Kẻ đục thuyền (1)
Sephira vừa bước ra khỏi cổng của Sở Cảnh sát thì nghe được tiếng người la hét và tiếng gậy gộc đập vào nhau. Cô thấy một toán cảnh sát chạy lại một chỗ ở góc đường và xúm vào chặn người đàn ông dáng người gù, bộ quần áo sờn cũ đang vùng vẫy.
Mất một lúc thì cô mới nhận ra đó là lão Arat. Dáng vẻ của lão đã thay đổi đáng kể kể từ lần cuối hai người gặp nhau. Ông ta gầy đi và gương mặt sạm nắng, trên trán bây giờ còn bết máu do cuộc ẩu đả với các cảnh sát.
Vài người đi đường bắt đầu để ý và có vài kẻ tò mò đứng lại ngó nghía nên cảnh sát không dám làm quá. Một người mặc đồng phục có đeo bảng hiệu mà Sephira biết là cấp chỉ huy cao hơn những người đang dồn lão Arat vào góc kia bước ra từ bốt trực và gầm giọng: “Ném lão sang chỗ khác đi. Thật là xúi quẩy!”. Khi anh ta quay người đi vào, Sephira nghe anh ta còn lẩm bẩm trong miệng: “Cái bọn cuồng đạo này, phải mà tống chúng vào trại tâm thần được”.
Sephira như nghĩ ra điều gì. Cô đi theo lối mà những viên cảnh sát vừa xua lão Arat. Lão ta vẫn còn đứng ở đó và lớn giọng hét vọng vào: “Bọn ngu muội, không mau làm Thánh lễ thì Đức Thánh sẽ giáng tội xuống các ngươi. Ngài ấy là con của Thánh, ngài phải được làm lễ để về hầu Thánh, các ngươi sẽ bị trừng phạt vì trái ý Thánh”. Và còn một tràng tiếng chửi rủa khác nữa mà từ ngữ càng ngày càng tục tĩu.
Sephira cũng ngần ngại khi lại gần lão, cô sợ lão sẽ nổi xung thiên mà mắng cả mình. Nhưng khi thấy cô vừa dợm bước lại gần, lão Arat lại nhận ra cô ngay. Lão ngừng chửi rồi nhìn cô với ánh mắt trừng trừng: “Cô phóng viên đây mà, cũng là một kẻ phạm Thánh như bọn ngu xuẩn trong kia”.
Sephira tỏ ra không để ý gì đến lời lão nói, cô hỏi: “Ông đến đây làm gì thế? Sao lại để mình ra nông nỗi này?”. Cô chỉ vào vết thương trên đầu ông ta.
Lão Arat dùng tay quẹt vệt máu trên trán một cách dứt khoát, hất cằm kênh kênh đáp lại: “Chút này đã là gì. Tôi sẵn sàng hiến dâng cả mạng hèn này cho ngài”. Lão nuốt nước bọt rồi lại lấy hơi để nói tiếp: “Ta đến đây để đòi thi hài của ngài Wellowe, ngài phải được cử hành Thánh lễ để được Thánh hóa”.
Sephira nghe lão nói mà mờ mịt chẳng hiểu gì.
Có lẽ lão cũng nhận ra sự khó hiểu của cô, tuy nhiên lão lại không đùng đùng tức giận như cô tiên đoán mà lại có vẻ hòa hoãn đi.
Nhưng rồi Sephira lại thấy mặt lão tái đi nhiều và cả người phải dựa hẳn vào tường để không ngã vật ra đường. Cô cuống quít đỡ lấy lão rồi dìu lão đi tạm vào một quán rượu lụp xụp với bảng hiệu đã cũ ở cuối đường. Vừa bước một chân qua ngưỡng cửa thì lão ngã soài ra sàn. Vài người đánh xe đang ngồi nghỉ ở trong quán phải giúp Sephira đỡ lão vào ghế.
Cô nghe lão thều thào than đói bèn gọi cho lão một phần bánh mì kẹp với thịt xông khói và li nước. Lão ăn nhồm nhoàm như một người bị bỏ đói lâu ngày và uống non nửa cốc nước.
Sau bữa ăn, thần sắc lão sáng hơn nhiều và đôi mắt có vẻ minh mẫn hơn. Lão nhìn Sephira với thái độ cảm kích, lần đầu tiên lão cho cô cảm giác đó từ khi biết nhau.
