngập ngừng, “cứ như thể trong cơ thể cô ấy có một cơ chế tự phục hồi vậy. Một cơ chế không liên quan gì đến thuốc men hay cách chữa trị của chúng tôi”.

Sephira cảm thấy một luồng điện chạy dọc sống lưng. Đúng như cô đã suy đoán. Cơ thể của Savadov đã tự chữa lành, không phải nhờ vào y học mà nhờ vào một năng lực siêu nhiên nào đó.

“Nhưng có một điều rất lạ”. Bác sĩ Graves nói tiếp. “Dù đã hồi phục hoàn toàn về mặt nhận thức và hành vi, cô ấy vẫn không nhớ bất cứ điều gì về cuộc sống và quá khứ trước khi mất trí nhớ. Chúng tôi đã thử mọi cách để gợi lại kí ức cho cô ấy nhưng đều thất bại. Điều này cũng không phải là chưa từng xảy ra, một vài bệnh nhân trước đây vẫn không thể nhớ lại kí ức như cô ấy. Tôi nhớ tôi đã từng đọc một bài báo khoa học về một hiện tượng mà người ta gọi là ‘cơ chế tự bảo vệ của não bộ’, tức khi một người trải qua một chấn thương tâm lí quá lớn, não bộ của họ sẽ tự động khóa chặt những kí ức đau buồn đó lại, như một cách để bảo vệ bản thân khỏi sự suy sụp. Tôi nghĩ có lẽ Savadov cũng nằm trong trường hợp đó. Có chăng điều đặc biệt là cô ấy có quá trình hồi phục” Graves cười nhẹ, “hơi khác thường”.

Sephira gật đầu tỏ ra đang tiếp thu nhưng đầu óc cô lúc này đã đang quay cuồng với những suy luận mới. Cô quyết định hỏi một câu hỏi mà cô đã chuẩn bị sẵn từ trước.

“Thưa bác sĩ, liệu có trường hợp nào một bệnh nhân sau khi hồi phục, họ có thể làm những chuyện điên rồ không? Ví dụ như,” cô hơi chần chừ, “giết người?”.

Bác sĩ Graves cười khổ, lắc đầu. “Cảnh sát đã đến đây thẩm vấn tôi không biết bao nhiêu lần sau khi vụ án xảy ra. Họ hỏi tôi đủ thứ về Savadov, về tình trạng tâm lí của cô ấy, về khả năng cô ấy có thể trở thành hung thủ. Cô là người thứ, để xem nào, có lẽ là người thứ mười mấy, hoặc mấy chục ấy, đến đây và hỏi tôi những câu giống hệt như vậy”. Ông ta ngừng một lát để nở nụ cười thích thú khi thấy gương mặt ngạc nhiên của Sephira, rồi nói tiếp, giọng nghiêm túc hơn. “Về mặt lí thuyết, một bệnh nhân sau khi hồi phục từ chấn thương tâm lí hoàn toàn có khả năng thực hiện những hành vi bạo lực, kể cả giết người, nhưng đó thường là những cơn cuồng sát bất ngờ, ngẫu hứng, được kích hoạt khi họ vô tình nhớ lại một mảnh kí ức khủng khiếp nào đó. Nó giống như một phản ứng tự vệ quá khích của não bộ. Tuy nhiên, để lên kế hoạch cho một vụ giết người hàng loạt tinh vi và có chủ đích như vụ án trên đảo Boun, theo như những gì tôi được nghe, thì không. Điều đó đòi hỏi một sự tính toán lạnh lùng, một trí tuệ minh mẫn, và đặc biệt là một động cơ rõ ràng. Một bệnh nhân như Savadov, với tình trạng như tôi đã mô tả, theo tôi thì khó có thể làm được điều đó”.

