Thủng thuyền
Tuy dư âm từ vụ đột nhập tối hôm qua còn ám ảnh Sephira đến tận sáng, nhưng cô cũng biết mình phải xốc lại tinh thần để chuẩn bị cho cuộc săn tin ngày hôm nay. Nếu cô may mắn khai thác được vài tư liệu quý giá từ miệng của ông Thanh tra và viên cảnh sát họ Downson kia, bài báo của cô hẳn sẽ mang đến cho chủ nhân của nó một tương lai hứa hẹn như cô kì vọng.
Cô xuống lầu khi lão hầu già còn chưa chuẩn bị bữa sáng, chỉ mới bày bộ chén dĩa trên bàn. Nhớ lại sự việc tối qua, cô nghĩ nên tránh giáp mặt lão khi chỉ có hai người.
Sephira đi ra ngoài sân dinh thự, từ chỗ cô đứng nhìn xuống có thể thấy mép sóng chỉ thấp thoáng sau vài rặng cây. Những con sóng dâng cao gần đến chân trang viên và không rút vào sáng sớm như những bãi biển khác. Đặc điểm địa lí này đã khiến Boun gần như là một nơi biệt lập và nếu như cô đoán, năm người kia đã mắc kẹt ở đây trong tuyệt vọng khi từng người một bị ám hại - đấy là nếu họ thực sự bị ám hại, cũng không thể phủ nhận là họ có thể tình cờ bị tai nạn liên hoàn.
“Nói chung vụ này là gì thì còn chưa biết mà”. Sephira tự nhủ việc của mình đâu phải là kết luận vụ án.
Sephira đi dạo quanh khu vực trang viên, đó cũng là lúc cô để ý thấy ở phía chếch mép bên trái từ cổng dinh thự nhìn ra có một cái chòi nhỏ và một tháp phát tín hiệu. Đó có lẽ là trạm liên lạc duy nhất trên đảo. Lẽ ra cô phải thấy nó khi đi bộ từ bờ biển lên đây vào tối hôm qua, nhưng vì trời quá tối nên cô mới không trông thấy.
Sephira tản bộ xuống khu vực chòi đó nhưng lại phát hiện nó đã bị khóa.
Đó là một căn chòi đá xám trên mỏm đất hơi nhô lên, rêu phong bám đầy những khe nứt, mái ván gỗ đã ngả màu thời gian. Những sợi dây leo khô quắt queo bám quanh khung cửa sổ ọp ẹp. Thế nhưng có vẻ nó vừa được tân trang lại dạo gần đây bởi tấm ván thềm vẫn còn cạnh bén và bản lề cánh cửa hẵng còn mới.
Sephira đi một vòng quanh căn chòi. Cô nhìn vào thông qua khung cửa sổ để quan sát khung cảnh bên trong. Trên chiếc bàn gỗ dài, một mớ dây đồng lòng thòng quấn quanh mấy cái ống thủy tinh bám đầy bụi than. Cạnh đó, một cái máy lạ với những cuộn dây kim loại và hai quả cầu nhỏ bằng đồng nằm chỏng chơ, một trong hai quả cầu đã xỉn màu như bị lửa liếm qua. Mấy cái chai thủy tinh bọc giấy bạc nằm lăn lóc trên sàn gỗ, một cái đã vỡ tan tành. Giữa đống hỗn độn ấy là một vệt cháy đen ngoằn ngoèo mà ai đó đã kê vội một cái máy điện báo nhỏ bằng gỗ sẫm màu lên che đi một phần. Cỗ máy được nối sơ sài vào một bảng gỗ có mấy cái chốt đồng bằng những sợi dây điện mới tinh.
Dựa theo mức độ hỏng hóc của các thứ thiết bị và vết cháy kia Sephira đoán nơi này vừa xảy ra một tai nạn điện lửa kinh hoàng, nhưng xem ra nó đã được sửa sang lại tạm thời. Cô lại nhớ đến nguyên nhân cái chết của Dinamil - bị điện giật, nếu dựa theo đó thì có vẻ nơi này là chỗ gã tử nạn chăng.
Khi không còn gì để ngắm nghía nữa, Sephira rời căn chòi và xuyên qua cánh rừng mỏng, đi dọc theo bờ biển. Cô cố gắng nhìn ra xa nhưng chẳng thấy gì ngoài một vùng đảo dài bọc quanh Boun, không có một con thuyền hay dấu hiệu nào khác của sự sống.
Đến khi nắng lên gắt thì cô mới trở vào dinh thự.
Ông Thanh tra và Downson đang dùng bữa ở trong bếp, lão hầu già thì loay hoay gì đó ở phía sau với mấy tấm ván gỗ, bộ đồ mộc và thùng sơn.
Khi nhìn thấy cô đi vào, ông Thanh tra cười hề hề rồi hỏi: “Đi dạo buổi sáng à cô phóng viên? Đã viết được chữ nào chưa?”.
Sephira tỉnh bơ nói dối với một nụ cười lịch sự: “Cũng được kha khá rồi”.
Ông Thanh tra nói tiếp gì đó về chuyện thủy triều và mỏm đá ngầm rồi mấy cơn bão, những thứ mà rõ ràng Sephira chẳng quan tâm. Nhưng lão này chẳng phải người tinh tế để ý người khác, vẫn cứ nói dông dài chẳng đâu vào đâu dù không ai lắng nghe.
