Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Câu chuyện ở trang viên Boun

Vào vùng nước xoáy (2)

Rượu uýt-ki cộng với cơn mệt mỏi đã làm cô ngủ một mạch đến khi Mặt Trời lên cao. Đến khi cô giật mình thức giấc và sửa soạn đi xuống nhà thì bữa sáng đã kết thúc. Lão Bell đã dùng xong món tráng miệng và đang thư thả ngồi trong phòng khách hút thuốc tẩu, Downson thì thơ thẩn làm gì đó ở ngoài bãi biển.

Thấy Sephira xuống, lão Arat lục đục đi chuẩn bị đồ ăn sáng. Lão già đó đi lướt qua người cô và để lại một ánh mắt căm ghét nhưng bộ mặt thì có vẻ hả hê khiến cô chẳng hiểu chuyện gì.

Lão ta vừa đi khỏi thì Bell gọi cô lại ghế ngồi.

Sephira cứ tưởng sẽ phải nghe ông ta nói dông dài gì đó về mấy chuyện thành tựu cá nhân, không ngờ ông lại mở lời bằng một câu hỏi với thái độ chẳng mấy thân thiện.

“Tôi nghe Arat nói tối hôm qua cô đi lục lọi các phòng đặt thi thể nhỉ?”.

Thế là hiểu, lão già đó đã mách lẻo cô với tên Thanh tra.

Sephira không chối, như thế chẳng khác nào cãi chày cãi cối và khiến mâu thuẫn lên cao, và cô cũng hiểu ngay lập tức là mâu thuẫn bây giờ thì chẳng được lợi lộc gì, nhỡ đâu tên này lại đòi kiểm tra sổ chép của cô để đề phòng cô viết gì bậy bạ, thế thì lại hỏng chuyện.

“Vâng, tôi tò mò quá”. Sephira giả ngơ như vậy.

“Tò mò cái gì, có cái gì mà tò mò?”. Lão ta lên giọng. “Hôm qua cô đã vào các phòng đó với Downson rồi mà, chỉ có thế thôi chứ còn gì. Hay cô định điều tra cái gì?”. Lão ta nheo nheo hai thớ thịt có nhúm lông đen trên mắt. “À, hay cô là phóng viên đưa tin thời sự? Cô viết cái gì rồi?”.

Sephira lắc đầu nguầy nguậy: “Không có, ngài Thanh tra, tôi là phóng viên cảnh quan mà. Gì mà thời sự, mấy cái này không nằm trong chuyên môn của tôi đâu, mà tôi cũng chẳng dám chống lệnh ngài”. Ít ra mấy cuộc trò chuyện lãng nhách với ông ta không uổng, Sephira đã biết lão này thích được ve vuốt cái tôi như thế nào.

Tên Bell nghe thế thì xìu đi ngay, không còn quát nạt nữa. Tuy nhiên ông ta vẫn cảnh cáo: “Cô liệu hồn đấy. Đây là chuyện của chính quyền, dân đen đừng có xía vào”.

Sephira vâng vâng dạ dạ rồi kiếm cớ chuồn đi. Cô đi thẳng ra bãi biển nơi Downson đang đứng, sau đó nói với anh ta về chuyện đêm qua mình đột nhập vào phòng Wellowe giữa chừng bị Arat phát hiện lần nữa.

“Tôi cảm giác lão già đó đứng canh trước cửa phòng ông Hầu Thánh đấy cả tối và chỉ chực tôi lại thì xông ra đe dọa, rồi sáng nay lão còn méc với Thanh tra”. Sephira nói với giọng hằm hằm khó chịu.