Sephira cảm thấy những lời của bác sĩ Graves như một nhát búa giáng mạnh vào giả thuyết của cô. Nếu Savadov không đủ khả năng tâm lí để lên kế hoạch giết người, thì ai mới là hung thủ thực sự? Nhưng rồi cô lại nghĩ đến một khả năng khác, rằng Savadov đã lên kế hoạch cho tất cả từ trước khi cô ta mất trí nhớ, trước khi cô ta trở thành một bệnh nhân tâm thần, chỉ như thế thì mọi thứ mới lôgic với giả thuyết của cô.

Sau khi cảm ơn và chào tạm biệt bác sĩ Graves, Sephira lại lên chiếc xe ngựa. Lần này, cô yêu cầu người đánh xe đi đến ngôi làng mà Downson đã đưa địa chỉ. Trên đường đi, cô lại không ngừng miên man về những phát hiện mới.

Như vậy Savadov đã có cơ thể bất tử từ trước khi lên đảo, nói đúng hơn là từ khi cô ta vào điều trị tại Viện Tâm thần. Cái gọi là “giai đoạn mất trí nhớ” mà cô ta trải qua ở bệnh viện tâm thần có lẽ chính là khoảng thời gian “tái sinh” của một kẻ bất tử. Sau khi chết đi và sống lại, họ sẽ mất hết kí ức, trở nên ngây ngô và ngu dại một thời gian, rồi sau đó tự động hồi phục và bắt đầu một cuộc đời mới. Còn khi nghi thức hoá Thánh thành công, cô ta chỉ bị bệnh nhẹ. Nếu đúng là như vậy thì kế hoạch giết người trên đảo Boun hẳn phải được lên kế hoạch từ trước khi cô ta chết trong vụ đắm tàu kia, sau khi cô ta chỉ vừa hoàn thành nghi thức! Có thể nói rằng, linh hồn đang trú ngụ trong cơ thể của Savadov sau vụ đắm tàu là kiếp sống thứ hai của cô ta, còn linh hồn đang trú ngụ trong thân xác ở trên giường bệnh lúc này là kiếp sống thứ ba của cô ta, còn mọi kế hoạch của vụ giết người liên hoàn này là do Savadov ở kiếp đầu tiên, cái kiếp đời mà cô ta đã khám phá phương pháp để trở thành một kẻ bất tử, toan tính.

Sephira tự hỏi, cô con gái của cặp vợ chồng Savadov trước khi chết là người như thế nào. Đó phải là một con người mưu mô và xảo quyệt đến độ nào để có thể lên một kế hoạch hoàn hảo như thế? Lợi dụng tính cách và thói quen, thói xấu của mỗi nạn nhân để giết họ mà không cần nhúng tay vào, sau đó còn biến bản thân trở thành nạn nhân để hoàn thành chuỗi giết người hoàn hảo ấy, biến một nạn nhân thành hung thủ mà Sephira biết cho dù Wellowe có còn sống để biện bạch thì lão cũng không thể trốn khỏi giá treo cổ khi mọi bằng chứng đều chỉ ra lão là chủ mưu.

Sephira đoán có lẽ việc lão Wellowe đột quỵ là biến số mà cô ta không tính ra được, nếu không thì cảnh sát đã bắt lão ta và kết tội ngay chứ không mất công điều tra dông dài, và chắc chắn rằng vụ án này sẽ không phải một bí ẩn khiến nhiều người nghi ngờ. Nếu như thế, người ta chẳng hơi đâu lại đi điều tra Savadov và có lẽ thân phận của cô ta vẫn là một ẩn số.

Chiếc xe ngựa dừng lại trước cổng làng vào lúc xế chiều. Sephira bước xuống, trả tiền cho người đánh xe, dặn lão ta đợi mình rồi bắt đầu đi bộ vào làng. Đây là một ngôi làng nhỏ ven biển với những ngôi nhà gỗ lụp xụp nằm rải rác dọc theo con đường đất chính. Không khí ở đây nồng nặc mùi muối biển và mùi cá khô. Xa xa, cô có thể nghe thấy tiếng sóng biển rì rào vọng lại từ phía bờ cát, những người dân làng đang tất bật với công việc của mình. Những người đàn ông da rám nắng, cơ bắp cuồn cuộn đang kéo lưới từ những chiếc thuyền đánh cá trong khi những người phụ nữ đang phơi cá trên mấy cái giàn tre trước nhà. Trên cánh đồng gần đó, vài nông dân đang cày xới đất đai với những con bò kéo cày chậm chạp, một đàn vịt bầu lạch bạch chạy qua đường suýt nữa thì bị chiếc xe bò chở đầy rơm cán phải.