Mấy lần Sephira nhìn qua Downson hòng tìm một dấu hiệu gì đó cho sự hợp tác mà hắn ta đã hứa hẹn tối hôm qua, nhưng người đàn ông này thậm chí còn không nhìn cô lấy một cái.
Bữa ăn kết thúc giữa những lời tầm phào của Thanh tra Bell, ông này đã nói gì đó đến chuyện động đất đã tạo ra địa hình và vị trí địa lí của Boun. Giờ thì cô đã biết lão này không đơn thuần là nói phào mà còn muốn khoe khoang kiến thức.
Downson rời khỏi bàn ăn đầu tiên, hắn ta nói phải đi ra chòi liên lạc để xem tin báo từ đất liền. Sephira thầm nghĩ đây là cơ hội để hai người nói chuyện riêng nên định đứng lên đi theo, không ngờ ông Thanh tra lại tự nhiên nói với cô: “Cô pha ấm trà được không cô phóng viên? Với gọi lão Arat vào lấy ít bánh mứt đi, ăn sáng xong thì phải nhâm nhi chút bánh ngọt chứ”.
Sephira cứng người nghe ông ta ra lệnh cho mình, nhưng cô cũng không thể từ chối được. Người ta nói gì ấy nhỉ, muốn qua sông thì phải lụy đò.
Downson đã nhanh chóng đi thẳng ra khỏi phòng bếp, còn cô thì kẹt trong này với mớ bánh mứt và trà chén của lão Thanh tra.
Arat được gọi vào để chuẩn bị bánh trái, lúc đó Sephira mới để ý tay chân lão đầy vụn gỗ. Cô ngó ra bên ngoài thì thấy lão đang đóng một cái hộp chữ nhật có kích thước như một cái quan tài và cái thùng mà cô nhầm tưởng là sơn thực chất là véc-ni, xem ra lão đang chuẩn bị hòm để chôn ai đó. Ý nghĩ này khiến cô lạnh hết sống lưng.
Khoảng chừng hơn nửa tiếng sau thì Downson trở vào, khi đó lão Bell đã bô ba đến chuyện ở Sở Cảnh sát và hành trình thăng chức trơn tru của lão trong suốt gần ba mươi năm qua cũng như khả năng lãnh đạo thiên bẩm của bản thân. Gã còn nói có khi mình sẽ nghỉ hưu với chức Phó phòng, một ý kiến mà Sephira chẳng biết nên bày tỏ thái độ gì.
Downson trở lại với một tin không mấy tích cực: thủy triều lên cao nhưng không rút như dự tính nên hôm nay đoàn cảnh sát chưa thể ra đảo.
“Thế là ta phải ở lại thêm một ngày”. Lão Bell cảm thán với một thái độ có vẻ chán nản. “Nhưng ít ra thì ta có cô phóng viên đây giải khuây cho vài hồi nhỉ?”. Lão đánh mắt nhìn qua Sephira.
Lúc này thì Sephira thực sự không cười nổi nữa. Cô có cảm giác tên già này xem cô như mấy con thú mua vui, kể chuyện cho thú nghe để giải trí và giờ thì bắt nó làm trò.
Downson không trả lời lại câu hỏi của Bell mà lại nói: “Ta phải rải vôi lên thi thể thôi, không thì mùi tử thi sẽ làm mọi người ở đây chết ngạt hết, ấy là còn phải đề phòng mấy nạn nhân có bị bệnh truyền nhiễm gì không”.
Lão Bell đang cười hềnh hệch như ông hề mà nghe Downson nói vậy thì sụ mặt ngay lập tức. Sephira nhìn thấy ngay sự khó chịu trên mặt lão.
“Nói cái gì vậy? Anh muốn làm gì thì làm”.
Sephira trong một thoáng chẳng hiểu vì sao lão lại quay ngoắt thái độ như vậy, nhưng rồi cô hiểu ngay: lão chẳng muốn một ả phóng viên như cô biết về chuyện vụ án, mà trong lời của Downson vừa rồi đã vô tình tiết lộ chuyện các thi thể.
Mà giờ thì lộ rồi, chẳng làm gì được.
“Có thi thể trên đảo sao? Có án mạng à?”. Sephira được đà giả ngu hỏi theo.
Mặt lão Bell u ám đi thấy rõ, có lẽ lão định chẳng trả lời đâu, nhưng cô đâu chịu buông tha.
“Ra là thế, chuyện kịch tính mà ngài nói tối qua là chuyện này à?”. Cô làm bộ ngu ngơ nhìn qua Downson rồi lại tiếp tục diễn kịch: “Anh cảnh sát, có mấy người chết thế? Vì sao lại chết?”.
Lão Bell có vẻ thấy chẳng giấu được nữa, đành nói: “Bốn người chết”. Dừng chừng một giây, lão lại bổ sung: “Nên chúng tôi mới được cắt cử ở lại trông coi hiện trường đây”.
Sephira gật gù như vẻ đã hiểu chuyện.
“Thế để tôi phụ anh cảnh sát rải vôi. Tận bốn cái xác thì cũng mất nhiều thì giờ lắm”.
“Cô không được bén mảng lại đó. Mà thật ra chỉ có…”. Giọng lão Bell đột nhiên cứng lại, rồi lão vội nói nhanh: “Bọn phóng viên táy máy tọc mạch các cô lại phá hỏng hiện trường vụ án”.
Sephira nhất thời chưa biết phản bác câu nói ấy làm sao thì Downson lại lên tiếng: “Nhưng cô ấy nói đúng. Bốn cái xác thì mất khối thì giờ, để cô ta phụ một tay cho nhanh. Nếu lề mề thì hỏng hết thi thể, thân nhân người ta sẽ làm trận cho coi”.