Downson đang cầm một cái ống nhòm trong tay với một sợi dây nối lồng vào cổ. Vừa quan sát ngoài biển, anh ta vừa cười trả lời: “Gì chứ lão đó thì dám làm như vậy lắm. Lão là một người sùng đạo và có vẻ là xem ông Wellowe đó như thần tượng của mình”. Downson hạ ống nhòm xuống rồi kể tiếp. “Ông ta là người quản lí, dọn dẹp dinh thự này hàng tháng đấy. Chắc là trên này chán ngắt nên lão đọc kinh sách nhiều đến tẩu hỏa nhập ma. Hôm báo tin và dẫn đường cho cảnh sát lên đảo, lão đi ba bước là lại nói một tràng ngôn ngữ khó hiểu, một người theo đạo trong đoàn cảnh sát sau đó nói với tôi là lão đọc kinh. Rồi khi đoàn cảnh sát rời đi và ngỏ ý cho lão quá giang, lão đó lại nằng nặc đòi ở lại và cứ cư xử như thể một tên đệ trung thành tận tụy với cái xác của Wellowe. Cái quan tài lão đóng hôm qua là để người ta đặt thi hài ông ta vào và vận chuyển về đất liền đó. Lão bắt tay vào đóng cái quan tài ngay sau khi tôi nói rằng cảnh sát sẽ dồn hết xác lại một chỗ rồi chở bằng thuyền vào đất liền. Chà, lão còn rủa cả Sở Cảnh sát vì cách vận chuyển phạm Thánh ấy nữa”.

“Vậy là tôi đoán đúng, đây là một tên cuồng tín biến thái”. Sephira nghe Downson nói xong thì cảm thán.

“Nói thế hơi quá đáng, nhưng đúng là lão cuồng tín thật”. Downson cười nhẹ vì sự mâu thuẫn trong lời nói của mình. “Nhưng có khi không phải một mình lão, bao nhiêu người trong đất liền cũng như thế đấy. Thử mà vụ này không được giải quyết êm xuôi và nhanh chóng xem, dân chúng sẽ rần rần cho coi. Chưa kể đến sức ảnh hưởng của Klatinrofto và Dinamil nữa. Cả Sở cảnh sát bây giờ cũng bắt đầu sốt vó lên rồi”. Downson nhìn sang Sephira với một nụ cười động viên: “Lúc đó thì chắc phải nhờ báo chí các cô ‘ổn định’ dân chúng rồi. Cô viết cái gì đàng hoàng tử tế vào, đừng như cái vụ scandal của bà quý tộc kia”.

Sephira nghiêng đầu nhìn anh ta: “Thế thì lại phải nói, tôi chẳng biết những gì tôi viết có thuận lợi lên báo không. Lão Bell ban nãy dọa dẫm tôi đủ thứ đấy, anh được lệnh tạo điều kiện cho tôi viết bài mà không đảm bảo bài tôi viết có được lên báo không à?”.

“Nan giải đấy cô phóng viên, tôi chỉ được lệnh tới đó thôi”. Downson nhún vai nói.

Anh ta đi dọc bờ biển và tiếp tục dùng ống nhòm quan sát. Theo lời anh ta thì họ đang đợi thuyền của cảnh sát đến.

Sephira cũng đi theo, vừa đi cô lại vừa nghĩ đến mấy chuyện Downson vừa kể. Đúng là mọi thứ đang rối tung rối mù, lão Arat còn là người khiến mọi thứ rắc rối hơn nữa. Và qua những thông tin mà Downson vừa cung cấp, cô bỗng cảm thấy hi vọng hỏi thăm ông ta về việc ai là người xếp phòng cho những nạn nhân cũng tan thành mây khói. Cô e là giờ chỉ cần mình mở miệng gọi tên lão thôi, lão cũng lao đến xiên cô rồi treo ngược lên cây để bồi tội với Đức Thánh của lão vì những hành động của cô tối qua.

Cơ mà… ban nãy Downson nói gì về vai trò của ông ta ấy nhỉ?

Người quản lí và dọn dẹp nơi này? Thế thì chẳng phải ông ta nên biết Lesis là ai chứ? Vì ông đó cũng lên đây với tư cách người hầu việc mà?

“Này này này”. Sephira chạy biến lại sát bên Downson. “Lão Arat đó có nói gì về Lesis không?”.

“Nói gì là gì?”.

