Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Nhờ công sức tìm thấy Oona Klatinrofto, dù rằng bà quý tộc tội nghiệp đã chết vì khát và ngộp khí trong mật thất, lão Thanh tra Bell đã cho phép Sephira được ngồi cùng thuyền trở về đất liền và lắng nghe những thông tin mới nhất mà phía cảnh sát đã điều tra được trong ngày qua. Tất nhiên là lúc này thân phận phóng viên điều tra của cô không thể che giấu được. Tuy nhiên, thay vì nổi xung thiên như Sephira dự đoán, lão ta lại có vẻ tự tấm tắc vì “Linh cảm ban đầu của tôi đúng quá mà”.

Nhờ việc này, Sephira đã nghe ngóng được tin tức mà cô đã tò mò từ khuya hôm qua đến nay - thông tin về chủ sở hữu của hòn đảo và trang viên. Theo phía cảnh sát, hòn đảo là tài sản truyền thừa của một gia đình Đại Công tước, nhưng khoảng mười năm trước, nó đã được hiến cho Hoàng gia và do đó trở thành tài sản công cộng được quản lí dưới danh nghĩa một công ti tư nhân chuyên kinh doanh dịch vụ du lịch. Trước khi vụ án xảy ra chừng nửa năm, bên phía công ti nhận được một lá thư từ một vị khách hàng mà tên của anh/cô ta hiển nhiên không được tìm thấy trên bất cứ hệ thống lưu trữ nào của quốc gia. Trong lá thư, vị khách hàng này yêu cầu thuê hòn đảo trong hai ngày, không yêu cầu dịch vụ hầu phòng và vì họ dự định tổ chức một buổi tiệc riêng tư nên họ lệnh cho phía công ti không cần để lại thuyền trên đảo và chỉ trở lại để đón khách vào sáng ngày thứ ba. Trong lá thư có kèm theo tiền mặt và chỉ dẫn chi tiết về cách bày trí phòng ốc và sắp xếp nơi ở cho từng vị khách. Nhờ những thông tin này, bước đầu có thể kết luận hung thủ của vụ án mạng chính là vị khách hàng nặc danh kia.

Đó là về chuyện kì lạ về vụ thuê mướn hòn đảo và trang viên, câu hỏi của Sephira đã tự động được giải đáp, nhưng chuyện quái đản mà đồng thời là manh mối quan trọng lại nằm ở lí do những nạn nhân trong vụ này lên đảo. Cảnh sát đã phỏng vấn ông quản gia của bà Klatinrofto, cậu sinh viên hiện là trợ lí tạm thời của Dinamil, một cậu sinh viên khác đang theo học khoa Tôn giáo đang được Wellowe hướng dẫn luận văn và bà hàng xóm đối diện nhà của Savadov. Theo tất cả những người này, chủ nhân, hay người quen của họ, đều nhận được lá thư có nội dung “mời gọi” họ đến Boun với những lí do khác nhau, mà lí do đó là gì thì Sephira đã biết tỏng, ngoại trừ Wellowe là chuyến đi truyền đạo mà cô vừa mới biết trước khi cuộc trò chuyện bắt đầu, nhưng ta đã biết rõ rằng trên đảo Boun không có cộng đồng nào cần “khai minh” cả. Và đương nhiên, lá thư “mời” Klatinrofto đến thị sát đất đến từ một người bạn cũ của bà ta, người mà sau khi cảnh sát thẩm vấn đã khăng khăng mình còn chưa đến Boun lần nào thì làm sao biết được nơi đây có mảnh đất tiềm năng để gọi bà ta đến xem; hay lá thư thông báo trúng thưởng từ tổ chức cuộc thi phát minh mà Dinamil từng là thành viên Ban Giám khảo cũng đã được xác nhận là giả và tổ chức chỉ tri ân người đóng góp bằng tiền mặt thôi, còn lá thư mà Josephine nhận được cũng được xác minh là chẳng phải do Viện Tâm thần gửi đến.

