Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Sáng hôm sau, Sephira bị đánh thức bởi một tiếng chuông dài từ cửa nhà vọng vào. Cô còn đang chưa hiểu chuyện gì thì lại nghe thêm một tràng tiếng gõ cửa. Cô cố vắt óc ra xem hôm nay là thứ mấy, mình có phải đến tiệm bánh không thì lại nhớ đến cuộc trò chuyện hôm qua của mình với người phụ nữ kia ở quán cà phê, và rồi đủ những khung cảnh khác lướt qua đầu cô với những kí ức cô đã có từ đâu ồ ạt ập đến như sóng cuộn.

Sephira vội vàng ngồi dậy, buột sơ tóc tai rồi chạy ra cửa, nhìn qua lỗ mắt mèo thì thấy Downson đang mặc cảnh phục chỉnh tề đứng bên ngoài.

Sephira mở hé cái lỗ bỏ thư ở dưới, hỏi: “Anh làm gì thế? Mới sáng sớm. Chẳng lẽ có tin gì rồi?”.

Downson ở ngoài đáp vọng lại: “Sáng nay tôi đến bệnh viện trực, cô có muốn đi xem Savadov không?”.

Downson ngồi trong phòng khách trong lúc Sephira loay hoay vừa thay đồ vừa gấp chăn màn trong thời gian mà anh ta “cho phép”. Trong lúc đợi cô, Downson nói về những thông tin mới nhất của vụ án.

“Lão Dinamil với bà Klatinrofto thì dễ điều tra nhất, họ có nhà ở Thủ đô và đa số người quen đều sống ở quanh đây nên chỉ cần một hai ngày là cảnh sát biết hết mọi chuyện”. Anh ta mở đầu. “Nhưng mà người của chúng tôi chẳng đem về được mấy tin giá trị cho vụ án. Ngoài những gì chúng ta dễ dàng tra được qua hồ sơ và các chứng cứ ở hiện trường thì chỉ biết thêm một chút về tính cách cá nhân của họ”. Downson dừng một lúc như nghĩ ngợi rồi mới nói: “Mà phải nói mấy người nhìn trọng vọng này có tính cách chẳng tốt đẹp gì, không ít người ghét họ. Lão Dinamil thì bị vài sinh viên nhận xét là dê xồm, đồng nghiệp và cấp dưới thì bảo là thích ta đây và thể hiện, hàng xóm thì bảo là người keo kiệt và hay mắng chửi người khác. Bà Klatinrofto thì ngoài người quản gia hết mực tôn trọng ra cũng không được nhiều người ưa mến. À, mấy học sinh ở trường và những người phụ nữ cơ nhỡ được bà ta cưu mang ở trại tế bần cũng quý mến, nhưng đa số người ta cũng ghét lắm”.

Sephira nhớ lại lá thư của bà ta viết cho ông quản gia thì cười nhẹ rồi nói: “Không lạ lắm”.

“Nên nếu nói về kẻ thù thì hai người này có nhiều vô số đấy”. Downson cảm thán. “Lão Wellowe thì đỡ hơn, mọi người ở bên Tòa Thánh tôn kính lắm”.

“Cũng không lạ lắm”. Sephira lại nhận xét.

Downson kiểm tra đồng hồ, anh ta có vẻ hồi hộp: “Này, cô xong chưa thế? Tôi phải đổi ca trực với đồng nghiệp nên không đi trễ được đâu”.

“Xong ngay đây”. Sephira cao giọng trả lời.

Bệnh viện là một tòa nhà đồ sộ bằng đá xám với những ô cửa sổ nhỏ và những hành lang dài hun hút. Mùi thuốc sát trùng thoang thoảng trong không khí, hòa quyện với mùi ẩm mốc của những bức tường cũ kĩ. Những y tá mặc đồ trắng đi lại vội vã, khuôn mặt họ lộ rõ vẻ mệt mỏi sau một đêm dài trực ca. Tiếng rên rỉ của bệnh nhân vọng ra từ những căn phòng đóng kín cửa tạo nên một bầu không khí u ám và nặng nề.

Downson dẫn Sephira đi dọc hành lang, qua những dãy phòng bệnh đông đúc cho đến khi dừng lại trước một cánh cửa có treo biển "Phòng Đặc biệt - Không phận sự miễn vào". Một viên cảnh sát trẻ tuổi đang đứng gác trước cửa, trông có vẻ buồn ngủ và chán chường. Vừa nhìn thấy Downson anh ta như được giải thoát.

"Trung sĩ Downson, cuối cùng anh cũng đến!". Anh ta thở phào. "Tôi tưởng mình sẽ chết dí ở đây mất”.

"Có chuyện gì đặc biệt không?", Downson hỏi.

"Không có gì ạ. Bệnh nhân vẫn hôn mê. Bác sĩ nói tình trạng của cô ta vẫn chưa cải thiện”.

Downson gật đầu, ra hiệu cho anh ta có thể rời đi. Sau đó anh quay sang Sephira: "Cô có muốn vào trong xem thử không?”.

Sephira đắn đo một lúc rồi mới trả lời: “Đúng là tôi tò mò về cô ta thật, nhưng nếu cô ta chưa tỉnh lại thì tôi cũng chẳng khai thác thêm được gì”. Cô nhỏ giọng. “Bù lại, tôi muốn nói chuyện với bác sĩ điều trị của cô ta, có vài thứ tôi muốn hỏi”.