Sephira hơi mím môi cười, tận bốn cái xác cơ đấy!
Lão Bell có vẻ chẳng muốn nhún nhường nhưng cũng như Sephira mới nãy, chẳng biết phản bác làm sao. Cuối cùng lão cũng xuôi theo Downson, tuy nhiên trước khi hai người rời khỏi thì lão lại cảnh báo Sephira: “Tốt nhất cô đừng tọc mạch, không thì tôi sẽ tống cô vào tù”. Rồi lão lại quay sang Downson dặn dò: “Anh giám sát cô ta đấy”.
Cuối cùng cũng có cơ hội đường đường chính chính đi xem mấy cái xác, hơn hết là được ở riêng với Downson.
Trong lúc hai người đi lên lầu, Sephira không kiềm được mà hỏi anh ta: “Anh là ai? Lời anh nói tối qua rốt cuộc là ý gì?”.
Downson vẫn bước đều ở phía trước với hai túi vôi, Sephira vừa cuống quít bắt kịp anh ta vừa hỏi.
Hai người đến căn phòng đầu tiên bên phải, phòng của lão Người Hầu Thánh - Fiodor Wellowe. Tuy nhiên khi Downson vừa định mở cửa thì một tiếng rên vang lên, âm thanh này khiến Sephira giật mình vì cứ tưởng như tiếng kêu của thi thể từ trong phòng vọng ra.
Nhưng hóa ra đấy là tiếng của lão Arat từ đằng sau đi đến. Lão ta đứng chắn ngay trước cửa phòng như một tên vệ sĩ rồi nói: “Để tôi rải vôi cho ngài ấy”.
Sephira còn ngơ ngác chẳng hiểu gì thì Downson đã gật đầu tỏ vẻ đã biết rồi đi qua phòng khác, phòng của Dinamil.
Khi cánh cửa vừa bật mở Sephira đã ngửi thấy ngay một mùi thối gắt mũi. Vậy là mấy cái xác đã bắt đầu phân hủy.
Downson mở cửa và đứng đợi như mời cô vào trước, nhưng Sephira nhìn cung cách lịch sự của anh ta mà lắc đầu: “Tình huống này thì không cần ga-lăng thế đâu anh trai”.
Downson nghe cô nói vậy thì nghiêng đầu với một vẻ mặt vừa buồn cười mà vừa phải tỏ ra nghiêm túc rồi lách vào phòng.
Gã ta đi thẳng lại giường và giở tấm vải trắng phủ thi thể lên, cảnh tượng sau đó Sephira không có can đảm để nhìn. Cô đi qua bàn nơi đặt mấy di vật của nạn nhân, xem qua một lượt như tối hôm qua để đảm bảo mình không bỏ sót thứ gì. Trong lúc đó cô vẫn chưa chịu dứt câu hỏi ban nãy.
“Thế anh thực sự không định cho tôi biết anh là ai sao?”.
Downson vẫn sột soạt, loay hoay với cái di hài của Dinamil ở bên kia và không có ý định sẽ trả lời cô.
Thế mà ngay lúc Sephira định bỏ cuộc thì anh ta lại lên tiếng.
“Tôi được dặn là tạo điều kiện cho cô viết bài báo. Cô không cần biết tôi là ai cho đến khi cô xong bài báo đó”.
Một câu trả lời còn khó hiểu hơn khi nó chưa được trả lời. Nhưng Sephira lại nhớ đến mục đích mình đến đây, tất cả là vì bài báo hứa hẹn đó. Vậy thì chuyện biết anh ta là ai không quan trọng bằng việc mình chắc chắn sẽ được hỗ trợ để hoàn thành bài báo, phải trở lại mục đích ban đầu.
Cô điểm lại mấy di vật của nhà khoa học xấu số rồi nói: “Thật ra tối hôm qua tôi đã vào bốn trên năm phòng của các nạn nhân rồi. Có vẻ là chỉ có ba chứ không phải bốn cái xác như lão Bell nói vừa nãy nhỉ?”.
“Lão ta tự phụ về năng lực của bản thân một cách kệch cỡm,” Downson trả lời.
“Thì thế, tôi lại thích mấy người như vậy đó”. Dù sao bị coi thường vẫn tốt hơn là được coi trọng trong trường hợp này. “Vậy anh là người duy nhất hiện giờ có thể cho tôi biết là bà quý tộc hay cái cô Savadov kia là người sống sót rồi”.
Downson lúc này đã lo liệu xong cái xác của Dinamil. Anh ta vừa phủ vải lên đó một lần nữa vừa trả lời: “Savadov đang ở trong bệnh viện Thủ đô, còn bà Klatinrofto thì bặt vô tăm tích”.
Sephira nở một nụ cười tươi khi nghe như thế. Bingo, suy đoán của cô đã đúng.
“Khả năng sống sót của cô ta cao không?”.
“Tôi chẳng biết. Trong đó chẳng nhắc gì đến cô ta, nhưng tôi nghĩ là cô ta sống đấy, nếu không thì trong đó đã nhốn nháo cả lên và sẽ bất chấp tất cả để ra đây khám mấy cái xác, vì mất luôn manh mối duy nhất rồi mà”.
Phòng của Lesis cũng có mùi tương tự như bên Dinamil. Sephira vẫn như ban nãy, không dám bén mảng lại chỗ cái xác. Cô đi loanh quanh chỗ đặt di vật của Lesis và chú ý đến cái đồng hồ quả quýt mà mình đã săm soi tối hôm qua.