Còn với Lesis thì người ta không tìm thấy thân thích hay người quen biết nào của hắn trừ ông chủ một quán nhậu cho hắn ngủ tạm ở chuồng ngựa đã mấy tháng nay, ông ta không để ý gì đến đời sống riêng tư của hắn, nên không biết được từ đâu mà hắn có lá thư giới thiệu kia. Tuy nhiên, dựa theo sự mơ hồ từ những lá thư của các nạn nhân khác, ta có thể hình dung nguồn gốc bức thư trong tay của Lesis cũng mờ ám và chắc chẳng thể truy vết được.

Bên cạnh đó, các lá thư lại được soạn thảo bằng máy đánh chữ, vì thế không xác định được bút tích để so sánh. Điều này khiến công tác điều tra càng khó khăn. Tuy nhiên, Sephira lại nghe được một điều quan trọng khác, ấy là ở góc trái bên dưới mỗi tờ thư có vệt mực đọng với dấu vết giống hệt nhau. Theo Thanh tra Redmon, từ manh mối này có thể suy đoán các lá thư được đặt tại cùng một điểm có vết mực từ trước và do một người soạn rồi gửi đi. Mà những lá thư kia lại được gửi đi từ công ti bưu chính tư nhân chứ không phải bưu cục quốc gia, điều này khiến việc truy dấu người gửi càng khó hơn vì những công ti này có chính sách bảo vệ quyền riêng tư cho khách hàng nghiêm ngặt, thậm chí ta còn không nắm được thời gian các bức thư này được gửi đi. Tuy nhiên, có một điều đáng lưu ý rằng loại giấy thư kia là thứ giấy đã được dừng chế tạo từ ba năm trước, do đó có thể phỏng đoán những lá thư ấy đã được soạn thảo từ vài năm trước và chỉ mới được gửi đi gần đây.

Cũng từ điều này, Thanh tra Redmon đã kết luận các nạn nhân của vụ án này đều bị lừa lên đảo và giết hại trong một kế hoạch được sắp xếp kì công nhiều năm, không có tai nạn hay sự trùng hợp ngẫu nhiên nào ở đây cả.

“Đây là một vụ án mạng có tổ chức và kẻ lên kế hoạch tất cả chuyện này hẳn là một tên vừa thông minh xảo quyệt lại vừa thừa mứa tiền bạc”. Một viên Thanh tra khác, người mà theo lời Downson là đồng cấp và sẽ chỉ huy vụ này cùng với lão Bell, nói như đinh đóng cột sau khi kể ra các thông tin trên.

Cách nói năng của ông Thanh tra này có đôi phần giống với lão Bell, tuy nhiên lại không khiến người ta khó chịu như ông béo kia. Sephira lập tức cảm thấy có thiện cảm với ông ta. Đó là một người đàn ông trung niên có mái tóc hoa râm được chải gọn gàng, đôi mắt sắc sảo nhưng không lạnh lùng, và cách ông ta đặt câu hỏi cho thấy ông có một bộ óc logic và có phương pháp. Ông ta tự giới thiệu mình là Thanh tra Redmon, được Sở Cảnh sát cử đến để hỗ trợ Bell sau khi vụ án có thêm tình tiết mới.

Suốt hành trình trở về đất liền, Sephira ngồi im lặng ở một góc, mặc cho Bell và Redmon tranh luận về các giả thuyết. Downson thỉnh thoảng lại liếc qua cô nhưng không nói gì. Cô biết anh ta đang chờ đợi điều gì đó từ cô, nhưng lúc này đầu óc cô đang quay cuồng với quá nhiều thông tin mới. Cô nhắm mắt lại để tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền ru mình vào một giấc ngủ chập chờn.

Khi đoàn cảnh sát cập bến thì trời đã về chiều. Sephira nhận ra ngay sự thay đổi trong không khí ở cảng. Có một đám đông nhỏ đang tụ tập ở phía xa và khi cô tiến lại gần, cô thấy họ đang đặt những bó hoa tươi dưới một tấm bảng lớn có treo chân dung của Oona Klatinrofto. Trên tấm bảng, ai đó đã viết bằng nét chữ nắn nót: "Tưởng nhớ Quý bà Oona Klatinrofto, một trái tim nhân hậu đã ra đi”.

Sephira đứng lặng người. Vậy là tin tức đã lan ra.