Downson chỉ về hướng bên phải của hành lang. “Cô đi thẳng xuống cuối rồi rẽ trái, phòng thứ hai bên phải có đề biển hiệu ‘Bác sĩ Miller’, ông ta là người điều trị chính cho cô ta đấy. Tôi đọc hồ sơ thì cảnh sát đã hỏi chuyện ông ta rồi, họ nghi ngờ mấy vết thương của cô ta là tự cô ta gây ra. Nhưng ông ta đã xác nhận mấy vết thương đó vừa sâu vừa nguy hiểm, người tỉnh táo sẽ không liều mạng đến vậy để tạo bằng chứng ngoại phạm cho mình đâu”.

Sephira gật gù: “Ra là vậy à?”.

“Thế cô muốn hỏi thêm điều gì?”. Downson thắc mắc.

Sephira vỗ cánh tay anh ta rồi cười: “Để lát tôi kể sau”.

Sephira đi dọc theo hành lang và rẽ ở đúng chỗ Downson vừa chỉ.

Cô đẩy cửa căn phòng có biển hiệu “Bác sĩ Miller” ở phía trước.

Đó là một căn phòng nhỏ có cửa sổ ở đối diện cửa ra vào, chỉ có một chiếc giường sắt đơn sơ, một chiếc bàn nhỏ, một chiếc ghế tựa ở sau bàn và hai chiếc ghế đẩu gỗ ở phía trước dành cho bệnh nhân ngồi. Phía tay phải của bàn làm việc là một giá sách ở trên kiêm chiếc tủ hai cánh ở nửa dưới.

Bác sĩ Miller là một người đàn ông trung niên, có mái tóc bạc sớm và đôi mắt nghiêm nghị sau cặp kính dày. Thấy Sephira bước vào, ông ta nhướng mày ngạc nhiên: “Cô có hẹn lịch khám chưa?”.

Sephira lắc đầu: “Tôi không phải bệnh nhân đến khám, tôi muốn hỏi bác sĩ chuyện về cô gái đang nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt bên kia, Josephine Savadov”. 

Bác sĩ Miller ngờ vực nhìn cô. Sephira hiểu ngay ông ta đang nghĩ gì, cô lấy một cái thẻ từ túi ra đặt lên bàn trước khi ngồi xuống.

Cái thẻ đó là thứ mà lão Bell cấp cho cô ngày hôm qua để thuận lợi ra vào Sở Cảnh sát. Vụ cô tìm thấy xác của Klatinrofto nhưng lại được ghi công dưới tên lão đã khiến ông ta dễ chịu với đòi hỏi của cô hẳn. 

Cái thẻ này chẳng chứng minh gì được thân phận của cô, tuy nhiên nó khiến ông bác sĩ chẳng rành chuyện thủ tục pháp lí trước mặt này tự mặc định rằng cô là người của cảnh sát đến điều tra.

Vị bác sĩ đưa tay chỉnh lại gọng kính, sau đó đẩy tấm thẻ lại phía cô.

“Cô cần biết gì? Tôi tưởng mình đã khai hết mọi thứ với cảnh sát vào hôm trước rồi”.

“Những thứ ông đã khai giúp ích rất nhiều cho chúng tôi, nhưng tôi muốn hỏi ông chuyện khác”. Sephira mím môi, sau đó cô kể lại hiện trường nơi Savadov được tìm thấy cùng với số máu loang trên đất như máu của một con bò khổng lồ. Tiếp đến, cô lại kể đến khoảng thời gian giả định của mình từ khi lão Arat phát hiện ra cô ta đến lúc cô ta được cấp cứu.

“Ông nghĩ với vết thương và lượng máu mất như thế, rồi thời gian từ khi cô ta bị thương đến lúc được cứu chữa như vậy thì khả năng sống sót của cô ta…”.

"Thành thật mà nói, nếu toàn bộ sự việc là như cô nói thì tôi vẫn chưa thể giải thích được tại sao cô ta lại sống nổi”. Ông ta nói, giọng đầy vẻ thán phục. "Vết thương của cô ta rất nghiêm trọng. Lưỡi dao đã đâm thủng phổi, gây tràn máu màng phổi, chưa kể đến những vết dao ở các vị trí khác. Theo lời cô kể thì cô ta đã mất một lượng máu lớn mà còn không được cấp cứu ngay lập tức. Nếu theo thông thường thì cô ta đáng lẽ phải chết từ lâu rồi”.

"Nhưng cô ta vẫn sống,” Sephira nói. "Đó có phải là một phép màu không?".

Bác sĩ Miller cười khổ. "Tôi là một nhà khoa học theo chủ nghĩa duy lí, thưa cô. Tôi không tin vào phép màu, nhưng quả thực tôi không thể tìm ra một lời giải thích hợp lí nào cho trường hợp này ngoài hai chữ ‘phép màu’”.

"Như vậy ý ông là một người bị một vết thương như cô Savadov, và phải chờ ít nhất ba đến bốn tiếng mới được sơ cứu thì không thể sống sót? À, vậy bác sĩ thấy cô ta có dấu hiệu gì của việc tự cầm cự vết thương để kéo dài thời gian không?".