“Các anh có thấy lạ không? Một tên có vẻ nghèo khổ mà lại sở hữu cái đồng hồ quý giá thế này, đây là một manh mối đáng chú ý đó”.
“Cô phải nói điều đó với đội khám nghiệm hiện trường”. Downson đi từ bên này giường qua bên kia và than vãn: “Gã này nghiện rượu khiếp thật, chết rồi mà mùi rượu còn nồng nặc thế này”. Sau đó lại nói tiếp lời vừa nãy: “Mà có lẽ cũng chẳng ích gì. Chúng tôi chỉ có chừng một tiếng để gom mấy cái xác vào nhà rồi niêm phong di vật rồi trở vào đất liền trước khi thủy triều dâng quá cao và đá ngầm sẽ đục thủng cả thuyền. Với lại lúc đó còn phải ưu tiên cứu cái cô kia, cô ta chảy máu như thác đổ. Nên chúng tôi quyết định đưa cô ta đi cứu chữa trước và sẽ trở ra vào sáng nay với một lực lượng đông đủ và dụng cụ chuyên nghiệp hơn, nhưng rồi lại vướng vụ triều dâng này”.
“Ra vậy”. Sephira cảm thán. Vậy là mọi thứ ở đây đều chưa được khám xét kĩ càng, tất cả chỉ mới ở bước sơ bộ, và câu tự hỏi của cô tối hôm qua đã được giải đáp. “Vậy mà tôi còn tưởng sẽ hỏi han thêm được gì từ anh chứ”.
Downson không trả lời nên Sephira mới quay lại nhìn anh ta, đương nhiên là chỉ nhìn thẳng vào anh ta chứ không liếc nửa mắt đến cái xác thẳng đơ trên giường.
Sephira thấy anh ta đang cầm bịch vôi trên tay, nhìn cô với ánh mắt thản nhiên mà tựa như có chút khuyến khích.
“Thế thì cô tự điều tra đi, bài báo của cô phụ thuộc hết vào năng lực của cô đó”.
Sephira cười gượng: “Tôi đâu phải là cảnh sát hay thám tử. Ví dụ như tối hôm qua khi đột nhập vào các phòng, một thám tử chắc đã khai thác được cả mớ thông tin chỉ dựa vào vài di vật của nạn nhân. Còn tôi,” cô cười nhạt, “tôi chỉ biết có một nạn nhân chưa được tìm thấy, nguyên nhân cái chết của hai người đã được tìm thấy và lí do bọn họ lên đảo. Mà tất cả đều được thể hiện bằng bằng chứng rõ ràng giấy trắng mực đen chứ chẳng phải do suy luận của tôi gì sất”.
“Vậy thì cô phải chịu rồi. Có khi cô đợi đến lúc cảnh sát điều tra và tìm ra chân tướng sự việc thì đưa tin cùng mấy phóng viên khác cũng chưa muộn”. Downson đáp lại.
Sephira quay ngoắt qua nhìn anh ta lần nữa, giờ thì cô chẳng thèm lo đến chuyện mình sẽ vô tình trông thấy cái xác thẳng đơ của ông nhà khoa học đang thẳng cẳng trên giường. Cô biết Downson đang thách thức mình, cô biết anh ta biết điểm yếu của cô và cũng là điểm mạnh của cô ngay lúc đó. Nếu muốn trở lại giới báo chí và có một con đường tiến thân vững chắc trong sự nghiệp thì bài báo độc quyền là lựa chọn duy nhất của cô lúc này.
“Thế ra anh muốn nghe tôi suy luận à?”. Sephira hỏi với giọng như thách thức, dù thực chất cô biết mình chẳng có chút kinh nghiệm hay kĩ năng nào cho công việc đó.
“Tôi không có ý đó, nhưng nếu cô đã có vài phán đoán cá nhân về vụ án này thì tôi cũng muốn nghe thử”. Downson ung dung trả lời.
Sephira bặm môi và im lặng chừng một lúc. Cô cố nghĩ xem mình nên nói những gì từ những thứ mình đã khám phá được. Rồi cô lại nghĩ, một vụ án thì đương nhiên cần biết hung thủ là ai. Cô nghĩ ngay đến hai người đàn bà - một mất tích và một sống sót, rồi cô nói ngay những suy đoán của mình.
“Thế này nhé, tôi nghĩ hung thủ chắc chắn là bà Klatinrofto hoặc cái cô Savadov kia”.
“Ồ, sao cô lại nghĩ thế?”.
“Thứ nhất là Klatinrofto, suy đoán của tôi là bà ta giết hết tất cả rồi bỏ trốn, đó là lí do bà ta mất tích. Vì như thế nên tôi nghĩ thật buồn cười khi cảnh sát kết luận bà ta đã chết bởi vì ba trên năm người ở cùng bà ta đã chết còn một người thì trọng thương. Tôi đoán bà ta cũng là người duy nhất có khả năng sở hữu cái cơ ngơi này rồi biến nó thành cái huyệt chôn người”.
“Ý kiến này không tồi”.