Sephira cảm thấy có chút lạc lõng giữa khung cảnh thôn quê yên bình này. Cô vốn quen sống ở thành phố, quen với tiếng ồn ào của xe ngựa và sự chật chội của những con phố với các hàng quán đông đúc. Cảnh đồng quê thanh bình này, dù đẹp đẽ, nhưng lại khiến cô cảm thấy có chút khó chịu, một chút khinh thị của kẻ thành thị dành cho chốn thôn quê. Cô tự hỏi làm sao người ta có thể sống cả đời ở một nơi buồn tẻ và lặng lẽ như thế này, với cuộc sống hàng ngày lặp đi lặp lại và người ta hoàn toàn có thể đoán trước phần nào đoạn đời mà mình sẽ sống.

Cô hỏi thăm một người phụ nữ đang địu con sau lưng bên dàn cây leo rằng đường đến nhà của gia đình Savadov đi hướng nào và được chỉ đến một ngôi nhà nhỏ nằm ở cuối làng, sát bờ biển. Người phụ nữ đó cho biết ngôi nhà đó hiện có một gia đình khác sinh sống.

Khi Sephira gõ cửa, một bà lão tóc bạc phơ, lưng còng, chống gậy ra mở cửa. Bà lão có gương mặt nhăn nheo, đầy những vết đồi mồi của tuổi tác nhưng đôi mắt thì vẫn còn rất tinh anh.

Sephira tự giới thiệu mình là một nhà văn đang viết hồi kí và muốn hỏi về một vài người từng sống ở đây. Bà lão, thoạt đầu nhìn cô bằng ánh mắt vừa nghi ngại vừa xa cách, nhưng sau khi nghe cô nói mục đích của chuyến đi thì lại đon đả mời cô vào nhà.

Đồ đạc trong nhà khá đơn sơ, Sephira nhìn quanh thì chỉ thấy một vài dụng cụ chuyên dụng của người đi biển được để lăn lóc dưới sàn, vách nhà bằng bùn đất khô, sàn đầy cát. Bà lão rót nước từ một cái ấm đen đang được đặt trên bếp.

Sephira khách sáo cầm lấy chén nước từ đôi tay run rẩy của bà ta nhưng không uống. Cô hỏi thăm bà lão thì được biết bà đã sống ở đây từ nhỏ. Vốn mảnh đất này không phải của nhà bà mà là nhà của một gia đình khác, nhà bà từng sống ở ngay bên cạnh nhưng hiện tại là nhà của con trai bà và con dâu.

“Thế gia đình từng sống ở đây đã đi đâu cả rồi ạ?”. Sephira làm bộ hỏi.

Bà lão có vẻ ngập ngừng khi nghe Sephira hỏi như thế. Bà chép miệng và dường như né tránh ánh nhìn của cô, một lúc sau bà mới nói với giọng rất nhỏ: “Tôi nhớ gia đình Savadov lắm, hai vợ chồng họ hiền hậu và tốt bụng, luôn giúp đỡ mọi người”. Giọng bà ta khàn khàn nghe như đang nghẹn ngào. “Họ là những người hàng xóm tốt bụng. Ông bà Savadov hiền lành, chăm chỉ, còn cô con gái Josephine của họ, ôi, con bé đó mới đáng yêu làm sao! Nó hiểu chuyện, ngoan ngoãn, luôn tự chơi một mình, không bao giờ làm phiền ba mẹ, cũng không gây phiền hà cho người khác, ai cũng mến quý nó. Một đứa trẻ vô cùng đáng yêu, nhưng mà,” nói đến đây thì giọng bà như nấc nghẹn, Sephira đoán có lẽ người già thường dễ xúc động như thế, “thật không ngờ số phận lại bất hạnh đến thế”.