Bác sĩ Miller nhìn cô một cách kì lạ, như thể cô vừa hỏi một câu hỏi ngu ngốc nhất trên đời. "Tôi có thể khẳng định với cô, không có chuyện cầm cự như thế được, tỉ lệ sống sót trong trường hợp đó là tám trên mười. Và tôi nói tám trên mười là không thể sống sót chứ không phải là ngược lại".

Khi Sephira rời khỏi phòng của bác sĩ Miller, đầu óc cô như vừa trải qua một cơn say bí tỉ mà lại được uống ngay một bát trứng sống dầm tỏi khi vừa mới dậy, vừa tỉnh táo lại vừa mù mờ. 

Thế là giờ mọi nghi ngờ đang chĩa vào Savadov. À, hoặc phải nói là cả Savadov và Wellowe đều đáng nghi, vì một người bị đâm còn kia là kẻ đâm người ta. Nhưng đâu là lời giải thích hợp lí cho chuyện này? Chẳng lẽ Savadov đã hại Wellowe trước sau đó dàn dựng những vết thương kia? Nhưng như bác sĩ đã nói, một người tỉnh táo để lên kế hoạch cho một vụ giết người liên hoàn thế kia thì không thể đẩy mình vào cảnh thập tử nhất sinh như vậy, cô ta đã có thể chết ngay lập tức. Ôi nhưng cô ả vẫn sống dù lẽ ra phải chết! 

“Cái mớ bòng bong này”. Sephira ôm đầu chán nản đi lại chỗ Downson đang đứng. Anh ta đang nói chuyện với một viên cảnh sát khác, cô nhận ra người này là một trong số những người đã lên đảo để khám xét vào ngày hôm trước. Viên cảnh sát đưa cho Downson một bản báo cáo rồi rời đi trước khi cô đi lại.

Downson thấy cô thì chìa bản báo cáo ra. Sephira nhận ra đó là báo cáo về việc xét nghiệm số rượu trong phòng Lesis.

Cô đọc lướt qua và cảm thấy như cả thế giới sụp đổ dưới chân mình. Bản báo cáo ghi rõ ràng: "Tất cả rượu đều không có dấu hiệu bị bỏ độc”.

"Chỉ là rượu bình thường thôi sao?". Sephira lắp bắp. "Tất cả đều chỉ là rượu bình thường?".

"Tất cả”. Downson xác nhận. "Tôi e rằng suy luận của cô về việc rượu bị tẩm thuốc hay có chất độc là sai rồi”.

Sephira ngồi phịch xuống ghế. Mọi thứ đang trở nên rối tung hơn bao giờ hết. Cô đã chắc mẩm rằng mình đã tìm ra lời giải thích cho cái chết của Lesis nhưng hóa ra lại là một ngõ cụt. Nếu không có chất độc vậy thì chẳng lẽ tất cả chỉ là tai nạn? Một chuỗi tai nạn liên hoàn, nghe có vô lí không chứ?

Sephira như chợt nhớ ra điều gì, cô ngẩng đầu hỏi Downson: “Còn bà quý tộc thì sao? Khám nghiệm thi thể có cho thấy dấu hiệu bà ta bị tác động ngoại lực, bị ép đi vào mật thất không?”.

Downson nhìn cô một cách khó hiểu: “Kìa, chính cô đã nói rằng bà ta biết về mật thất nên đã vào đó để ẩn náu khỏi nguy hiểm mà? Sao giờ lại hỏi thế?”. Downson hỏi lại. Nhưng sau đó anh ta cũng trả lời tiếp câu hỏi của cô: “Và tất nhiên cảnh sát không tìm thấy dấu hiệu gì cho thấy bà ta bị ép buộc hết. Nguyên nhân cái chết của bà ta là ngạt khí. Căn mật thất đó không có cách mở từ bên trong mà lại không làm hệ thống thông gió”.

“Chết tiệt thật chứ?”. Sephira rên rỉ. “Cứ tưởng có thêm manh mối thì sẽ tỏ tường, ai ngờ lại càng bí quẫn”.

“Y như tình trạng của Klatinrofto nhỉ?”. Downson nhìn dáng vẻ thiểu não của Sephira rồi nói với giọng suy  tư. “Chắc bà ta cũng tưởng mình vào đó là an toàn rồi, ai ngờ lại bị chính sự thông minh của mình hại ngược”.

“Cái gì?”. Sephira nghiêng đầu nhìn Downson.

“Thì tình trạng của bà quý tộc đó? Chẳng phải cô nói bà ta am hiểu…”.

“Đúng”. Sephira bật dậy, một niềm vui sướng không thể giấu được sáng lên trong mắt cô. Sao cô lại không nghĩ ra ngay chứ?

“Bà ta là người am hiểu kiến trúc. Khi gặp nguy hiểm, bà ta sẽ nghĩ ngay đến chuyện tự bảo vệ mình bằng cách trốn vào mật thất, rồi bà ta bị kẹt lại trong đó và chết dần chết mòn. Mà vì sao bà ta lại nghĩ mình gặp nguy hiểm?”. Sephira nói một tràng không ngừng.

Downson như ngờ ngợ ra điều gì.

“Vì bà ta đã thấy có hai người chết, chính là Lesis và Dinamil đấy”. Sephira như muốn reo lên. “Tận hai trên năm người trên đảo đã chết, bà ta sẽ sợ hãi rồi nghĩ ‘Người tiếp theo có thể là mình’. Thế là bà ta vận dụng trí khôn mà mình có để thoát thân, không ngờ lại tự đưa mình vào ngõ cụt”.