Cô không biết làm thế nào mà công chúng biết được nhưng rõ ràng cái chết của bà quý tộc đã trở thành một chủ đề nóng. Cô nhìn thấy vài gương mặt quen thuộc trong đám đông - những phóng viên của các tờ báo đối thủ, những người mà cô từng vài lần chạm mặt khi săn tin trước đây, đang hối hả ghi chép và phỏng vấn người qua đường, một vài trong số đó thì đưa máy ảnh chụp đoàn cảnh sát vừa đặt chân lên đất liền.

"Cô nên về nhà nghỉ ngơi đi”. Downson xuất hiện bên cạnh cô, giọng nói trầm thấp. "Ngày mai sẽ còn nhiều việc phải làm”.

Nhưng lúc này Sephira không thể nghỉ ngơi. Cô biết rằng nếu những tờ báo khác đã có tin thì cô đang bị bỏ lại phía sau. Cô phải hành động ngay.

Cô tạm biệt Downson và bắt một chiếc xe ngựa, ra lệnh cho người đánh xe phóng thẳng đến tòa soạn.

Khi chiếc xe dừng lại trước cửa tòa soạn, Sephira đã chuẩn bị sẵn một bài diễn thuyết trong đầu để thuyết phục ngài Giredald cho cô đăng bài ngay lập tức. Cô lao ra khỏi xe nhưng chưa kịp bước vào cửa thì một giọng nói quen thuộc vang lên từ phía sau.

"Đi đâu mà vội thế, cô phóng viên?".

Sephira giật mình quay lại.

Đó là cô thư kí, người đã đưa cho cô lá thư của Giredald ngày hôm đó ở tiệm bánh. Hôm nay cô ta ăn mặc chỉnh tề hơn nhưng đôi mắt vẫn lờ đờ và giọng nói the thé thì không lẫn vào đâu được. Cô ta đang đứng dựa vào bức tường ở lối đi trước cổng tòa soạn, tay cầm một điếu thuốc đang cháy dở.

"Tôi đang định vào gặp ngài Giredald," Sephira trả lời, cố giữ giọng bình tĩnh dù cô chẳng hiểu vì sao mình có vẻ bồn chồn khi nhìn thấy người này, “có chuyện gì sao?".

Cô thư kí rít một hơi thuốc dài rồi thở ra làn khói mỏng. "’Ngài ấy’ không có ở đây, nhưng ‘ngài ấy’ có nhắn tôi chuyển lời cho cô”. Cô ta ngừng một lát, đôi mắt lướt qua khuôn mặt Sephira như đang đánh giá. "Cô đã làm tốt hơn những gì chúng tôi mong đợi. Còn bây giờ có lẽ đã đến lúc cô biết được sự thật”.

Sephira cảm thấy tim mình đập nhanh hơn: "Sự thật gì?".

"Không phải ở đây”. Cô thư kí thả điếu thuốc xuống đất rồi dùng mũi giày di lên, sau đó ra hiệu cho Sephira đi theo mình. "Đi với tôi. Có một nơi chúng ta có thể nói chuyện riêng tư hơn”.

Họ đi bộ qua vài con phố rồi rẽ vào một con hẻm nhỏ. Cuối con hẻm là một quán cà phê cũ kĩ khuất sau những tán cây rậm rạp. Bên trong quán vắng tanh, chỉ có một ông chú già đang lau chùi những chiếc tách sau quầy. Cô thư kí chọn một góc khuất, ra hiệu cho Sephira ngồi xuống rồi giơ tay ra hiệu gọi hai tách trà.

"Trước hết, tôi phải xin lỗi cô," cô ta mở lời, giọng nói bỗng trở nên nghiêm túc hơn hẳn, “tôi đã không hoàn toàn thành thật với cô trong lần gặp đầu tiên."

Sephira nhíu mày: "Ý cô là sao?".

"Tôi không phải là thư kí của ngài Giredald. Nhin thái độ của cô trong lần gặp ở tiệm bánh, tôi biết là cô cũng ngờ vực về thân phận của tôi”.

Sephira im lặng, chỉ nghiêng đầu và mím môi nhẹ như một cử chỉ thừa nhận.