“Cảm ơn cô”. Lão ho khúng khắng. “Đã hai ngày rồi tôi chưa được ăn. Bọn chúng nhốt tôi trong ngục rồi đuổi tôi ra vào chiều hôm qua, tôi tức lắm mà không làm được gì, nhưng nghĩ đến thi hài của ngài Wellowe còn bị chúng giữ lại để mổ xẻ, khám này khám kia là tôi không chịu được. Tôi phải bảo vệ thi hài của ngài”.
Sephira quyết định không thấy tò mò hay khó chịu gì về sự sùng đạo thái quá của lão nữa. Tuy nhiên khi lão nhắc đến thi hài của Wellowe, cô lại nghĩ đến vụ Thánh lễ mà lão nói ban nãy.
“Ông bảo cần phải làm Thánh lễ cho ngài Wellowe, ý ông là lễ tang à? Thánh lễ là từ mà người theo đạo gọi sao?”.
Lão Arat nhìn cô như nhìn một kẻ dị dạng: “Cô nói gì thế, lễ tang thì cứ là lễ tang, Thánh lễ là cái khác. Đó là những nghi lễ trong đạo, tùy trường hợp mà có những cái tên khác”. Lão vừa nói vừa chép miệng. Cái vẻ khinh khỉnh kia lại trở về sau khi lão no say. “Với ngài Wellowe thì ngài phải được cử hành lễ Thánh hóa”.
“Thánh hóa?”. Sephira hỏi lại. “Đó là gì?”.
“Ôi, đúng là ngu xuẩn!”. Lão Arat cao giọng làm vài người xung quanh quay lại nhìn họ chăm chú.
Sephira bị nhìn như thế thì có hơi ngượng ngùng, ngay cả người phục vụ đứng sau quầy cũng nhướng mắt nhìn cô. Để đỡ sượng, cô lại ngoắt tay gọi rượu.
Người phục vụ đi lại và hỏi cô muốn loại gì. Lão Arat lắc đầu nguầy nguậy, nhưng Sephira vẫn nói tên hai loại rượu và xin hai cốc.
Lão Arat rít lên khi thấy cô gọi thế, và khi người phục vụ bày cốc ra thì lão bắt đầu rủa cô, nhưng may phước, lão nói bằng âm lượng vừa phải: “Đúng là tội lỗi, sao cô dám uống rượu trong tuần Thánh sinh hả? Đồ phạm Thánh này”.
Sephira bỏ ngoài tai mọi lời lão nói mà uống thẳng cốc của mình. Cô còn tỏ ra sung sướng với li rượu và nhìn lão thách thức: “Ông này, tôi uống gì là chuyện của tôi, tôi tôn trọng tôn giáo của ông thì ông cũng tôn trọng sở thích của tôi đi chứ?”.
Lão trỏ tay vào mặt cô, lại mắng: “Vì những người như cô mà trần gian này mới toàn bọn dâm ô và sát nhân, con người chẳng còn biết đến đạo lí và tôn ti gì nữa! Loạn hết rồi, loạn hết rồi!”.
Sephira cười khẩy: “Thế ông nói xem, việc một đám người theo đạo cùng đi lên đảo rồi giết hại lẫn nhau thì là yên bình và thuận theo ý Thánh à? Ý Thánh là con người tàn sát nhau?”.
“Nhảm nhí!”. Lão ta gầm gừ. “Ý Thánh là để cho người tin kính ngài được Thánh hóa và trở thành người ban phước cho muôn dân. Ngài Wellowe là người được chọn nên những kẻ kia phải thấy vinh hạnh vì đã được hiến mạng cho nghi thức của ngài”.
“Hả?”. Sephira ngẩn người trước lời lão nói. “Ai phải hiến mạng cho ai cơ?”.
Lão Arat có vẻ chẳng nghe thấy câu hỏi của cô mà vẫn nói liên mồm: “Khoảnh khắc đó thiêng liêng làm sao! Giá mà tôi là một phần của nghi thức, nhưng tôi biết tôi chỉ cần hỗ trợ ngài mà thôi. Tôi đã bảo đảm bọn chúng chết hết mà, tôi đã hoàn thành xuất sắc phận sự của mình, nhưng sao ngài Wellowe còn chưa tỉnh dậy, trời! Hay vì gì khác? Trời!”. Lão đột nhiên rống lên: “Hay vì cô ta? Là vì cô ta!”. Lão nói dứt câu cuối cùng thì đứng bật dậy và chạy thẳng ra khỏi quán như một vận động viên vừa được tiếp sức làm Sephira cũng phải giật mình vì tốc độ và sự khỏe khoắn đó. Ông ta cứ thế mà chạy biến khỏi quán.