Sephira nhìn qua Downson: "Chúng ta đến nhà của Klatinrofto đi”. Cô nói với anh ta. "Vụ rượu của Lesis đã bít đường rồi, phải đi từ manh mối khác thôi, có thể bắt đầu từ việc điều tra những kiến thức đặc thù mà bà ta biết về lĩnh vực kiến trúc". Sephira nói một cách từ tốn như đang nghiền ngẫm từng chữ. "Hung thủ của vụ này chắc chắn cũng là một kẻ am hiểu về kiến trúc và mật thất, hắn ắt hẳn đã nghiên cứu kĩ càng căn dinh thự ở trang viên Boun, biết rõ căn phòng đó có mật thất, và chí ít hắn cũng là người thân thiết với bà ta để biết chắc rằng bà ta sẽ hành động như vậy nếu cảm nhận tính mạng mình đang bị đe dọa".

“Dinh thự của Klatinrofto chỉ cách đây có hai con phố”. Downson vừa nói vừa kiểm tra đồng hồ. “Khoảng 12 giờ là hết ca trực của tôi, lúc đó chúng ta đi”.

Dinh thự của Oona Klatinrofto nằm ở khu phố thượng lưu của thủ đô. Đó là một tòa nhà đồ sộ bằng đá cẩm thạch trắng với những cột trụ cao vút kiểu Hi Lạp cổ đại. Khu vườn trước nhà được chăm sóc tỉ mỉ với những hàng rào được cắt tỉa thành những hình thù kì quặc, những bồn hoa rực rỡ sắc màu và một đài phun nước lớn ở trung tâm, nơi một bức tượng nữ thần đang cầm chiếc bình đổ nước xuống một hồ nhỏ. Những bức tượng đá cẩm thạch trắng đặt rải rác khắp khu vườn có khuôn mặt lạnh lùng và vô cảm.

Cánh cửa chính bằng gỗ sồi được chạm trổ công phu. Khi Downson kéo chuông, một người quản gia già xuất hiện sau vài giây. Ông ta ăn mặc chỉnh tề, mái tóc bạc trắng được chải gọn gàng, phong thái của ông ta toát lên vẻ chuyên nghiệp và tận tụy.

"Chào ông, tôi là trung sĩ Kimley Downson của Sở Cảnh sát Thủ đô, đây là cộng sự của tôi”. Downson bước lên điềm tĩnh giới thiệu. “Chúng tôi đến điều tra một vài vấn đề trong vụ án của bà chủ ông, ông có thể cho chúng tôi một ít thời gian không?”.

Người quản gia gật đầu, vẻ mặt thoáng qua một nỗi buồn.

"Mời cô và ngài Trung sĩ vào nhà. Tôi sẵn lòng giúp đỡ hết sức trong khả năng của mình”.

Ông ta dẫn họ đi dọc hành lang từ cửa vào phòng khách. Hành lang được lát đá cẩm thạch đen bóng loáng, phản chiếu ánh sáng từ những chiếc đèn chùm pha lê treo trên trần. Những bức tường được ốp gỗ tối màu, trên đó treo những bức chân dung sơn dầu của những người mà Sephira đoán là tổ tiên của Oona. Tất cả họ đều có chung một vẻ kiêu hãnh và lạnh lùng, như thể họ là những vị thần đang nhìn xuống những kẻ phàm trần.

Phòng khách được bài trí theo phong cách cổ điển nhưng có phần cứng nhắc và thiếu sức sống. Một bộ sofa bọc nhung đỏ thẫm đặt ở trung tâm, xung quanh là những chiếc bàn nhỏ bằng gỗ mun với các chân bàn được chạm hình thú. Đối diện sofa là một lò sưởi lớn cũng bằng đá cẩm thạch, phía trên có treo một bức chân dung lớn của chính Oona đã được phủ vải voan màu đen. Nhìn qua bức tranh có thể đoán được đó là ảnh vẽ khi bà ta còn trẻ. Trên bức tranh, bà ta đang mặc bộ váy dạ hội lộng lẫy và tay ôm một cuốn sách, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước với vẻ tự tin và kiêu hãnh. Mọi thứ trong phòng đều ngăn nắp và đối xứng một cách hoàn hảo.

Người quản gia mời họ ngồi xuống sofa sau đó lệnh cho vài người hầu đến bày trà bánh. Có thể thấy dù chủ nhân của nơi này đã không còn nữa thì mọi sự trong dinh thự vẫn được người quản gia quản lí đâu ra đấy, không có bất cứ dấu hiệu nào cho thấy sự tắc trách trong quá trình đón khách.

Người quản gia ngồi ở vị trí đối diện Downson và Sephira như để đợi câu hỏi từ viên cảnh sát.

Downson mở đầu bằng những lời chia buồn về sự ra đi của Klatinrofto. Trong lúc đó, Sephira cố tỏ ra tự nhiên khi lần đầu đến một nơi sang trọng thế này. Cô cầm muỗng lên để khuấy tách trà mà cũng tự thấy mình lúng túng và vụng về.