"Tôi làm việc cho một tổ chức. Công việc của chúng tôi là điều tra những sự việc bí ẩn, như vụ trên đảo Boun mà cô đang theo, thu thập các tình tiết, viết thành báo cáo để hệ thống chúng trên một bộ lưu trữ”. Cô ta vừa nói xong thì người phục vụ bưng ra hai tách trà trên cái khay nhỏ. Trong lúc anh ta loay hoay vắt chanh và xếp dĩa, giọng của cô ta nhỏ đi hẳn. “Để làm được điều đó, chúng tôi cần những nhân lực đặc biệt, nhất là những người ở vai trò như cô”.

“Vai trò như tôi?”. Sephira hỏi lại.

“Những người trực tiếp đến hiện trường thu thập thông tin và điều tra”. Anh phục vụ đã đi khỏi, cô ta giờ đã ung dung cầm tách trà lên uống. “Tổ chức của chúng tôi là một bộ máy hoạt động với những bánh răng vô cùng ăn khớp và vừa khít với nhau nhờ những bộ phận với những nhân sự vô cùng có trách nhiệm và chuyên môn trong lĩnh vực của mình. Chúng tôi tin là chúng tôi có những người giỏi nhất trong chuyên môn của họ, ví dụ như Downson”.

“Downson?”.

“Tôi tin là cô đã biết anh ta cùng một ‘giuộc’ với tôi rồi”. Cô ta nở một nụ cười đầy ẩn ý.

Sephira nhớ lại cung cách làm việc của Downson, nhưng cô lại cảm thấy anh ta, cũng như bao viên cảnh sát khác mà cô có thể tưởng tượng ra, chẳng có gì nổi trội. Cô nhớ lại màn suy luận và kết hợp của hai người trên đảo, nhưng cô nhận ra chẳng có gì đáng nhớ hết vì anh ta cũng có những bước suy luận hổng và những chỗ chẳng nhanh nhạy hơn cô là bao.

Như đọc được suy nghĩ của Sephira, cô thư kí cười nhẹ ra tiếng rồi nói: “Chắc cô cảm thấy Downson không phải là một cảnh sát xuất sắc như trong tưởng tượng nhỉ?”.

“Theo biểu hiện của anh ta thì đúng vậy mà”. Sephira hơi nhướng cằm. “Tôi cảm thấy tôi còn có nhiều suy luận tài tình hơn anh ta. Những gì anh ta nói với tôi là những gì anh ta được biết trước chứ đâu phải là nhờ khả năng suy luận hay điều tra thần sầu”.

“Này, này, tôi biết hết những gì Downson đã làm đấy, nên cô đừng phủ nhận công sức của người ta, thế là xấu lắm cô phóng viên ạ. Nhưng cô cũng nói đúng một phần. Về kĩ năng của một cảnh sát, có lẽ anh ta có nhiều khiếm khuyết, nhưng tổ chức của chúng tôi không nhìn anh ta với tư cách một cảnh sát”. Cô ta hít vào một hơi nhẹ rồi khẽ chạm tay vào quai của tách trà trước mặt. “Anh ta là người truyền tin của chúng tôi. Vai trò của anh ta là xem xét và đánh giá các vụ việc xảy ra có đủ tiềm năng để chúng tôi can thiệp vào điều tra và đưa vào hệ thống lưu trữ hay không. Và cô có thể thấy anh ta đang làm rất tốt nhỉ? Vụ ở đảo Boun là một chuỗi bí ẩn đấy, chính cô cũng thấy thế còn gì?”.

Sephira cảm thấy cả người mình lạnh đi sau khi nghe cô ta nói. Vụ này càng lúc càng ngoài tầm tưởng tượng của cô. Một mớ nạn nhân bị giết, hung thủ còn chưa biết là ai, mà giờ cô lại phải nghe thêm chuyện về một tổ chức bí ẩn với công việc đi săn lùng mấy câu chuyện kì quái.

Và Downson, cô nhớ đến đêm qua khi hai người ở trong chòi liên lạc, vậy là anh ta đã lừa cô, vốn anh ta đâu có đánh tin đến tòa soạn của cô, tất cả chỉ là xạo sự, một đám người thông đồng với nhau để lừa cô!

Sephira ngó nghiêng xung quanh, sau đó lại nhìn cô thư kí với ánh mắt nửa đùa nửa thật: “Cô này, chúng ta đang làm một cuộc khảo sát đường phố hay cái gì đó đại loại vậy à? Để xem trong số nhiều người được chọn, ai là người dễ lừa nhất?”.