Sephira thần người ngồi ở quầy bar nhìn bóng của lão ta khuất sau cánh cửa. Cô không thể hiểu nổi sao người ta có thể sống với sự u mê và cuồng dại như thế.
Khi lão Arat đi khỏi, anh phục vụ lại gần và hỏi cô: “Ông ta ổn không vậy? Trông cứ khùng khùng làm sao”.
Sephira quay vào bên trong quầy, cười nhẹ: “Lão vừa trải qua cú sốc ấy mà”. Cô vừa nói vừa cầm lấy li rượu mà lão Arat đã không uống đưa lên môi, không thể để phí thứ của ngon này được.
Nhưng cô còn chưa kịp nhấp môi thì gã phục vụ “ớ” một tiếng rồi cản tay cô lại.
“Này, nếu cô không định lên đồng hôm nay thì đừng có uống”.
Sephira ngạc nhiên nhìn anh ta: “Ý anh là sao? Tôi mới uống một li rồi đấy thôi”.
“Gì vậy cô? Li cô uống là loại rượu khác, li này là rượu khác mà? Cô gọi hai loại khác nhau!”.
Sephira giật mình nhìn lại trên bàn, một li rượu đã được cô uống cạn là loại mà cô vẫn hay uống, còn li kia là loại mà cô chưa thử bao giờ, khi gã phục vụ nói tên thì cô nhớ lại đó là loại rượu trong những cái chai thủy tinh được tìm thấy trong phòng của Lesis.
“Chà, chắc là tôi bị ám ảnh công việc quá rồi”. Rõ ràng là chuyện mấy chai rượu không có độc đã làm cô thất vọng nhiều hơn cô tưởng.
“Công việc gì mà lại có sự kết hợp giữa hai thức uống chết người này thế?”. Anh phục vụ với vẻ mặt tò mò hỏi.
“Chết người? Ý anh là sao?”. Sephira cau mày.
“Hai loại này uống riêng thì chẳng có hề gì. Nhưng nếu cô uống cùng một lúc, hoặc uống gần nhau khi một trong hai còn chưa tiêu hết thì sẽ gây ra ảo giác đấy”. Anh phục vụ giải thích. “Cho nên ngày xưa bên Tòa Thánh thường dùng chúng trong các nghi thức, để tạo hiệu ứng cường điệu cho người làm lễ ấy mà. Nhưng vì tác hại của nó lên thần kinh ghê gớm lắm nên sau này người ta cấm tiệt”.
Sephira lao ra khỏi quán rượu như một cơn lốc. Cô thấy đầu óc mình quay cuồng, không phải vì thứ rượu vừa uống mà vì những mảnh ghép trong đầu cô đang tự động sắp xếp lại với nhau khớp đến không ngờ.
"Hai loại uống cùng một lúc sẽ gây ảo giác”. Câu nói của anh phục vụ cứ lặp đi lặp lại trong đầu cô như một chiếc chìa khóa vừa được tra vào đúng ổ. Vậy là cô đã đúng, không phải là chất độc được tẩm vào rượu mà là sự kết hợp giữa hai loại rượu.
“Như thế thì lại thêm một manh mối”. Sephira hưng phấn đến mức nói thành tiếng. “Hung thủ phải là người thân cận để hiểu nạn nhân đến độ biết được loại rượu mà ông ta ưa uống để chuẩn bị loại kia”.
Cô rảo bước trên con phố đông đúc, tiếng ồn ào của xe ngựa và người qua lại dường như bị bóp nghẹt bởi dòng suy tưởng đang dâng lên cuồn cuộn trong tâm trí cô.
Sephira rùng mình. Thật là một kế hoạch hoàn hảo.
Kẻ chủ mưu đã không cần phải ra tay, chỉ cần giăng ra một tấm lưới được dệt từ chính những thói quen, những điểm yếu, những góc khuất nhất trong tâm hồn của mỗi nạn nhân. Một chuỗi domino hoàn hảo mà mỗi quân cờ đổ xuống đều kéo theo quân cờ tiếp theo, trong đó Lesis chính là mắt xích đầu tiên.