Tuy vậy, ngay khi cô bắt đầu quen với không khí và cung cách ở nơi này thì lại nhận ra hoa văn được in dập ở phía sau cán chiếc muỗng mình đang cầm quen thuộc đến lạ kì.

Sephira nhìn kĩ hơn và trong một thoáng điểm lại những kí ức của mình, cô nhận ra ngay rằng hình bông hồng này giống hệt với hình bông hồng được chạm khắc trên chiếc đồng hồ quả quýt của Lesis.

Bàn tay cô run lên. Cô không để ý đến cuộc trò chuyện giữa Downson và ông quản gia mà lên tiếng cắt ngang trong sự sửng sốt: "Hình bông hồng này,” cô cố gắng nói một cách bình tĩnh, "nó có ý nghĩa gì vậy, thưa ông?".

Người quản gia bị ngắt lời nhưng lại không hề tỏ ra khó chịu. Ông ta nhìn theo hướng mắt của cô rồi gật đầu đáp: "À, đó là gia huy của gia đình bên mẹ của bà Klatinrofto, nhưng họ đã thay đổi gia huy từ nhiều năm trước rồi, hình bông hồng đó đã không còn được sử dụng nữa. Bộ tách trà này nằm trong số của hồi môn mà bà ấy mang theo từ nhà mẹ từ cả chục năm trước”.

Downson nhìn qua Sephira bằng ánh mắt như đang hỏi “Có chuyện gì với cái bông hồng đó?”. Sephira thì ghì chặt cái muỗng trong tay, cơ hàm phải kiềm lại để không làm ra một hành động vô giáo dục là bật cười trước một người hầu việc tận tụy vừa mới mất đi chủ nhân của mình.

Ông quản gia nhìn biểu hiện kì lạ của hai người thì không nhịn được mà hỏi: “Có chuyện gì với cái gia huy đó sao thưa hai vị?”.

Downson cười ngại ngần nhìn ông ta, chân thì thúc nhẹ vào bắp đùi người đang chăm chú vào cái muỗng bạc mà không để ý đến ai.

Sephira ngẩng đầu nhìn ông ta, lắc đầu: “Không có gì đâu”. Nhưng ngay sau đó cô lại phản bội lời nói của mình mà hỏi tiếp: “Nhưng mà ông chắc chắn đây là gia huy của nhà mẹ của bà Klatinrofto chứ?”.

“Tôi chắc chắn mà”. Ông quản gia vừa nói vừa gật đầu chắc nịch. “Tôi là người đã đi theo bà ấy từ lúc bà còn con gái, tôi quản lí toàn bộ đồ đạc và công việc của bà ấy. Chắc chắn tôi nhận ra ngay bất cứ đồ gì thuộc về phu nhân”.

Câu khẳng định đấy là thứ mà Sephira cần. Cô không nén lại được mà hỏi ngay: “Thế trong những món đồ hồi môn của bà chủ ông, ông có biết có một cái đồng hồ quả quýt bằng vàng, ở trên đó có in hình gia huy là cái bông hồng này không?”.

Vừa nghe Sephira tả như thế, ông quản gia lại có vẻ ngần ngừ. Đoạn, ông ta đứng lên rồi nói: “Tôi có sổ ghi chép kĩ lưỡng những món đồ cá nhân của phu nhân, để tôi đi lấy và dò lại ngay”.

Ông quản gia vừa khuất dạng sau cánh cửa thì Downson quay sang cô hỏi ngay: “Vụ cái đồng hồ quả quýt của Lesis à?”.

“Đúng thế”. Sephira vẫn còn mất hồn vào cái muỗng bạc. “Trời cũng giúp ta, anh Downson à. Ai mà ngờ được ta mở đường từ một lối khác thì lại trở về con đường cũ nhưng ở vị trí xa hơn chứ?”.

Ông quản gia trở lại với một chồng sổ dày và cuốn nào cũng to như một cuốn Bách khoa Toàn thư.

Cả Downson và Sephira đều hợp lực giúp ông ta tra cứu.

Phải nói rằng bà Klatinrofto quá cố có một người quản gia hết sức được việc. Ông ta có tính tỉ mỉ và cẩn thận đến mức khiến người ta rợn da gà. Từng món đồ được đưa vào hay đưa ra khỏi dinh thự này đều được ông ta ghi chép cẩn thận đến cả ngày tháng.

“Đây rồi”. Ông quản gia reo lên. “Bà chủ tôi không ưa xài đồng hồ lắm nên nhiều năm qua chỉ có đúng bốn chiếc. Trong đó một chiếc thì tặng cho cô cháu gái bên chồng, một chiếc đã bị hư hỏng, một chiếc tặng cho bà Hiệu trưởng trường Trung học, và chiếc cuối cùng thì bà đã tặng cho một nữ sinh mình gặp khi đi công tác từ hai mươi sáu năm trước”.

Sephira và Downson chau đầu vào nhìn những đoạn ghi chép của ông ta từ hai cuốn sổ khác nhau, trong đó một cuốn thì cũ hơn nhiều và giấy đã sờn đến gần rách nát.

“Người nào cũng có vẻ đáng nghi nhỉ?”. Sephira đọc qua rồi nói. “Thế này thì chẳng lẽ ta phải đi xác minh hai người kia xem họ còn giữ cái đồng hồ không à, và ta còn phải bới thùng rác để tìm xem có đúng là nó bị vứt đi?”. Cô nói với giọng mỉa mai. “Cứ tưởng là tìm được đường đi, hóa ra lại đi xuống vũng lầy rồi”.