Lời của Sephira mang hàm ý vừa xúc phạm vừa mỉa mai, nhưng người phụ nữ ngồi đối diện cô vẫn thản nhiên, trông cô ta không hề tức giận.

“Tôi biết chuyện này khó tin, đó là lí do chúng tôi để cô trải nghiệm chúng một phần trước khi nói với cô những thông tin này”. Cô ta ngưng một lúc rồi nói tiếp: “Vụ scandal mà cô đưa tin một năm trước là một trong những vụ mà chúng tôi theo dấu từ lâu, nhưng chúng tôi đã làm mọi cách mà chẳng biết được địa điểm gặp nhau của hai người này. Thế mà cô chỉ cần một đêm thôi là đã khiến mọi thứ tường tận hết, chỉ nhờ vào chuyện cô đi lạc thôi, cô có biết chúng tôi đã bất ngờ như thế nào khi điều tra được như thế không? Lần cuối cùng tổ chức có một thành viên mang năng lực đặc biệt như thế là từ chục năm trước rồi, nên cấp trên của chúng tôi lệnh rằng phải chú ý đến cô sát sao”. Cô ta chép miệng. “Vụ ngoại tình kia chỉ là mắt xích nhỏ trong một đường dây lớn, chúng tôi lời một món to trong vụ đó đấy”.

Sephira đờ người nghe cô ta nói. Trong đầu cô lúc này thì những lời mà cô ta vừa thốt ra chỉ là những lời nhăng cuội. Sephira nghĩ rằng lúc này thì không nên hỏi chuyện người điên nữa.

“Từ vụ đấy thì tổ chức bắt đầu chú ý đến cô. Chúng tôi cứ tưởng sau đó cô sẽ làm thêm vài vụ để chúng tôi chứng thực suy đoán của mình, nhưng xui xẻo là bà quý tộc kia trước khi thất bát đã khiến cô thân bại danh liệt. Sau đó chúng tôi cứ chờ mãi một vụ thích hợp để cho cô cơ hội chứng minh năng lực của mình, nhưng khổ nỗi chuyện nào sau đó cũng toàn mấy vụ ghê gớm, chúng tôi không dám dùng nó để thử người mới như cô. Rồi vụ trên đảo Boun xảy ra,” cô ta cười tươi rói khi nói đến đoạn này, “chúng tôi biết ngay đây là lúc để mời cô mà. Vụ này hay đấy chứ?”.

“Hay con khỉ khô”. Sephira đáp lại. “Rốt cuộc thì mấy người muốn gì ở tôi, nói thẳng ra đi. Tôi còn phải đưa bài báo này đến tòa soạn”. Cô đã bắt đầu mất kiên nhẫn.

Cô thư kí nhìn vào túi hành lí mà cô giữ khư khư trên đùi nãy giờ, cười nhẹ: “Quán này là địa bàn của chúng tôi, cô không thể cầm cái túi đó từ đây ra để đưa qua tòa soạn được đâu. Mà cô cũng không có khả năng bước vào tòa soạn được, làm gì có ai cho cô viết bài mà cô có bài để đăng, cô bị cấm bút mà”.

Sephira im lặng một lúc lâu. Cô cảm thấy như cả thế giới của mình vừa bị đảo lộn. Tất cả những gì cô tin tưởng về bản thân, về những thành công và thất bại của mình, bỗng chốc trở nên mơ hồ. Cô không biết nên cảm thấy tự hào vì mình có một năng lực đặc biệt hay nên cảm thấy bị lừa dối vì đã bị thao túng như một con rối. Mà năng lực đặc biệt của cô là gì mới được? Nếu buộc phải nghĩ, cô chỉ có thể nói rằng đó là việc bị dồn vào đường cùng và phải làm tất cả để sinh tồn. Cô chỉ muốn quay lại ngành báo chí.

“Nên chúng tôi đề nghị một mối hợp tác thế này”. Cô ta khoanh hai tay trên bàn, giọng nói nghiêm túc hơn hẳn. “Nếu cô chứng minh được năng lực của mình sau vụ này, chúng tôi sẽ cho cô một công việc với mức lương hậu hĩnh mà còn phù hợp hoàn toàn với khả năng của cô”.

“Cái loại công việc mờ ám của các người tôi lại thèm vào”.