Sephira nghe bà lão kể về Josephine mà lòng đầy nghi ngờ. Cô không thể liên kết hình ảnh một cô bé hiền lành, đáng yêu như thế với một kẻ sát nhân máu lạnh đã giết chết bốn người như trong giả thuyết của cô. Điều đầu tiên cô hoài nghi là bà lão này bị lẫn và đang nhầm Savadov với mấy cô cháu gái ruột của mình. Nhưng rồi một khả năng khác, một âm mưu khác đột nhiên nảy ra trong đầu cô.

Nếu Savadov trong giả thuyết của cô không khớp với Savadov trong kí ức của người khác thì chỉ có một khả năng cơ bản nhất: đó là hai người khác nhau.

Suy nghĩ đấy thoáng qua trong một chốc khiến Sephira sững cả người. Cô cố gắng tìm một hướng sự thật khác có vẻ dễ chấp nhận hơn nhưng trong nhất thời, cô chẳng nảy ra được ý tưởng nào khác.

Nếu đã không nghĩ ra được một hướng khác thì cứ hãy xác minh suy luận đầu tiên của mình. Sephira chớm nghĩ như thế rồi lấy ra từ trong túi áo một tấm hình của Josephine Savadov mà cô đã trộm rút ra từ tập hồ sơ do Downson đưa cho mình xem qua ban sáng.

Cô chìa bức ảnh ra trước mặt bà lão rồi hỏi: “Thưa bà, đây có phải là Josephine mà bà biết không?”.

Bà lão cầm lấy tấm hình, nheo mắt nhìn thật kĩ. Khoảnh khắc đó khiến Sephira vừa hồi hộp vừa nhộn nhạo trong lòng, cô có cảm giác như mình đang trở lại khoảng thời gian vừa vào tòa soạn làm việc và đợi xem tin những bài viết đầu tiên của mình có được duyệt in.

Một lúc lâu sau bà lão lại lắc đầu: “Không, không giống lắm”. Bà ta đặt tấm hình lên bàn. “Con bé Josephine mà tôi biết giống ba nó y như đúc, mà giờ tôi vẫn nhớ kĩ gương mặt của cha nó đấy, tôi và ông ta là bạn nối khố của nhau. Con bé con của ông đấy có mái tóc đỏ tự nhiên, giống như màu lửa ấy, còn khuôn mặt thì tròn trịa, rất dễ thương. Còn cô gái trong hình này,” bà ta lại nheo mắt nhìn, “tóc nâu, mặt dài, trông già dặn hơn. Có lẽ là do lớn lên bị phá nét, nhưng mà tóc thì không thể nào đổi màu được như thế”.

“Thật ra thì vẫn được”. Sephira bất giác trả lời. Người ta có thể đổi màu tóc bằng cách nhuộm bằng thuốc. Nhưng Josephine Savadov là một bệnh nhân tâm thần và suốt thời gian cô ta ở Viện thì không thể nhuộm tóc được, sau đó cô ta cũng không nhuộm, thế thì có thể nói màu tóc nâu kia thật sự là tóc thật của ta.

“Và thế là ta đã có kết luận, Josephine Savadov đang nằm trong bệnh viện kia không phải là Josephine Savadov trên giấy tờ nhân thân”. Sephira lẩm bẩm như thế mà nếu bà lão kia không đang ngồi trước mặt thì có lẽ cô đã reo lên rồi.

Đúng như cô đã nghi ngờ. Cô gái tóc đỏ, hiền lành, đáng yêu kia đã chết cùng với cha mẹ mình trong vụ đắm tàu. Còn người sống sót, kẻ đã mượn thân phận của cô bé ấy, là một ai đó hoàn toàn khác. Đó là một hành khách nào đó trên con tàu định mệnh ấy, và chắc có lẽ đó là kẻ đã gây ra vụ đắm tàu để ăn cắp thân phận.