Nét mặt ông quản gia như đang nghĩ ngợi gì đó, rồi sau đấy lại nói: “Lần cuối bà chủ tôi gặp cháu gái là trong tiệc sinh nhật của một người họ hàng hai tháng trước, đến lúc đó thì cô cháu gái vẫn còn nâng niu cái đồng hồ bà ấy tặng lắm. Còn bà Hiệu trưởng thì tôi mới gặp ngay hôm qua thôi, bà ấy đến biệt thự để chia buồn và tôi thấy rõ bà ấy vẫn còn sử dụng chiếc đồng hồ. Còn cái đồng hồ bị hỏng,” ông quản gia làm đưa tay lên mặt chỉnh lại mắt kính, “bà chủ đã giao cho tôi xử lí đồ bị hỏng thì tôi bảo đảm mình đã xử lí nó tới nơi tới chốn”.

“Vậy ta nên chú ý đến trường hợp cuối cùng rồi”. Sephira nói nhỏ đủ chỉ cho Downson nghe.

“Ông quản gia, bà ấy đi công tác ở đâu thế?”. Downson hỏi người quản gia đứng sát bên cạnh.

“Thuở đó bà chủ tôi còn ưa đi hành hương ở các Tòa Thánh, bà còn đăng kí những buổi tu học ở đó và thường ở lại. Tôi nhớ bà thường đi ở hai nơi là huyện Gille và Jean-sé, một chỗ là quê mẹ của bà…”.

“Chỗ còn lại là nơi có Tòa Thánh lớn nhất cả nước”. Sephira nói tiếp vào.

Vị quản gia gật đầu: “Đúng thế, bà chủ tôi đã quyên góp nhiều tiền cho nơi đó, nhiều đứa trẻ được Tòa Thánh cưu mang sau này cũng được bà chủ tôi nhận vào trường học, nhiều nữ tu ở đó còn từng là học trò của bà tại trường, có người còn là đồng môn của bà nữa”.

“Xem ra bà chủ anh có quan hệ rất rộng nhỉ?”. Sephira cảm thán. “Chắc bà ấy cũng có khả năng quen biết những người kia phải không?”.

“Ý cô là?”. Vị quản gia nghiêng đầu, tỏ ra không hiểu.

Sephira cười một cách thản nhiên: “À, như là ông Dinamil ấy. Cũng là một người có lòng nhân hậu nhỉ? Tôi nghĩ hai người sẽ mến nhau lắm. Theo điều tra của chúng tôi, khi một trong số những người ở trên đảo bị tai nạn, ông ấy là người đã cố gắng sửa chữa hệ thống liên lạc để gọi cứu hộ, vì thế mà lại bị điện giật nên thiệt mạng”.

Vị quản gia nghe Sephira nói thế thì lại nhếch mép cười một cách mỉa mai, ông ta không giấu đi sự khó chịu của mình lúc trả lời: “Thế thì cô nhầm rồi cô cảnh sát à. Bà chủ tôi nhìn người rất chuẩn và bà từng nhận xét rằng Dinamil là một gã phách lối, thích thể hiện dù trước đó bà không tiếp xúc gần với lão. Mà những tin đồn xoay quanh lão, nếu cô có biết, đã chứng thực cho những nhận xét của bà chủ tôi. Có lẽ đúng như cô nói, khi có người gặp nạn, ông ta đã cố gắng liên hệ cứu hộ, nhưng tôi biết chắc ông ta làm thế không phải vì thật tâm muốn cứu người đâu mà chỉ vì muốn thể hiện bản thân và trở thành anh hùng thôi. Nhiều người bị cái vẻ hào nhoáng ấy của ông ta đánh lừa lắm”.

Sephira và Downson nhìn nhau đầy ẩn ý khi nghe ông quản gia nói thế. Cô không phản bác ông ấy mà chỉ “ồ” một tiếng để tỏ ra bất ngờ trước thông tin này.

Cuộc nói chuyện với ông quản gia đã cho hai người nhiều thông tin quý báu. Hai người rời khỏi dinh thự của Klatinrofto trong niềm hân hoan không thể giấu nổi. Vừa bước ra phố là Sephira đã bắt đầu ngâm nga trong cổ họng.

Thấy cô như thế, Downson không kiềm được mà nhắc nhở: “Cô đừng vui vẻ quá sớm, có khi lại là một manh mối cụt”.

Sephira hất mặt nhìn anh ta: “Có cụt hay không thì phải tra mới biết. Anh về Sở và nhờ người điều tra lại đi nhé. Năm người có thể không có điểm chung, nhưng Klatinrofto và Lesis thì biết đâu được”.

Downson gật đầu, vẻ mặt đầy suy tư. "Vậy là khả năng rất cao là hai người đó có quen biết nhau, nhưng tại sao họ lại không nhận ra nhau trên đảo?".

"Có thể họ đã nhận ra," Sephira nói, “hoặc có thể họ không nhận ra, nhưng ra sao đi nữa, giờ thì chúng ta đã có một manh mối nối hai người họ với nhau rồi, đây là bước tiến vượt bậc đấy. Mấy hôm nay ta chỉ tìm được những chứng cứ riêng lẻ, giờ đã có một mối liên hệ giữa họ, là bước tiến vượt bậc,” cô không nhịn được mà bật cười, “là bước tiến vượt bậc”.