“Thì lão có bảo lão quen người này không? Tôi xem trong tư trang của Lesis thì có thư giới thiệu anh ta đến trang viên này để làm việc đấy. Nếu lão là người săn sóc nơi này thì ít nhất cũng phải biết chút đỉnh về anh ta chứ?”.

Downson ngạc nhiên quay sang nhìn cô: “Trong tư trang của ông ta có thứ đó à?”.

“Chính tay tôi cầm nó đọc đây thôi”. Sephira khẳng định chắc nịch.

“Đúng là thời thế tạo anh hùng”. Downson lẩm bẩm. “Vậy thì lạ thật rồi đấy, vì ban đầu khi chúng tôi thẩm vấn sơ bộ thì Arat khai rằng nơi này chỉ có một mình lão quán xuyến, việc nhọc nhằn và nặng nề nhưng bên công ti quản lí từ chối thuê thêm người vì phải đội thêm chi phí”.

Công ti quản lí? Sephira bắt ngay được một thông tin khác. 

Ở Doraleth, những tài sản gắn liền với đất đai mà lại do công ti quản lí, dù là công ti tư nhân hay chính phủ, thì chỉ có thể là tài sản đã được sung công. Điểm khác biệt duy nhất là phí quản lí và thuê mướn của hai bên có sự chênh lệch lớn, và chắc chắn không có chuyện những nơi này được mở cửa đón khách tự do như khách sạn hay điểm trọ thông thường. Mà lại như Downson vừa nói - Arat chỉ là người được bên công ti thuê, nên một cách dễ hiểu có thể suy luận rằng mọi điều lão làm ở nơi này đều là chỉ đạo từ bên đó. Nên thay vì hỏi lão vì sao lại xếp một tên nghiện rượu vào căn phòng được chứa đầy rượu, có lẽ cô nên đến thẳng công ti để hỏi ai là người đã ra chỉ đạo đó, rốt cuộc là quý khách hàng nào đã thuê trọn nơi này để làm điểm nghỉ chân cho toàn bộ nạn nhân trong vụ án đây?

Sephira tin chắc rằng lúc này cảnh sát đã, hoặc đang, sục sạo thông tin về người thuê nơi này trong mấy ngày qua rồi. Điều duy nhất cô cần làm lúc này có lẽ là ngồi mát ăn bát vàng.

“Quái lạ”. Sephira làm bộ thốt lên. “Anh có thấy không, có cái gì mờ ám ở đây. Chuyện xảy ra với mấy người họ vừa tự nhiên lại vừa như có ai âm thầm sắp xếp, ôi!”.

Downson trầm ngâm, trong lúc đó Sephira lại làm bộ như vừa nhớ ra một chuyện khác.

“Còn gì nữa anh biết không. Hôm qua tôi vào phòng Lesis và tìm được một tá rượu được đặt sâu trong gầm giường. Anh và tôi đều thấy tên này có dấu hiệu nghiện rượu nặng, thế mà hắn được sắp vào ở ngay căn phòng có một mớ rượu. Và,” Lần này Sephira thật sự chợt nảy ra một ý và phải nói ngay nếu không ý nghĩ sẽ vụt mất, “hắn ta vốn lên đảo với tư cách một gã hầu mà lại được xếp ở cùng loại phòng với những người không cùng đẳng cấp. Căn phòng của hắn xịn sò không kém gì phòng mấy người kia anh có thấy không?”.

“Như thể là tất cả họ bị dồn vào một chỗ để triển khai một kế hoạch gì”. Downson nói vào.

“Này nhé, bây giờ phải kiểm tra mấy chai rượu kia ngay, tôi đồ rằng trong đó có tẩm thuốc làm tên Lesis say xỉn điên loạn rồi xảy ra tai nạn”.

“Có khả năng lắm”.

“Dường như là khả năng duy nhất ấy chứ”. Sephira khẳng định. Chưa lúc nào cô cảm thấy mọi thứ trơn tru và hợp lí như bây giờ, nhất là khi mọi thứ cô suy luận đều có vẻ đúng đắn và vừa khít với các manh mối.