Cô có thể tưởng tượng được khung cảnh trên đảo lúc ấy. Gã nghiện rượu sau khi phát hiện mình đào được “kho báu” dưới gầm giường thì không chờ được mà tự khui chai và “ăn mừng” cái chết của chính mình. Trong cơn mê say đó gã đã ngã chổng vó, đầu nát tươm. Rồi Dinamil bước ra như một anh hùng. Trời, cô có thể thấy được vẻ mặt của hắn ta, vẻ mặt tự mãn vào trí tuệ và tài năng của mình cùng lời cam đoan chắc nịch là sẽ sửa được hệ thống tín hiệu liên lạc kia vì chẳng ai ở đó ngoài hắn có được kiến thức để làm thế. Gương mặt sung sướng và biết ơn của những người còn lại chính là “phần thưởng” cho lòng tự cao của hắn. Rồi đến Klatinrofto, chắc bà ta đã vui mừng lắm khi nghĩ mình đã tự cứu mình bằng trí khôn, nghĩ rằng mình đã thoát khỏi bàn tay đẫm máu của tên cuồng sát kia.
Nhưng rồi, như một cỗ máy đang chạy băng băng bỗng khựng lại vì một chiếc ốc vít bị lệch, dòng suy luận của cô đột ngột dừng lại ở Savadov và Wellowe. Hai người này luôn là dấu chặn trong những suy luận của cô, cô đã khó tiếp cận các manh mối về họ ngay từ đầu.
Sephira bắt đầu giả dụ khả năng một trong hai người này là hung thủ. Nếu Fiodor Wellowe là hung thủ, quả thực hắn ta đã thành công tới bước cận cuối - cơn đột quỵ đã phá hỏng kế hoạch mà hắn dày công sắp đặt kia. Mà khả năng hắn là hung thủ lại cao nhất, chính hắn đã đâm Josephine Savadov cơ mà.
Nhưng còn nếu ngược lại, cô ả bệnh hoạn kia là hung thủ thì sao? Khả năng này có vẻ thấp hơn và bất hợp lí nhiều điểm, nhưng không phải là không thể, nhất là khi cô vừa nghe những thông tin mờ ám về thân phận của cô ta. Tuy Sephira chưa thể kết nối giữa cái nhân - thân phận của cô ta, với cái quả giả định - cô ta là hung thủ, nhưng cô cam đoan rằng trong một vụ án thế này, chắc chắn có điểm gì đó trong những manh mối này cần được mổ xẻ. Có thể cô ta muốn trả thù chăng? Lí do phổ thông ấy là thứ dễ đoán ra nhất, nhưng là thù hận gì? Hay cô ta muốn bịt miệng họ, nhưng nếu thế thì để giữ gìn bí mật gì? Hay cô ta được lợi lộc gì sau khi giết họ? Tiền bạc, danh tiếng, địa vị?
Những lời tự vấn như cơn thủy triều bắt đầu cuốn đến. Sephira lắc đầu, cố gắng xua tan mớ suy nghĩ hỗn độn. Gì thì gì, giờ cô cần phải nói với cảnh sát về chuyện này trước. Giờ ta đã có thêm một manh mối để thu hẹp phạm vi những nghi phạm - một người quen biết thân cận các nạn nhân và có lẽ từng ở Tòa Thánh Jean-sé hai mươi mấy năm trước.
Cô rảo bước nhanh hơn về phía Sở Cảnh sát mà lòng đầy phấn khích.
Nhưng khi vừa đến nơi, khung cảnh trước mắt khiến cô chết lặng. Một chiếc xe ngựa của cảnh sát đang đỗ trước cổng và ngay trên bậc thềm, hai viên cảnh sát to lớn đang khóa tay lão Arat vào còng. Lão già vùng vẫy yếu ớt, miệng không ngừng lẩm bẩm những lời nguyền rủa nhưng đôi mắt thì đã dại đi vì kiệt sức. Bell đứng ngay sau, mặt đỏ phừng phừng, quát tháo om sòm, còn Downson thì đứng nép sang một bên, gương mặt trầm đi nhưng ánh mắt sáng tinh đang theo dõi mọi việc.
Sephira chen qua đám đông hiếu kỳ đang tụ tập, tiến thẳng đến chỗ Downson.
"Chuyện gì đã xảy ra thế này?". Cô hỏi với giọng gấp gáp.