Họ chia tay nhau ở ngã tư trước khi rẽ vào Sở Cảnh sát. Downson sẽ vào đó để báo cáo phát hiện mới và xin quyền điều tra khu vực kia, còn Sephira thì đi kiếm món gì dằn bụng, từ sáng đến giờ cô chỉ làm no mình bằng những phát hiện đáng kinh ngạc thôi.

Cảnh sát nhanh chóng vào cuộc và chỉ ngay sáng hôm sau họ đã tìm ra một sự thật đáng kinh ngạc. Đúng như Sephira đã nói, năm người thì không có điểm chung, nhưng hai người thì có. Hồ sơ cũ của Tòa Thánh tại Jean-sé cho thấy Oona Klatinrofto và Lesis đều từng theo học ở đó cùng một thời điểm vào khoảng hai mươi lăm năm trước. Việc tiếp cận những tài liệu này thoạt đầu tốn nhiều thời gian do phải “đối đầu” với người Chưởng quản, nhưng sau khi tiếp cận được thì không gì là không tra ra được.

Sau khi đào sâu hơn, Sở Cảnh sát lại phát hiện ra rằng Dinamil cũng từng học ở đó nhưng dưới một cái tên khác và thân phận khác. Ông ta là cô nhi được Tòa Thánh nhận nuôi và sau khi rời khỏi đó, cha mẹ nuôi đã đổi cả họ lẫn tên của ông ta. Đến lúc thành niên, ông ta lại thường trở về đây làm thiện nguyện.

Và đúng như Sephira đã nói trước đó, trời không phụ lòng người. Sở Cảnh sát sau khi phát hiện nhiều manh mối tập trung tại một điểm đã quyết định lật tung cả kho lưu trữ của Tòa Thánh, bao gồm cả những người lãnh đạo và những thầy tu. Ấy là lúc họ thấy tên của Fiodor Wellowe nằm trong một danh sách niêm phong gồm những người phạm trọng tội bị khai trừ khỏi Đạo. Thời điểm ông ta bị khai trừ là bốn năm trước khi Klatinrofto và Lesis đến học. Tuy nhiên ngay trước khi hai người này kết thúc khóa học, Wellowe đã trở lại xin học Đạo từ đầu.

"Vậy là bốn trên năm nạn nhân đều có cùng quá khứ tại một Tòa Thánh”. Sephira vừa đọc qua bản ghi chép mà Downson đưa đến vừa nói, cố gắng sắp xếp mọi thứ trong đầu. "Và Josephine Savadov bây giờ là người bí ẩn nhất. Cô ta là người duy nhất không có mặt ở đó”. Cô nhìn Downson rồi hỏi: “Các anh có điều tra thân thế cô ta chưa?”.

“Tôi cứ lo cô không hỏi”. Downson lấy ra một bộ hồ sơ. “Chúng tôi điều tra thân thế cô ta trước hết đấy, nhưng chẳng có gì đặc biệt nên họ không bàn tán và tôi thì chẳng biết. Nhưng sau khi tra cứu được tường tận bốn người kia, tôi lại thấy cái sự không đặc biệt của cô ta đáng nghi vô cùng”.

“Rốt cuộc là sao hử?”. Sephira nôn nóng.

“Josephine Savadov được đưa vào bệnh viện tâm thần ba năm trước trong tình trạng mất trí nhớ và phát dại sau khi được cứu khỏi một vụ tai nạn tàu thủy. Gia đình của cô ta được xác nhận là đã chết mất xác trong vụ tai nạn đó, còn cô ta được thừa kế một khoản tiền bảo hiểm từ cha mẹ”.

"Thế thôi à?”. Sephira ngơ người. 

“Này, cô không thấy lạ sao?”. Biểu hiện của Sephira không như kì vọng nên Downson có vẻ hụt hứng. “Cô ta cứ như một người vừa được sinh ra từ ba năm trước trên hồ sơ vậy. Trước đó chỉ có thông tin sơ bộ là cô ta ở quê, chỉ có tên họ và địa chỉ làng cũ của cô ta, không có nổi một tấm hình hay giấy hộ tịch nơi cô ta đang sống gì sất. Tôi đã đọc hồ sơ của cô ta, toàn bộ hai mươi mấy năm cuộc đời của cô ta chỉ được bộ phận lưu trữ nhân khẩu học tóm tắt đúng một câu: Công dân không có giấy hộ tịch, làm giấy lần đầu tiên”.

Sephira nghe xong thì sững sờ. Cô lặp lại: "Công dân không có giấy hộ tịch, làm giấy lần đầu tiên? Như vậy là trước ba năm trước, cô ta không hề tồn tại trên giấy tờ?".

Downson gật đầu: "Đúng vậy, giống như một hồn ma bỗng dưng có xác. Cảnh sát đã kiểm tra với bệnh viện tâm thần, họ nói cô ta được chuyển đến từ một trại tế bần sau vụ tai nạn, không có người thân nào đến nhận. Toàn bộ hồ sơ chỉ có một tờ khai sinh được cấp lại dựa trên họ tên thêu trên chiếc khăn tay trong túi cái áo mặc trên người khi họ cứu cô ta, nên nhân viên mặc định đó là tên của cô ta”.