“Cô khá rồi đấy cô phóng viên. Có khi công sức của cô qua nay sẽ được Sở Cảnh sát ghi nhận và họ sẽ ưu ái cho cô đưa tin độc quyền đấy”. Downson nửa thật nửa đùa nói.

Sephira nhìn qua anh ta, như ngẫm được chuyện gì, cô trả lời: “Này, nếu thật sự bọn họ ghi công tôi thì có thể bảo đảm tôi được đưa tin độc quyền không?”.

Downson không ngờ Sephira hỏi thẳng lại như thế, anh ta chần chừ nhìn cô không đáp. Điều này càng khiến cô lo lắng.

“Không được à?”.

Downson lắc đầu: “Này cô, tôi chỉ là một viên cảnh sát thôi, làm sao tôi bảo đảm được? Cơ mà những gì cô biết đến giờ đã hơn khối phóng viên khác rồi. Nếu cô muốn đưa tin độc quyền thì hẵng làm ngay đi, nhưng tôi phải cảnh cáo cô, làm thế thì lão Bell sẽ nổi trận lôi đình và tống cô vào tù đấy. Đừng tưởng lão lúc này lúc kia mà xem thường, trong Sở Cảnh sát lão có tiếng nói lắm và vụ này thì lão chỉ huy một nửa rồi”.

Sephira rời bãi biển đi vào trang viên với sự bế tắc mà Downson vừa thông báo. Nếu bất chấp một lần nữa thì sự nghiệp của cô sẽ tan nát không sao khôi phục được, nhưng nếu không làm thì cô sẽ như con cá giãy trong lưới dưới nước, chẳng thể chết mà cũng không sống đàng hoàng nổi.

Nhưng rồi cô lại nhớ đến lá thư từ ngài Giredald. Chắc hẳn ông ấy đã có kế hoạch gì đó để đưa tin này nên mới cho cô giấy phép hành nghề và vé đến đảo. Việc của cô bây giờ có lẽ chỉ là đưa được bài báo kia về tòa soạn chứ chẳng phải tốn sức mà nghĩ mấy chuyện không trong quyền hạn của mình thế này.

Sephira đoán rằng chỉ một khoảng ngắn nữa thôi thì cảnh sát sẽ đến đảo, và trong giờ phút ít ỏi trước khi có được niềm vui được trở lại ngành báo chí mà phải đối mặt với hai con người mình không ưa thích trong căn dinh thự kia thì thật uổng phí, cô quyết định sẽ ở ngoài này cho đến khi thuyền của Sở cập bến.

Sephira đi lại chỗ mê cung cây có lối vào phía sau bức tượng người đàn ông và con đại bàng. Cô nhìn ngó xung quanh và nhận ra rằng để có thể bao quát cả mê cung thì người ta chỉ có thể đứng tại duy nhất một chỗ trong trang viên - ban công phòng của Wellowe, căn phòng mà cô chẳng có cơ hội được bén mảng vào. Mà giờ thì chuyện đó cũng chẳng quan trọng mấy, vì khi cảnh sát lên đảo để điều tra, cô có thể ra vào chỗ đó, miễn rằng đừng quá tự do tùy hứng.

Cô đi lần theo bức rào được tạo thành từ những bụi cây leo um tùm và cố gắng ghi nhớ từng đường đi, nước bước để không bị lạc. Có lẽ Sephira tin rằng khuyết điểm mù đường của mình là một thứ có thể được bù trừ bằng sự cẩn thận và khả năng ghi nhớ, tuy nhiên sự thật xảy ra chứng minh rằng cô đã sai. Khi đứng tần ngần giữa bụi cây leo mà không biết nên rẽ lối nào để đi tiếp, Sephira cuối cùng cũng phải thừa nhận sự bất lực trong việc xác định phương hướng.

Tuy nhiên đứng yên một chỗ cũng không hẳn là cách, Sephira quả quyết rằng nếu cố gắng không thành thì bây giờ cứ thử vận may, thế là cô đâm đầu rẽ đại theo một lối.