Downson quay sang, đôi mắt sắc lạnh của anh ta thoáng một tia nhẹ nhõm khi nhìn thấy cô. Anh ta khẽ nắm lấy khuỷu tay cô, kéo cô sang một bên như để tránh xa cơn thịnh nộ của Bell.
"Lão ta lại đến làm loạn”. Downson nói, giọng trầm thấp. "Nhưng lần này trong lúc chửi rủa, lão lại nói ra một chuyện chấn động”.
“Chuyện gì?”. Sephira cướp lời. “Có phải chuyện chai rượu không?”.
Anh ta ngừng một nhịp: “Rượu gì chứ? Lão ta nói rằng mình đã ở trên đảo lúc Wellowe thực hiện nghi thức Thánh hóa”.
“Hả?”. Sephira ngơ người. “Nghi thức Thánh hóa?”.
Cô nhớ lại lời Arat nói ban nãy ở quán rượu. Cô cứ tưởng lúc đó lão đang nói nhảm, không ngờ lại là sự thật. Cô cứ nhìn lão như một tên cuồng đạo biến thái nên chẳng chú ý kĩ đến từng lời lão nói về mấy chuyện tôn giáo.
“Đi thôi, nếu may mắn thì cô có thể được xem cuộc hỏi cung”. Downson nhìn về phía lão Arat đang bị hai cảnh sát kèm sát dẫn vào trong Sở, lão Bell lê thân hình to lớn bước đằng sau với gương mặt giương giương.
Không gian bên trong phòng quan sát của Sở Cảnh sát bị bao trùm bởi một thứ bóng tối đặc quánh, chỉ có ánh sáng xanh nhạt hắt ra từ những bảng điều khiển điện báo đặt ở góc phòng. Sephira đứng sát vào mặt kính hai chiều, đôi bàn tay bám chặt lấy gờ sắt lạnh ngắt, hơi thở cô phả vào mặt kính tạo thành một lớp sương mờ ảo. Ngay bên cạnh, Downson đứng như một pho tượng tạc từ đá xám, đôi mắt anh ta không rời khỏi những chuyển động dù là nhỏ nhất ở phòng bên kia.
Phía sau lớp kính, căn phòng thẩm vấn hiện lên dưới ánh đèn điện vàng vọt, tù túng. Lão Arat ngồi đó, trông nhỏ bé và gù hơn bao giờ hết giữa chiếc ghế bọc da sờn. Đối diện lão là Thanh tra Bell - người đang cố nén sự béo ú của mình vào một tư thế bệ vệ, và một viên cảnh sát trẻ tuổi với cuốn sổ ghi chép mở sẵn.
Bell chậm rãi rít một hơi thuốc dài, làn khói xám cuộn lên che nửa gương mặt đang cố tỏ vẻ nghiêm nghị. Hắn gõ cái tẩu xuống mặt bàn gỗ, âm thanh khô khốc vang lên như một tiếng thị uy.
“Được rồi, lão già”. Bell mở lời, giọng ông ta vang vọng qua hệ thống loa đồng. “Chúng tao đã nghe đủ những lời sấm truyền của lão ngoài cổng rồi, giờ thì hãy nói tiếng người đi. Tại sao lão lại có mặt ở dinh thự vào lúc những cái chết xảy ra? Ban đầu lão khai rằng mình đã rời đi theo ý của khách hàng cơ mà? Lão khai man đấy à?”.
Lão Arat ngước lên, hai tay vẫn còng trước mặt nhưng sống lưng thì bây giờ lại thẳng đơ đầy vẻ bướng bỉnh. “Lệnh của người phàm làm sao ngăn được ý định của kẻ được chọn.” Lão khò khè. “Ngài là Người Hầu Thánh tối cao. Ta đã dành cả đời để đọc về những việc ngài làm ở Tòa Thánh, ta biết ta không thể để ngài cô độc giữa đám người trần tục đầy tội lỗi đó được. Đó không phải là ba mạng người, đồ ngu muội”. Lão sẵng giọng. “Đó là ba vật hiến tế. Ngài Wellowe là người thực hiện Thánh ý, còn ta, ta thuận ý của Đức Thánh để ở đó chứng kiến nghi thức thiêng liêng ấy”.