Sephira nhíu mày, ngón tay gõ nhịp lên mặt bàn. "Vậy là ngay cả cái tên cũng có thể không phải của cô ta. Một kẻ không quá khứ, không lai lịch, lại là người duy nhất sống sót sau một vụ tai nạn, không ai có thể chứng thực cho thân phận của cô ta hết, thậm chí ta có đủ cơ sở để nghi ngờ chẳng rõ cô ta có thật sự là Josephine Savadov không đấy, dù sao thứ duy nhất liên kết tên của cô ta với cái thân xác đó cũng chỉ là một cái khăn thêu”.

Downson chêm vào thêm: "Nhưng vấn đề là Thanh tra Bell không nghĩ vậy. Ông ta cho rằng cô gái này chỉ là một kẻ xui xẻo vô tình bị cuốn vào vụ này. Ông ta muốn tập trung điều tra bốn người kia, đặc biệt là mối liên hệ của họ với Tòa Thánh Jean-sé. Ông ta tin rằng họ thuộc về một hội kín nào đó, có thể đã cùng nhau thực hiện một nghi thức tà giáo, rồi sau đó mâu thuẫn và giết lẫn nhau. Còn Savadov chỉ là nhân chứng bất đắc dĩ, bị chúng ra quyết định giết chết để bịt miệng”.

Sephira im lặng một lúc, tuy nhiên cô không bất ngờ với cách tư duy này của lão Bell. Nó nhất quán với con người ông ta mà cô biết. Hơn hết là nó hợp lý, rất hợp lý với những bằng chứng hiện tại. Nhưng vẫn có một điều gì đó cứ gai góc trong tâm trí cô, như một mảnh ghép không chịu khớp vào bức tranh. Vậy mà cô chỉ đáp lại một câu gọn lỏn: “Tôi hiểu mà, nếu là ông ta thì phải làm thế rồi”.

Vừa nói dứt lời thì cô lại nhớ đến một người - Thanh tra Redmon. So với Bell thì cô cảm thấy vị này có vẻ sẽ nghĩ mọi thứ theo hướng biện chứng hơn.

“Còn người đồng sự của lão Bell thì sao? Thanh tra Redmon ấy?”. Cô hỏi tiếp.

Downson nhún vai: “À, ông ấy được chuyển qua bên khác rồi, có một vụ gay go ở nơi khác cần ông ấy chỉ huy”.

Sephira gật đầu trong sự thất vọng, tuy nhiên trong đầu cô lại thầm quyết tâm một việc khác. 

Cô đứng dậy, cầm lấy túi xách. "Thôi, tôi về đây. Cảm ơn anh vì những thông tin này, Downson. Nếu có gì mới thì nhớ báo cho tôi một tiếng với”.

Downson nhìn cô, ánh mắt thấu hiểu như thể đọc được suy nghĩ của cô. Anh ta không ngăn cản ra mặt mà lại chỉ nói: "Cô phóng viên, đừng có làm gì xốc nổi đấy. Bell mà biết cô tự ý điều tra thì tôi không cứu nổi cô đâu”.

Sephira cười nhạt. "Anh yên tâm. Tôi chỉ là một phóng viên cảnh quan mà thôi. Làm gì được chứ?”.

Cô quay lưng bước đi. Được vài bước, giọng Downson lại vang lên từ phía sau. “À này, còn vụ này nữa, tôi quên béng mất”.

Sephira quay người lại. Downson đứng dậy đưa cho cô một mảnh giấy có vài chữ ghi tay: “Về cô gái trong bức ảnh trong đồng hồ của Lesis, đó là con gái của ông ta”.

Sephira nhướng mày cầm lấy mảnh giấy, trên đó là một dòng ghi vội, nét chữ nguệch ngoạc: “Bị sát hại. 13 vết dao. Jean-sé”.

“Con bé mất lúc mười sáu tuổi, không tìm thấy hung thủ”. Downson nói với thái độ hơi buồn bã. “Vụ này rúng động cả vùng đấy, nhưng ngặt nổi địa điểm tìm thấy con bé lại là khu rừng phía sau Tòa Thánh. Cảnh sát mù tịt các manh mối nên dân chúng bắt đầu nghi ngờ những thầy tu trong đó. Đã từng có vài lời đồn là Thánh Hội tổ chức mấy cái buổi thi triển tà thuật gì đó mà, nên dân chúng cho là con bé là nạn nhân của bên đó. Sau đó Thánh Hội phải dìm vụ này xuống, Cảnh sát kết luận là con bé đi lạc rồi bị thú rừng tấn công”.

Sephira nhìn tờ giấy, cười nhẹ: “Như vậy rõ ràng là Tòa Thánh Jean-sé có liên quan đến vụ việc này rồi, cảnh sát tập trung vào đó cũng phải”.

“Cô phát hiện được gì nữa rồi à?”. Downson thắc mắc. “Hôm ở đảo tôi thấy cô để ý cái đồng hồ lắm nên mới xem xét nó, tôi phải lén lút xem những hồ sơ từ Jean-sé được chuyển đến để tìm thông tin về lão già đó đấy”.

Sephira cười nhìn anh ta, cô nhớ lại lời mà cô thư kí kia đã nói.

Đúng là về mặt truyền tin, Downson là một người rất cừ.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px