“Rồi đến Savadov, cô ta còn đáng nghi hơn. Nếu giả thuyết bà quý tộc kia đã chết thì tức bốn trên năm người ở cùng cô ta đã chết, mà cô ta thì sống. Cứ cho là cô ta đang thập tử nhất sinh thật đi thì việc ngụy tạo vài vết thương để biến mình thành nạn nhân cũng chẳng phải chuyện khó tưởng tượng. Tôi đoán cô ta giả ngờ nghệch để làm mấy người kia mất cảnh giác sau đó ra tay đấy. Hơn nữa ai cũng có bằng chứng cho lí do mà họ lên đảo: Klatinrofto là đi thị sát đất, trong thư bà ta ghi rõ rành rành. Lão Dinamil thì là trúng thưởng du lịch gì đó, Lesis thì là đi nhận việc. Tuy tôi chưa vào được phòng Fiodor nhưng tôi chắc nếu tìm kĩ trong đống di vật của ông ta thì cũng ra được lí do ông ta lên đây. Chỉ riêng Savadov là không có lí do lên đảo rõ ràng, vì sao ư? Khung cảnh hiện tại chính là lí do đây, cô ta lên đây là để tiễn mấy người này về bên kia thế giới”.
Downson vừa gật gù nghe Sephira nói vừa đậy lại vải trắng lên thi hài, đến khi cô kết thúc mạch suy luận của mình thì anh ta không nhịn được mà bật cười.
Thái độ của anh ta khiến Sephira xấu hổ vô cùng, nhất là khi cô biết những lời mình vừa nói ra ngớ ngẩn phần nhiều và giọng cười kia cho thấy rõ là anh ta đang chế giễu mình.
“Này, tôi nói sai thì anh sửa lại chứ mắc gì lại cười kiểu đó?”. Sephira thẹn quá hóa giận mà nói.
Downson xách túi vôi đi ra phía cửa, hắn ngoảnh đầu lại nhìn cô: “Coi kìa. Tôi đâu có bảo là cô nói sai, chỉ là suy luận chưa được kiểm chứng thôi. Nhưng tôi phải nói là cô suy luận nhiều lỗ hổng lắm”.
Sephira đi theo anh ta ra khỏi phòng. Lúc bấy giờ Downson mới giải thích.
“Cô cũng thông minh nhưng còn hơi ngây thơ, mấy lời cô nói cũng có lí nhưng mà có vài điều cô chưa biết”. Downson mở đầu như vậy. “Thứ nhất, Savadov có lí do hợp lí khi đến đây. Đó là một lá thư được gửi từ bệnh viện của cô ta, gợi ý rằng Boun là nơi nghỉ dưỡng thích hợp để phục hồi sức khỏe. Lá thư đó nhoe nhoét máu khi bác sĩ cắt áo cô ta để sơ cứu và hiện nó đang được bảo quản ở Sở Cảnh sát rồi”. Anh ta ngưng một chút. “Thứ hai, nếu cô ta thực sự là chủ mưu, dày công sắp xếp từng cái chết một cách tinh vi như cô nói, cô ta còn giả điên, thậm chí làm giả cả hồ sơ bệnh án và thư giới thiệu đấy, thì việc để mình trở thành kẻ sống sót cuối cùng, kẻ đáng nghi ngờ nhất, là một nước cờ quá ngu ngốc. Một kẻ đủ thông minh để lên kế hoạch giết bốn người mà lại mắc sai lầm đó thì có hợp lí không nhỉ?” Anh ta nhìn thẳng vào mắt cô: “Cô nghĩ sao?”.
Sephira không biết nên trả lời thế nào, thực là cô cũng chẳng biết.
“Rồi giờ ta qua đến bà Klatinrofto. Ban đầu cảnh sát nhìn vào hiện trường là đã nghĩ ngay đến việc tra cứu về mối quan hệ của cả năm. Mất chưa đến một ngày là xác định được ngay: họ chưa từng gặp nhau trước chuyến đi này. Với Dinamil và Klatinrofto, họ có chạm mặt ở vài sự kiện xã hội nhưng chưa bao giờ nói chuyện quá mười phút, lĩnh vực mà hai người họ quan tâm cũng chẳng giao nhau mấy. Nên động cơ của bà ta là gì? Một quý bà giàu có, có địa vị, bỗng dưng bày ra cả một vở kịch công phu chỉ để giết một bệnh nhân tâm thần, một gã nghiện rượu nghèo khổ, một nhà phát minh già nua, và một ông Người Hầu Thánh?”.
Sephira lại không phản bác được gì ngoài một câu chống chế yếu ớt: “Thế thì anh phải nói cho tôi biết mấy thông tin đó từ đầu chứ. Anh tỏ ra thông minh cái nỗi gì, chẳng qua là anh biết trước những gì tôi chưa biết”.
Downson lại phì cười lần nữa: “Tôi lại cứ tưởng cô sẽ hay hơn cơ. Xem ra tôi kì vọng hơi nhiều”.
Sephira trốn về phòng mình để ghi lại những thông tin mình vừa biết, đồng thời là để đỡ xấu hổ sau màn suy luận sổi vừa rồi với Downson. Cô cảm thấy gã đó cứ khinh khỉnh làm sao, nhưng lạ thay cô lại không thấy khó chịu vì điều đó. Khi nghĩ lâu hơn, cô đoán vì trong mắt mình, Downson đang đóng vai người hỗ trợ hết công suất, không như Bell hay Arat cứ làm ra mấy chuyện khiến cô bị cản trở mà còn bực mình.