Bell cười khẩy, lắc đầu như thể vừa nghe một chuyện nực cười nhất trần đời. "Thánh ý. Hay đấy. Vậy nói tao nghe xem, kế hoạch đó còn bao gồm cả việc tự tay đâm một người phụ nữ vô tội nữa à? Hay là Đức Thánh của mày đột nhiên nổi hứng muốn có thêm một vật hiến tế nữa?".
“Ngu quá, ngu quá”. Lão Arat lớn giọng. “Nghi thức cần một người thuần khiết và thanh sạch, một kẻ ngây thơ tột cùng. Làm gì có ai ở đó mà không nằm trong Thánh ý? Ả ở đó vì Đức Thánh muốn ả ở đó, số ả định sẵn là phải chết”. Mặt lão Arat tối sầm lại, nhưng lão không nhìn Bell. Ánh mắt lão nhìn xuyên qua gã thanh tra, như xuyên vào một cõi nào khác, một cõi chỉ có lão và vị thánh nhân của lão. "Đêm đó, ta đã thấy từng người trong bọn đó đã chết, tất cả đều là Thánh ý. Gã nghiện rượu say sưa ngã đập đầu, ha ha. Tên nhà khoa học thì tưởng mình có thể chống lại Thánh mệnh nên xung phong đi sửa cái máy liên lạc, nhưng đúng như ngài Wellowe đã nói, máy móc là đồ chơi của quỷ, cái máy đó nướng chín gã. Và con đàn bà kia, nó tưởng nó khôn lắm. Nó cười sằng sặc khi mở được mật thất rồi kẹt luôn ở trỏng. Chỗ đó hợp với nó lắm, nó nên ở trong đó vĩnh viễn mới phải”. Đột nhiên, Arat đưa hai cánh tay bị còng của mình lên đầu, mắt hướng lên trần nhà. Sephira thấy mặt lão đỏ quạch. “Sau khi mụ già kia bước vào mật thất, ta nghe thấy ngài ấy quỳ cầu nguyện trong phòng. Ngài ấy nói chuyện với Đức Thánh bằng thứ tiếng của các đấng bề trên. Ta biết ngài ấy đang nhận mặc khải, rằng chỉ cần thêm một linh hồn thanh sạch và thuần khiết nữa thôi, nghi thức Thánh hóa sẽ hoàn thành. Trong Thánh kinh ghi như thế mà, ngài ấy đã biết ngay, ngài ấy đã thấy hai cái chết, ngài ấy biết dấu hiệu. Còn ai trên đời ngoài ngài ấy có khả năng kết nối với đấng quyền năng như thế?”. Lão ho khúng khoắng: “Nhưng mà con ả đó ghê gớm lắm. Nó chống cự, trời, mấy phen tôi đã định lao ra giúp ngài Wellowe, nhưng tôi sợ thế thì trái ý Thánh, nghi thức sẽ hỏng mất”.
Mắt Bell sáng lên. Hắn rướn người về phía trước, giọng hạ thấp nhưng đầy vẻ đắc ý: "Vậy là chính Wellowe đã đâm cô ta chứ không phải ai khác, không có kẻ thứ sáu nào trên đảo, ngoại trừ mày." Hắn liếc sang viên cảnh sát đứng bên cạnh để chắc chắn rằng từng lời đều được ghi chép cẩn thận. "Rồi sao nữa? Ông ta đâm xong thì sao?”.
Lão Arat im bặt. Đôi tay lão run lên, không phải vì run sợ mà là vì một nỗi hưng phấn cuồng tín sắp trào ra. "Ngài ấy đã hoàn thành nghi lễ, nhưng mà, nhưng mà, nhưng mà,” lão Arat bắt đầu lắp bắp, “thể xác phàm trần không chịu nổi vinh quang của Thánh hay sao, ngài ấy gục xuống, tim ngài ấy ngừng đập. Ta chạy ào đến kiểm tra cơ thể của ngài. Rồi ta đợi, ta đã đợi, đợi ngài ấy sống lại, đợi ngài ấy ban phước lành cho kẻ ngoan đạo như ta, nhưng...”.
Đến đây, lão Arat đột ngột nhắm mắt lại, bắt đầu đung đưa người theo một nhịp điệu kì quái. Từ trong cổ họng lão phát ra một tràng âm thanh rợn người, một chuỗi những từ ngữ đa âm, gắt gỏng và đầy những âm tắc, không giống bất kì ngôn ngữ nào mà Sephira từng nghe. Downson đứng bên cạnh thì thầm vào tai cô: “Lão lại lên cơn đồng bóng rồi đấy”.