Thế nhưng chờ đợi cô ở phía cuối con đường đó chẳng phải là lối ra mà là một thứ khác - hiện trường nơi Fiodor Wellowe tử nạn.

Đó là một góc ở lối rẽ, trên nền cỏ có hai bảng gỗ nhỏ được ghi chú thích và một số đinh cắm trên đất để nối các đầu dây đánh dấu vị trí nằm của nạn nhân. Nhưng thứ khiến Sephira chú ý nhất ở khu vực đó chính là máu, một vũng máu rộng, loang ra cả khu vực và dù đã qua mấy ngày thì vết máu vẫn còn dễ nhận ra, mùi tanh nồng của sắt đậm đặc trong không khí. Sephira đoán đấy là vết máu của Josephine, nhưng cô không thể tin được một người mất nhiều máu thế này mà vẫn có thể sống sót. Cô nhớ mình từng đưa tin về vài vụ chẹt xe ngựa và có những nạn nhân chỉ mất một ít máu thôi cũng đã về chầu Thánh rồi. Tất nhiên là còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng sống sót của một người bị tử nạn, nhưng khi nhớ đến các mốc thời gian mà Downson nói ban nãy - lão Arat đi lên đảo và phát hiện Josephine gặp nạn, đi vào đất liền gọi cứu hộ và lại đợi đoàn cảnh sát ra, cả quá trình đó mất ít nhất là hai đến ba tiếng, thì việc Josephine sống sót được quả là thần kì nếu không phải nói là quá đáng nghi khi nó nằm trong một chuỗi án mạng liên hoàn thế này.

Đương lúc Sephira còn loay hoay nghĩ ngợi về chi tiết này thì một tốp cảnh sát đi lại phía cô, Sephira giật mình khi nhìn thấy họ nhưng họ còn bất ngờ hơn khi thấy cô.

“Cô là ai thế? Làm gì ở chỗ này? Đi ra mau”. Một viên cảnh sát tóc muối tiêu sẵng giọng ra lệnh.

Sephira vội vàng xin lỗi rồi chuồn ra ngay. Lần này cô không bị lạc nữa vì cứ đi ngược hướng với những cảnh sát khác đang đi vào mê cung là đến lối ra.

Cô chạy đi tìm Downson để nhắc anh ta về chuyện kiểm tra chai rượu ở trong phòng của Lesis, nhưng khi vừa đi đến cửa dinh thự thì đã thấy hai viên cảnh sát khiêng ra một thùng gỗ chất đầy những chai rượu đó.

Xem ra đúng như lời Downson, giờ thì họ sẽ lật tung cả hòn đảo này lên để khám xét.

Vậy là việc của cô đã xong. Sephira trở về phòng của mình và định bụng trong lúc cảnh sát đi khám xét, cô sẽ viết nốt một bài báo về chi tiết mới mà mình vừa nhận ra và thu dọn đồ đạc. 

Tuy nhiên sự ồn ào và lục đục mà cảnh sát tạo ra ở gian phòng kế cạnh và ngoài hành lang, rồi ở khoảng sân ngay dưới ban công làm Sephira không sao tập trung vào chữ nghĩa được. Viết khoảng một phần hai bài báo thì Sephira không tiếp tục được nữa, cô đứng dậy thu xếp đồ đạc và chặn tờ giấy lại để nó ráo mực.

Hành lí của cô không có quá nhiều đồ nên việc sắp xếp tất cả lại vào chiếc va-li vải xách tay không mất quá nhiều thời gian. Sau khi làm xong, Sephira lại tự thưởng cho mình bằng việc uống cạn uýt-ki trong chiếc bình dẹp bằng thiếc mang theo, ít nhất thì cô cũng phải tự ghi công mình sau khi khám phá ra một mớ manh mối trước cảnh sát, đây là một bước tiến lớn trong sự nghiệp của cô.