Sephira tự giam mình trong phòng đến buổi trưa để viết tiếp bài báo. Trong lúc viết, cô cảm thấy nếu dồn tất cả thành một bài báo dài thì vừa tốn công vừa bất khả thi, vì thế cô quyết định sẽ tách bài báo ra thành từng đoạn nhỏ để đăng dần - đúng như mong muốn của ngài Giredald về tin độc quyền. Chỉ vừa nghĩ đến cảnh từng bài báo ngắn của mình, vừa thú vị lại vừa dày đặc thông tin về những gì bản thân đã tìm được, được cho in là cô đã thấy tràn trề động lực dù có bị lão Bell hay Arat gây khó dễ thế nào.
Sephira nghĩ đến chuyện báo tin cho Giredald. Cô nhớ đến cái chòi liên lạc ở gần dinh thự nhưng lại bị khóa.
“Thế thì không muốn cũng phải nhờ đến Downson”.
Buổi trưa, lão Thanh tra đi tắm biển và rồi dùng bữa ngoài đó, hại lão hầu Arat phải chạy ra chạy vào tất bật trong khi Sephira và Downson thì nhàn nhã ngồi ăn trong bếp.
Được dịp thoải mái ngồi ăn uống mà không bị lão Bell làm phiền, Sephira liền đề nghị Downson giúp mình đánh điện liên lạc với người ở tòa soạn. Downson không dông dài gì mà đồng ý ngay, hắn nói trong đất liền đã lệnh giờ liên lạc là tám giờ sáng và tám giờ tối hàng ngày, nên sau khi ăn tối xong thì cô có thể theo hắn ra chòi để điện báo.
Sephira lại nói đến chuyện vụ án một lần nữa. Tinh thần điều tra và săn tin của cô đang dâng cao hơn bao giờ hết và dường như sẵn sàng để tiếp thu thêm bất cứ thông tin nào mà cảnh sát cung cấp.
Vậy mà Downson đáp lại lòng nhiệt huyết của cô bằng một gáo nước lạnh: “Còn gì nữa đâu, như thế thôi đó”.
Thấy Sephira tiu nghỉu, hắn mới dặm thêm: “Tôi đã nói là cảnh sát phải vội vàng như thế nào mà. Nếu cô kịp lục tung mớ di vật kia và tìm thấy gì thì cô cứ tìm đi, giờ thì cô còn có khả năng điều tra vụ này hơn cảnh sát đấy”.
Sephira cảm thấy lời hắn nói có gì đó bất hợp lí, nhưng cô nhất thời lại chẳng biết chỗ nào bất hợp lí.
Vì cả đêm qua mất ngủ, buổi trưa đó Sephira đánh một giấc đến khi mặt trời đã gần khuất dạng, chỉ để lại phía đường chân trời một vệt cam kéo dài nhập nhoạng.
Lão Arat đập cửa phòng với một cung cách có vẻ mất kiên nhẫn kèm theo cái giọng ồm oàm khó chịu: “Xuống ăn cơm, xuống ăn cơm”.
Khi Sephira xuống phòng ăn thì khung cảnh cũng giống như sáng hôm đó, tên Thanh tra béo và Downson đã ngồi sẵn và bắt đầu dùng bữa, lão Arat có lẽ đã đóng xong cỗ quan tài nên không còn loay hoay ngoài sân nữa mà vừa kéo vừa khuân nó vào cất dưới gầm cầu thang.
Sephira hẵng còn thắc mắc gã đóng quan tài cho ai, nhưng khi nhớ lại điệu bộ sùng kính thái quá của gã với ông hầu Thánh Wellowe thì cô hiểu ngay.
Trong bữa cơm viên Thanh tra kể về gia đình của mình. Mặc dù không mấy hứng thú vào ban đầu nhưng Sephira bị cuốn vào câu chuyện lúc nào không hay. Vợ của ông ta là một gia sư tại gia, hiện tại đang làm việc cho một gia đình Nam tước có ba cô con gái và một cậu quý tử. Công việc hàng ngày của bà ta là dạy chữ cho bọn trẻ và săn sóc mấy đứa con gái. Ông ta kể bà vợ đã định nghỉ việc vào cuối năm ngoái, nhưng bà Nam tước thiết tha giữ lại, còn tăng lương nên bà ấy quyết định làm tiếp.
Sephira còn biết thêm rằng nhờ sự giúp đỡ của bà Nam tước mà đám con cái của Bell có cơ hội học ở ngôi trường nữ sinh hạng sang. Chỉ nghe tên trường thì biết ngay đấy là một trong những ngôi trường của bà quý tộc đang mất tích trên đảo này - Trường Nữ sinh Độc lập Klatinrofto. Bell nói đến đó thì lại huênh hoang về độ chọi của ngôi trường, và rằng những học sinh được vào đó đều phải qua mấy vòng lọc hồ sơ và thi năng khiếu gắt gao. Đứa nào tốt nghiệp từ đây thì mặc định sẽ có ngay một địa vị xã hội đủ để kiếm được đức ông chồng khá khẩm với khối tài sản đủ tiêu pha cả đời.
Sephira nghe đến đấy thì lại ngán ngẩm.
“Lại khoe khoang nữa rồi đó”. Cô không tránh được một câu nghĩ thầm như thế.
Kết thúc bữa ăn, khi lão Arat dọn đồ tráng miệng lên thì Downson rời khỏi bàn với lí do đi nghe điện báo. Sephira cũng đứng dậy và tìm một cái cớ để rời đi theo anh ta: “Tôi no quá rồi nên không ăn tráng miệng đâu, tôi đi dạo một lát”.