“Dừng lại! Lão làm cái quái gì thế?”. Bell đập mạnh xuống bàn, mặt ông ta đỏ phừng phừng vì giận dữ. “Nói tiếng người, hoặc tôi sẽ cho lão nếm mùi gậy gộc lần nữa!”.
Lão Arat ngừng bặt, mở mắt ra, nhìn Bell bằng ánh mắt khinh bỉ tột độ.
Đột nhiên ngay lúc đó, từ căn phòng thẩm vấn vang lên một tràng cười lớn. Thanh tra Bell ngửa cổ ra sau, cười đến mức cái bụng mỡ rung bần bật: “Khà khà khà! Ha ha ha!”. Ông ta chỉ tay vào mặt Arat đầy đắc ý: “Tuyệt vời! Thật là một câu chuyện tuyệt vời! Vậy ra gã ‘Thánh’ của lão chỉ là một tên sát nhân tâm thần già nua, chết vì đứt mạch máu não do quá phấn khích khi giết một cô gái? Và lão thì ngồi canh cái xác thối suốt cả buổi để đợi nó thăng thiên? Ôi trời ơi, vụ án này coi như xong! Động cơ rõ ràng, hung thủ đã chết, nhân chứng thì điên khùng. Tôi sẽ báo cáo đây là một vụ thảm sát do cuồng tín tôn giáo!”.
Nụ cười của lão Bell như một gáo nước lạnh tạt vào sự sùng kính của Arat. Lão già gù đột ngột đứng phắt dậy, xích tay va vào nhau loảng xoảng. Gương mặt lão tím tái, những đường gân xanh nổi lên cuồn cuộn trên cổ.
“Đồ vô lại! Đồ phỉ báng!”. Arat gầm lên, giọng lão khản đặc vì căm hờn. “Ông dám dùng cái mồm dơ bẩn đó để nhạo báng nghi thức thiêng liêng sao? Ngài Wellowe đã đạt đến cảnh giới mà hạng người ngu muội như ông không bao giờ đến được! Ông cười nhạo Đức Thánh, ông sẽ bị nguyền rủa! Cả cái Sở Cảnh sát này sẽ bị thiêu rụi trong lửa trừng phạt của ngài!”.
Lão Arat vồ qua bàn, định lao về phía Bell nhưng đã bị viên cảnh sát trẻ tuổi nhanh tay khống chế, vật xuống sàn. Lão vẫn không ngừng gào thét, những lời nguyền rủa bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu ban nãy lại tuôn ra ào ạt, vang vọng khắp căn phòng thẩm vấn.
Bell quay lại nhìn bộ dạng bị ấn xuống đất của lão Arat trước khi rời khỏi phòng, nhếch mép cười rồi nói: “Cảm ơn mày, Arat ạ. Mày đã giúp chúng tao khép lại vụ án này một cách hoàn hảo. Thánh của mày, nếu có thật, chắc cũng phải tự hào về mày lắm”.
Bell bước ra ngoài, Sephira và Downson cũng mở cửa phòng bên này đi ra, họ thấy lão đang nói chuyện với hai cảnh sát đứng canh trước cửa phòng thẩm vấn: “Tống lão vào ngục tối, để xem Đức Thánh của lão có đến mở khóa còng cho lão không”.
Thấy Sephira và Downson đi lại, lão Bell cười sung sướng: “Cô phóng viên, thế nào, bài báo của cô hoàn thành rồi chứ? Mấy vụ thế này ấy mà, một loáng là xong ngay. Tôi đã đoán ra ngay từ đầu, chỉ thiếu nhân chứng và đợi thời cơ thôi. Cô cũng không ngờ tới chứ gì?”.
Sephira cười nhạt, cô đương nhiên sẽ không nói rằng mình đã suy luận được cách thức gây án của hung thủ từ trước khi nghe ông ta hỏi cung.
“Sau vụ này tôi sẽ được tuyên dương đây”. Lão Bell chỉnh lại thắt lưng, cái bụng tròn của lão như muốn giật tung cúc áo sơ-mi.
“Thế là vụ này kết thúc sao thưa ngài?”. Sephira bước lên phía trước. “Lời của một ông già có tinh thần bất ổn thế kia thì có đáng tin không?”.