“Tôi biết ngay cô sẽ nói thế”. Cô ta cười khẩy. “Nhưng đừng có nghĩ bậy, tổ chức chúng tôi hoạt động chính quy đàng hoàng, và nhân viên của chúng tôi đương nhiên có công việc trong sạch, đáng trọng vọng bên cạnh nhiệm vụ mà tổ chức giao. Cô cũng thế,” cô ta chỉ tay về phía cô, “cô sẽ có một chân trong tòa soạn hạng nhất ở thủ đô, muốn viết gì thì viết, sự nghiệp phóng viên báo chí của cô sẽ lên hương đấy”.

Thoạt đầu Sephira còn ngờ vực, nhưng khi nghe đến tòa soạn hạng nhất và vế sau của câu đó, rõ ràng cô có chút xao động, dù rằng chẳng có bằng chứng nào xác thực cho lời hứa của cô ta.

“Thế cô nghĩ sao nào? Tòa soạn hạng nhất chẳng phải tuyệt vời hơn ở hạng hai sao, và chắc chắn là đáng mơ hơn cái chỗ tạp chí đã không ngần ngại đẩy cô ra làm con cừu thế tội chứ?”.

"Nhưng tại sao?". Sephira hỏi. "Tại sao các người lại làm việc đó? Các người thu thập mấy chuyện này để làm gì? Các người định thực hiện âm mưu gì?”.

“Trời, cô phóng viên, đừng nói mấy chữ gây hiểu lầm như ‘âm mưu’ chứ. Tôi đã nói rồi, chúng tôi là tổ chức hoạt động chính quy đàng hoàng, thượng tôn pháp luật. Còn sâu hơn thì,” cô ta hất cằm về phía túi hành lí của cô, “đợi cô hoàn thành vụ này đi rồi chúng tôi xem xét kể cho cô nhé, khi cô đã là người của chúng tôi”.

"Vậy vụ án ở Boun," Sephira chậm rãi nói, "là một bài kiểm tra?".

"Chính xác." Cô thư kí gật đầu đáp lại ngay. "Và cô đã hoàn thành một nửa bài rồi”.

Sephira lại im lặng, đầu óc cô hoàn toàn trống rỗng, nó như một ngôi nhà vừa có người đi vào dọn hết mọi thứ ra ngoài, trống rỗng, huơ hoác. 

“Hãy nghĩ đi cô phóng viên, tôi đang hứa hẹn một viễn tượng tương lai tốt đẹp vô cùng cho cô. Hay cô định sau khi kết thúc vụ này, công sức của mình sẽ bị chúng tôi cướp mất, mà phải nói là chúng tôi có đủ khả năng để làm thế và cũng đủ tàn nhẫn để không nhân nhượng đâu, còn bản thân cô sẽ quay về cái hiệu bánh, ừm, ghê tởm và buồn tẻ kia, để làm việc tiếp?”.

Sephira nhớ lại những gì mình đã chịu đựng ở cái cửa hàng nhỏ xíu nơi góc đường đó. Ngày nào trước mắt cô cũng là những tốp người qua lại, những vị khách đến để hỏi về mấy thứ bột đường và vỏ bánh, rồi mùi này vị kia, cái cuộc đời chán nản và lặp lại vô nghĩa ấy.

“Các người cho tôi thời hạn bao lâu để viết bài này?”. Sephira nhìn thẳng vào mắt cô ta, hỏi.

Cô ả cười hứng khởi: “Tôi biết là chúng tôi không nhìn nhầm mà, chuẩn trăm phần trăm”. Rồi cô ả hắng giọng: “Một vụ thế này thì trung bình người của chúng tôi làm xong trong một tuần đấy, cô cứ theo đó mà nhắm thời gian. Nếu lâu hơn thì phải báo với chúng tôi. Địa điểm liên lạc là quán cà phê này, cô cứ đến đây và nói với ông chủ đang lau tách kia vai trò và tên của mình, vai trò của cô là Tầm sứ”.

Khi Sephira trở về nhà, trời đã tối hẳn. Cô mệt mỏi nhưng không thể ngủ được. Những lời của cô thư kí vẫn quay cuồng trong đầu cô đến khi bản thân chìm vào giấc ngủ.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px