Vừa nghĩ như thế thì Sephira cảm thấy cả người mình lặng đi. Trên con tàu đó, như Downson đã nói, toàn là những người trong hoàng tộc và quý tộc, thế mà “Josephine” kia dám dàn dựng vụ đắm tàu lấy mạng họ chỉ để mưu lợi cho mình một thân phận mới. Đó phải là một con người lạnh lùng và tàn nhẫn, và còn liều lĩnh, điên rồ, và hơn hết là có trí tuệ siêu việt đến nhường nào. Người đó đã dự tính tất cả, từng đường đi nước bước. Sephira kinh hãi khi nghĩ đến việc người đó có thể dùng trí tuệ ấy của mình vào một kế hoạch cực đoan nào đó với nhân loại chứ không chỉ để mưu cầu một cuộc đời mới cho mình.

Sephira vội vàng cảm ơn bà lão rồi chuẩn bị rời đi. Cô cần phải trở về Thủ đô ngay lập tức để nói với Downson về phát hiện này. Họ cần phải thu hẹp phạm vi nghi phạm, tập trung vào những hành khách trên chuyến tàu đắm năm xưa. Một trong số họ, một trong những kẻ đã chết, chính là hung thủ của toàn bộ vụ án mạng này.

Nhưng mà…

“Nhưng mà…”. Sephira ngỡ ngàng nhận ra một điều: nhưng mà làm thế thì được gì?

Nếu mọi thứ như cô đoán, nếu “Josephine Savadov” hiện tại là một “kiếp sống” khác, là một con người khác, là một kẻ hoàn toàn tách bạch với người đã lên kế hoạch cho vụ án mạng hoàn hảo kia thì việc vạch trần cô ta lúc này còn tác dụng gì, trong khi cô ta chẳng mảy may nhớ gì về những tội ác của mình, mà nói đúng hơn thì chính bản thân cô ta chẳng phải người đã làm những điều đó. Cô ta chỉ là một cái xác chứa trong khi tinh thần, trí tuệ, thứ đã làm nên con người thật sự của cô ta, đã chết rồi. Việc bắt một cái xác vô tri đền tội trước công lí và lẽ phải còn tác dụng gì? Họ thậm chí còn chẳng phải cùng một người!

Có thể đây cũng là dự tính của cô ta chăng? Cô ta đã biết rằng dù có người thật sự tìm ra mọi bí mật mà cô ta đã che giấu thì họ cũng không kết tội được bản thân, vì đâu có bộ luật nào ứng với trường hợp của cô ả? Và nếu cô ta bị đem ra làm vật thí nghiệm, họ cũng chẳng tìm được phương pháp bất tử hóa. Những kẻ cuồng tín có thể sẽ tìm lại những cuốn sách kia, có thể sẽ thử từng nghi thức một, nhưng ai bảo đảm rằng một trong các nghi thức đó là đúng, nhỡ đâu cô ta bất tử nhờ vào một phương pháp nào khác, một nghi thức nào khác?

Và cô ta có biết những hệ quả đi sau khi bản thân có được sự bất tử? Cô ta sẽ mất trí nhớ và dù có lên kế hoạch kĩ càng cho kiếp thứ hai, thứ ba của mình khi còn ở kiếp sống đầu tiên, cô ta cũng không thể suy tính cặn kẽ đến kiếp thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ một nghìn, hai nghìn, cô ta sẽ sống làm sao khi thậm chí còn chẳng biết mình là một kẻ bất tử? Đầu óc của cô ta có trí tuệ đến mức nào thì cũng không thể tính toán xa như thế. Sephira đột nhiên cảm thấy thật mỉa mai khi con người mưu cầu những khả năng vĩ đại của thần thánh và những tưởng mình đã thành công, thì thực chất vẫn mắc kẹt trong nỗi buồn và bất hạnh muôn thuở của nhân loại.

Và rồi, và rồi…

“Vì sao cô ta giết những người đó?”. Câu hỏi trung tâm của vụ án vẫn chưa được giải đáp.

 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px