Lão Bell cau mày nhìn cô, giọng lão đầy vẻ khó chịu: “Cô gái, cô đang nghi ngờ nghiệp vụ của tôi đấy à?”.
Sephira không biết đáp làm sao, cô nhìn qua Downson, mặt mũi anh ta lúc này như kẻ vô hồn. Tên này luôn tỏ ra dửng dưng mấy lúc thế này lắm.
“Tôi chỉ thấy mọi thứ cứ… vừa khít nhau thế nào, như có kẻ sắp xếp mọi chuyện và xui khiến ta nghĩ như thế này,” Sephira nói.
“Trời, cô phóng viên”. Lão Bell cười với vẻ thương hại. “Cô thấy mọi thứ vừa khít vì đó là sự thật, ta nghĩ thế này cũng vì đó là sự thật đấy. Đợi mà xem, tôi chắc chắn ngày mai khi điều tra mọi thứ theo hướng lão già kia vừa khai sẽ tìm ra một mớ bằng chứng cho thấy Wellowe là người lên kế hoạch cho toàn bộ chuyện này. Lão là người gửi mấy lá thư nặc danh kia, sau đó lợi dụng các học viên ở Tòa Thánh để làm vật hiến tế cho cái nghi thức điên khùng của mình”. Lão Bell chép miệng. “Tên này thông minh đấy, hắn dàn dựng các cái chết tự động rồi để mình là người hốt món hời chót. Ai ngờ lại gậy ông đập lưng ông”. Lão Bell nói xong thì lại tấm tắc về tài năng điều tra của mình sau đó bỏ đi.
Còn lại Sephira và Downson đứng ở trước cửa. Lão Arat đã bị còng đầu và xích chân, nhét giẻ vào miệng và áp giải đến ngục bởi hai viên cảnh sát.
Downson thấy cô cứ nhìn không rời mắt theo lão Arat thì hỏi: “Mà ban nãy cô đến đây vội vàng làm gì thế?”.
Sephira mím môi, cười nhạt: “Tôi phát hiện ra vụ mấy chai rượu, không phải là bị tẩm độc mà là kết hợp hai loại rượu, một loại mà Lesis hay uống và loại được đặt sẵn trong phòng nếu uống cùng nhau sẽ gây ảo giác và hưng phấn khiến nạn nhân dễ gặp tai nạn. Tôi suy luận hung thủ phải là người biết rõ thói quen của nạn nhân mới làm thế được. Bên Dinamil và Klatinrofto cũng thế, hắn đều lợi dụng tính cách và thói quen của các nạn nhân để dàn dựng những cái bẫy chết người”. Sephira nói như một cái máy phát tiếng vô hồn. “Nhưng suy luận của tôi lại mắc mứ ở Savadov và Wellowe, rồi tôi lại suy đoán, khả năng lão Wellowe là hung thủ cao nhất, vì mọi bằng chứng đều có vẻ đang chỉ vào lão, lão chỉ thất bại vì cơn đau tim là biến số lão không ngờ tới. Savadov cũng đáng nghi vì thân phận của cô ta làm tôi có linh tính chẳng lành, nhưng lại không biết kết nối việc đó với việc cô ta là hung thủ như thế nào, tôi đang nghĩ cô ta muốn báo thù chăng, vụ đắm tàu khiến cha mẹ cô ta qua đời có liên quan đến những nạn nhân kia không? Hay cô ta muốn bịt miệng họ? Hay cô ta được hưởng lợi ích gì to lớn sau khi giết họ?”. Cô nhìn sang anh ta: “Nhưng giờ thì mọi thứ rõ ràng nếu theo lời khai của lão Arat nhỉ? Mọi câu hỏi đã được trả lời và kết luận vừa rồi của lão Bell lại ứng với mọi manh mối mà ta tìm thấy”.
“Tôi nói này, cô muốn nói gì thì nói ngay đi, nghi ngờ gì thì chứng minh ngay. Vụ này bắt đầu ầm ĩ lên rồi, không tính đến gia đình nạn nhân, công chúng cũng là nhân tố gây sức ép và nếu không có bước ngoặt gì mới thì cấp trên sẽ lệnh đóng hồ sơ và kết thúc vụ án trong nay mai thôi”. Nói rồi Downson lại lắc đầu, tặc lưỡi. “Sau vụ này thể nào bên Toà Thánh cũng khốn đốn cho xem”.