Lão Bell thì không nghi ngờ gì, nhưng ánh mắt chằm chằm của lão Arat khiến cô hơi chột dạ. Cô cảm giác lão già này không có ấn tượng tốt với mình từ lần gặp đầu tiên, và sau sự vụ bị bắt gặp trước cửa phòng ông Wellowe tối hôm trước thì lão càng ác cảm với cô hơn. Nhưng gì thì gì, giờ chẳng phải lúc để cô bận tâm đến lão.
Sephira chạy biến theo Downson và đuổi kịp khi anh ta rẽ vào con đường mòn đi đến chòi liên lạc.
Cảnh vật ban đêm khác hẳn so với bên ngoài. Nếu để Sephira tự tìm đường ra đây vào lúc này thì trăm phần trăm cô sẽ đi lạc bởi cây cối và rồi chẳng có điểm sáng hay chỗ đánh dấu gì.
Downson dùng chìa khóa giắt bên người để mở cửa sau đó ra hiệu bằng tay cho Sephira đi vào cùng.
Bên trong nồng mùi kim loại và mùi gỗ ẩm, lẫn trong đó còn có mùi khét và mùi tử khí rất đậm. Cô lại nhớ đến nguyên nhân tử vong của lão Dinamil - bị điện giật chết.
Trên hòn đảo này ngoại trừ dinh thự và cái chòi này ra thì chẳng còn chỗ ở nào khác, mà trong dinh thự thì chẳng có hệ thống điện nên nếu Dinamil bị điện giật chết thì chỉ có thể ở ngay đây.
“Này, ông nhà khoa học chết ở đây à?”. Sephira hỏi trong khi nhìn Downson loay hoay với cỗ máy và một mớ dây nhợ.
Downson không ngẩng lên nhưng vẫn xác nhận: “Ừ, lão chết cứng ở đây”. Khi có vẻ đã lắp xong máy móc, Downson ngồi xuống chiếc ghế đẩu. “Có vẻ lão tự tin về khả năng sửa chữa của mình lắm nhưng không ngờ bị mớ dây điện và máy móc này lấy mạng”.
“Thế là chỗ máy liên lạc này bị hư sao?”.
“Theo lời của Arat thì cả mấy năm nay chẳng có ai sử dụng nên nó bị bỏ xó cho hư đấy”. Downson đột nhiên dừng lại như nghĩ ngợi gì. “Cơ mà chẳng hiểu sao Dinamil lại nổi hứng đi sửa cái máy rồi bị điện giật chết”. Anh ta quay lại nhìn cô, nở một nụ cười. “Đây cũng là một điểm đáng lưu tâm đó cô phóng viên, cô nghĩ sao?”.
Sephira cẩn thận suy nghĩ về thông tin mà Downson vừa cung cấp.
Nhưng qua một lúc mà cô chẳng suy đoán ra được thêm khả năng gì.
“Chắc ông ta muốn liên lạc gì đó với trong đất liền rồi”. Cuối cùng cô đành nói một chuyện hiển nhiên mà ai cũng biết.
Tuy nhiên Downson chẳng nghe được câu trả lời của cô. Anh ta đã đeo bộ tai nghe và nhìn chằm chằm vào chiếc máy nhảy chữ đang nhảy ra từng mã Morse theo âm thanh “tít, te”.
Sephira quan sát xung quanh, cỗ máy vốn ở đây đã bị hỏng sau vụ tai nạn chết người của Dinamil, và thiết bị liên lạc mà Downson đang sử dụng kia chỉ là một thứ được lắp ráp tạm bợ với những đường dây điện chắp vá và những thứ máy móc hư thì bị dạt sang một bên để chừa chỗ cho cái máy tạm thời.
Sau khi nghe xong tin báo từ bên kia, Downson bắt đầu soạn câu trả lời. Anh ta ngồi thẳng lưng, tay phải đặt lên phím điện báo bằng đồng đã xỉn màu. Gã gõ từng nhịp dứt khoát, mỗi lần nhấn là một xung điện chạy dọc theo sợi dây đồng mới nối, truyền thông tin vào tận đất liền. Những ngón tay gã di chuyển thuần thục, không chút do dự. Trong không gian tĩnh mịch, chỉ còn tiếng lách cách khô khốc của phím gỗ và tiếng côn trùng rả rích ngoài khung cửa sổ ọp ẹp.
Xong xuôi vụ liên lạc với bên cảnh sát, Downson nhìn qua Sephira rồi hỏi: “Cô muốn truyền tin gì thì ghi ra giấy rồi đưa tôi, ngắn gọn thôi”.
Sephira nghĩ ngợi một hồi rồi ghi vào tờ giấy được Downson truyền cho mấy chữ: “Đã có bài. Ít nhất 5”.
Downson nhận tờ giấy từ Sephira và đọc qua, sau đó gã lại bật cười hỏi ngược lại: “Cô chắc là muốn gửi cái này đi không?”.
“Ý anh là sao?” Sephira hỏi lại với giọng khó chịu. Cô bắt đầu ghét cái kiểu nhởn nhơ ta đây của tên này khi tỏ ra mình biết nhiều hơn.
“Cái máy này là kênh liên lạc công khai, ai cũng có thể nhận được tin báo từ đảo đấy. Cảnh sát chúng tôi liên lạc còn phải dùng…”.
Sephira chặn lời anh ta: “Đừng có lừa tôi. Tuy tôi không rành vụ máy móc này nhưng cũng biết chiếc máy này chưa tân tiến đến mức biết được nguồn phát tin và nguồn thu tin đâu, nếu không thì những thông tin mà anh và Sở Cảnh sát trao đổi đó giờ đã lộ hết và phóng viên đã ùa đến đây rồi”.