Uống rượu vào ban ngày không phải là một lựa chọn hay, nhất là với một người còn chưa đụng vào bữa sáng để lót dạ như cô. Sephira lập tức thấy choáng váng đầu óc, đánh rơi cả bình rượu và cái nắp chai tròn.

Nắp chai lăn đều từ chân ghế cô đang ngồi đến thẳng chân tường ở đối diện rồi mới dừng lại. Sephira loạng choạng đứng dậy và lom khom đi lại để nhặt cái nắp và ngay lúc đó, cô lại cảm thấy một luồng hơi gió từ đâu thổi qua trán mình. 

Cảm giác của Sephira về luồng gió giống như được thổi qua một khe hẹp và có thể nghe cả âm thanh như tiếng người ta huýt sáo. Sephira ngẩng đầu lên và nhìn ngó bức tường hòng tìm ra nơi xuất phát của hơi gió đó nhưng chẳng thấy gì. Ở ngay cạnh cô là lò sưởi còn phía bên kia tường là phòng của Oona Klatinrofto. Cô áp sát mặt vào tường để nghe ngóng nhưng chẳng được gì, tuy nhiên chẳng biết vì hơi rượu hay sự tự tin mà bản thân vừa có được sau cuộc nói chuyện với Downson dưới bãi biển mà Sephira lại tỏ ra như một nhà thám tử chính hiệu đang dò theo manh mối.

Cô lê mặt mình đi dọc bức tường và phát hiện ra một điều rằng có một khoảng dài của bức tường khá dày khiến cô không nghe được âm thanh được tạo ra từ mấy viên cảnh sát ở phòng bên cạnh, nhưng sau đó thì cô lại nghe rõ mồn một từng lời họ nói.

Phát hiện này khiến Sephira, thoạt đầu, cảm thấy kiến trúc của dinh thự khá kì quặc. Tuy nhiên nó không làm cô bất ngờ vì dựa vào lối trang trí và màu sơn của cả nơi này thì việc lối xây dựng của nó có vài chỗ khác thường cũng không phải chuyện lạ. Ấy thế mà khi nhớ đến người đàn bà mất tích ở phòng bên kia và những đồ dùng bà ta mang theo, cô lại thấy trong đầu mình như ngộ ra điều gì ghê gớm.

Sephira tông cửa chạy ra khỏi phòng và xông thẳng vào phòng bên cạnh, nơi mấy viên cảnh sát đang thu dọn đồ đạc của người mất tích và lấy dấu vân tay trong phòng. 

“Làm sao thế? Cô cần gì?”. Một cảnh sát lên tiếng khi thấy cô và đi lại gần. 

Sephira nở một nụ cười và cố làm ra vẻ tự nhiên hết có thể.

“À, à, tôi vào nhầm phòng”. Cô vừa nói vừa ngó lại chỗ bức tường giáp với phòng mình. Chỗ đó chẳng khác gì với bên phòng cô, tuy nhiên thay vì là một bức tường phẳng với bếp sưởi, khu vực đó ở bên phòng của Klatinrofto là một cái tủ âm tường, còn bếp sưởi thì lại ở ngay kế bên. Một kiến trúc lạ lùng nếu không muốn nói là vô lí, ai đời lại đặt tủ quần áo âm tường cạnh một cái lò sưởi? 

Sephira đã không để ý đến chi tiết này, chỉ có hai lần cô vào phòng này và trong cả hai lần thì thứ cô để ý nhất vẫn là cái xác không-ở-đó, mớ tư trang và những thứ mà cô tin là dấu vết do người khác để lại chứ không phải một thứ hiển nhiên của căn phòng.

Viên cảnh sát mời cô ra ngoài sau câu trả lời kia, nhưng trước khi rời khỏi Sephira chỉ vào cái tủ âm tường rồi hỏi: “Các anh kiểm tra cái tủ đó chưa?”.

Mấy viên cảnh sát nhìn về phía tay cô chỉ. Người đứng trước mặt cô hơi hất cằm, dõng dạc đáp: “Tất nhiên là rồi, không có gì bất thường cả”.

Sephira gật đầu. Cô nhìn qua chiếc bàn ở bên kia phòng nơi những cảnh sát đang thu dọn đồ đạc của Klatinrofto, một thứ ngay lập tức đập vào mắt cô là cuốn sách nghiên cứu kiến trúc lâu đài của người Lifta tại nước mình trong giai đoạn thuộc địa.

“Bà Klatinrofto là một người đam mê kiến trúc nhỉ?”. Sephira vẫn chưa chịu rời đi.

Viên cảnh sát gật đầu: “Bà ấy học Kiến trúc khi còn trẻ và là Kiến trúc sư chính của những ngôi trường do mình xây dựng”.

“Tôi cũng đoán thế”. Sephira bật cười trả lời và chạy ra khỏi phòng, cô đi tìm Downson.

Thế nhưng vừa chạy ra khỏi cửa, Sephira lại dừng lại ở ngay bức tường nối dài hai căn phòng. Sau khi dùng công cụ đo thô sơ nhất mà con người từng có, bước chân của mình, cô biết được rằng độ dài của tường ở bên trong và bên ngoài hai căn phòng có sự chênh lệch rất nhiều. Thế này thì bí mật đã bị bật mí.

Lúc đó anh ta đang nói chuyện gì đó với những đồng nghiệp của mình. Nhìn thấy cô chạy lại, anh ta phớt tay cho những đồng nghiệp đó rời đi, điều này khiến Sephira trộm nghĩ có lẽ chức vụ của người này không khiêm tốn như anh ta tỏ ra.

“Tôi nghĩ tôi biết Oona Klatinrofto đang ở đâu rồi”.

Downson trợn mắt nhìn cô.

“Trong một mật thất hoặc căn phòng bí mật nào đó mà lối vào chính là giữa phòng bà ta và tôi”. Cô vừa nói vừa nhìn xung quanh, lần này thì cô tìm lão Bell.

“Vì sao cô nghĩ thế?”. Rõ ràng Downson không ngờ đến suy đoán này của cô, nhưng anh ta vẫn đàng hoàng hỏi lại một cách lịch sự.

“Thứ nhất, tôi vừa biết bà ta là Kiến trúc sư và có sự am hiểu sâu sắc đối với kiến trúc của mấy tòa dinh thự hay lâu đài kiểu này. Thứ nhì, tôi vừa phát hiện có một khoảng tường giữa hai phòng dày hơn những khoảng khác, tôi đang nghĩ đó chính là lối đi hoặc căn phòng bí mật nằm giữa hai nơi. Thứ ba, tôi vừa đo thử thì khoảng tường ở bên ngoài hành lang nối hai cửa phòng của chúng tôi lại dài hơn so với bên trong, còn lời giải thích nào hợp lí hơn là có một khoảng giữa hai căn phòng đã được sử dụng với mục đích khác mà không phải là tăng diện tích cho hai phòng. Và thứ tư,” Sephira thở ra một hơi, “phòng của bà ta có tủ âm tường đặt kế lò sưởi, cái kiểu thiết kế đáng ngờ đó là thứ kì quặc nhất trên đời. Anh có biết quần áo, đặc biệt là quần áo phụ nữ nhé, sẽ bị hư hỏng nặng thế nào nếu để gần nguồn nhiệt như thế không? Như vậy một là gã kiến trúc vẽ bản vẽ cho nơi này là một tên rởm, còn hai là bức tường và cái tủ kia được xây thêm vào để ngụy tạo thành một căn phòng bí mật, bởi vì cả cái dinh thự này được xây theo kiểu đối xứng, nhưng phòng tôi không có cái tủ âm tường chết tiệt kia còn phòng của bà ta lại có”.

Downson sững người nghe cô nói. Có vẻ lượng thông tin quá lớn nên anh ta chưa nghe kịp, hoặc anh ta không tin nổi những gì mình vừa nghe.

Sephira không để ý đến biểu cảm trên mặt người cộng sự đang chuyển từ kinh ngạc sang bối rối rồi bây giờ là như thông suốt, cô dáo mắt để tìm lão Bell.

“Phải nói với ông Thanh tra cho người phá bức tường đó ngay, có khi còn cứu được bà ta đấy”. Sephira cuống quít ngó xung quanh. “Lão già đó đâu rồi?”.

Downson không trả lời cô mà chạy vụt lên cầu thang. Sephira thấy anh ta như thế thì cũng giật mình đuổi theo sau.

“Anh làm gì thế? Tôi đang muốn tìm lão Bell cơ mà”.

“Ông ta đang ba hoa với mấy viên cảnh sát ở ngoài vườn rồi”. Downson bước hai bậc một lượt. “Cô nghĩ rằng bà ta còn sống thật chứ?”.

“Tôi đoán thế”. Sephira không có thể lực tốt như anh ta, cô bị hụt hơi khi vừa chạy vừa nói. “Bà ta vào mật thất chứng tỏ rằng bà ta cảm thấy có điều gì đe dọa đến mình và tin rằng chỗ đó sẽ là nơi trú ẩn an toàn. Vậy ta có đủ chứng cứ để tin rằng bà ta vẫn sống sót trong đó, hoặc là thoi thóp”.

Downson chạy vào phòng của Klatinrofto lúc những viên cảnh sát đang dọn nốt những đồ dùng của bà ta ra ngoài. Thấy Downson bước vào, viên cảnh sát mà ban nãy hất hàm với Sephira lại tỏ ra tôn trọng và hơi nhún nhường: “Trung sĩ Downson, có chuyện gì à?”.

Downson chỉ tay về phía cái tủ âm tường trong lời giải thích ban nãy của Sephira, thản nhiên nói: “Ngài Thanh tra nghi ngờ rằng trong phòng này có một mật thất và bà Klatinrofto đang ở trong đó chờ chúng ta giải cứu, các anh lại kiểm tra chỗ đó xem”.

Viên cảnh sát như nhận ra điều gì sau câu ra lệnh của Downson, anh ta nhìn về phía Sephira đang đứng sau lưng cấp trên của mình. Sephira nở một nụ cười làm như vô can trước cái nhìn đó.

Viên cảnh sát đó và một người khác đi lại cái tủ và kiểm tra, nhưng chẳng tìm thấy gì ngoài một cái tủ âm tường với mặt trong được lát đá hoa cương màu xanh ngọc đẹp mắt và những viên đá phải nói là đều khít nhau như in.

Sau một hồi loay hoay mà chẳng được gì, Downson cũng bắt đầu hoài nghi màn suy luận vừa rồi của Sephira chứ không riêng hai viên cảnh sát kia.

Anh ta nói với cô bằng giọng thầm thì: “Cô chắc một trăm phần trăm về suy đoán của mình chứ?”.

“Đó không phải suy đoán, đó là kết luận dựa trên những bằng chứng xác thực, không tin thì anh đi mà…”. Sephira cứng giọng đáp lại.

Downson ngắt ngay lời cô: “Tôi hỏi là cô chắc chắn chứ?”.

Sephira khựng lại, và như nghĩ đến một điều gì đầy hứng khởi, cô đáp quả quyết: “Trăm phần trăm đấy, cái này không đúng thì anh cứ việc bỏ tù tôi”.

Downson quay lại nói với viên cảnh sát đang đứng sau lưng mình: “Xuống phòng củi lấy búa tạ lên đây đi anh cảnh sát”.

Bell đang đứng trong mê cung, nơi các cảnh sát đang đo đạc lại phạm vi vết máu và kiểm tra xung quanh hiện trường nơi Fiodor Wellowe và Josephine Savadov được tìm thấy thì nghe những tiếng đập tù và đục như tiếng phá tường. Và sau chừng vài phút thì có tiếng la của một vài người vang ra từ hướng bên kia của biệt thự: “Tìm thấy rồi, tìm thấy rồi. Gọi cứu hộ, gọi cứu hộ”.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px