Gương mặt Downson xụ đi vì trò lừa của mình bị phát hiện, nhưng gã ta có vẻ cũng chẳng mấy xấu hổ vì chuyện đó mà lại tiếp tục cười cười: “Thế à? Cũng thông minh đấy”.
Sephira nhìn Downson gõ các con chữ của mình thành mã Morse, nhưng trong khoảng một lúc lâu thì không có bất cứ phản hồi gì. Làm đi làm lại chừng vài lần thì Downson bỏ ống nghe ra và quay sang nói với Sephira: “Chịu rồi, bên tòa soạn chẳng có phản hồi, chắc là không có người trực”.
Sephira nghiêng đầu tỏ vẻ khó hiểu. “Thế thì lạ thật. Luôn có người trực chứ, tòa soạn nhận tin nóng từng giây từng phút mà”.
“Tôi chẳng biết”. Downson đứng dậy và dọn dẹp mọi thứ, đẩy ghế vào trong sau đó hai người cùng đi ra ngoài.
Trong lúc đi bộ về dinh thự, Sephira lại hỏi Downson về chuyện của Dinamil.
“Vậy ngoài chuyện ông ta bị điện giật chết, hiện trường còn có gì khác không?”.
Downson ngẫm nghĩ một lúc rồi nói: “Cái sổ tay của ông ta, chỉ vậy thôi đó”.
Sephira cảm thán: “Khó khăn nhỉ? Vụ này cứ rối mù làm sao, tôi chẳng hiểu gì cả. Năm người chẳng có liên hệ gì với nhau, chết cùng một lúc ở cùng một nơi”.
“Chết cùng một lúc?”. Downson lặp lại lời cô vừa nói. “À, không hẳn. Lúc khám nghiệm sơ bộ pháp y có nói, dựa vào độ co cứng và tình trạng phân hủy của thi thể mà phán đoán thì Dinamil và Lesis đã chết trước Fiodor. Nhưng cái khiến họ chắc chắn nhất lại nằm ở chính cô Josephine kia. Cô thử nghĩ mà xem, vết thương của cô ta rất nặng, kiểu vết thương chí mạng đó, nếu không được cấp cứu kịp thời thì nạn nhân sẽ chết rất nhanh. Vậy mà khi chúng tôi ập đến, cô ta vẫn còn thoi thóp. Điều đó chỉ có thể giải thích là cô ta bị đâm ngay trước khi chúng tôi nhận được tin báo và ra đảo. Mà hung thủ đâm cô ta, theo hiện trường, chính là Fiodor, rồi lão ta bị nhồi máu cơ tim chết ngay sau đó. Thế nên chuỗi cái chết tạm thời kết luận là thế này: Lesis và Dinamil chết trước, Fiodor là kẻ cuối cùng”.
Sephira vừa đi bộ về dinh thự vừa ngẫm nghĩ về những thông tin mà Downson cung cấp. Giờ thì cô đã tìm được đầu dây của cuộn chỉ rối, cốt yếu bây giờ là làm sao từ đó mà gỡ cuộn chỉ.
Hai người đi về dinh thự. Thanh tra Bell đã chuyển địa điểm thưởng thức mấy món tráng miệng từ phòng ăn sang phòng khách, lão Arat thì đang lui cui dưới gầm cầu thang với cái quan tài.
Downson đi vào phòng khách để thông báo với cấp trên của mình về điện tín từ đất liền. Sephira không vào cùng nhưng cô đứng bên ngoài, vừa đủ để nghe được rằng sáng ngày mai đoàn cảnh sát sẽ ra, các thi thể sẽ được chuyển vào đất liền để khám nghiệm và người ta sẽ bắt đầu xới từng thủa đất trên đảo để tìm manh mối.
Sephira trở về phòng mình, chuyện đầu tiên cô làm là viết lại những gì mà Downson vừa nói thành một bài báo nữa, giữ đúng lời hứa dù nó chưa đến tai người được hứa, là sẽ có ít nhất năm bài báo do cô viết về vụ án này.
Xong xuôi, Sephira đi tắm bồn và trong lúc đó thì đọc lại những gì mình vừa viết. Có nhiều điều Downson nói ban nãy khiến cô băn khoăn, nhưng cái hiện thời nhất là lí do vì sao Dinamil sửa hệ thống liên lạc. Lão lên đây để nghỉ dưỡng mà giữa chừng lại nổi hứng mày mò một cái máy cũ kĩ đã hỏng hóc đủ thứ rồi để nó lấy mạng mình.
Thế thì phải có một lí do đủ cấp bách để thôi thúc gã chứ, nhưng lí do đó là gì?
Sephira bèn quyết định ngay tối đó phải đi lại một chuyến vào mấy căn phòng kia, không thì chẳng còn cơ hội nữa.
Đến hơn nửa đêm, Sephira lại chuẩn bị cửa phòng như tối hôm trước và bước ra hành lang. Rút kinh nghiệm từ chuyện đêm hôm trước với lão Arat, lần này cô thậm chí còn không mang dép.
Sephira vào phòng của Dinamil trước thảy. Cô mang theo một giá nến từ phòng mình để thắp sáng rồi soi kĩ từng ngóc ngách trong căn phòng chứa xác nhưng hiển nhiên không dám đụng đến thi thể.
Vậy mà Sephira chẳng kiếm được gì, hơn hết là vì cô chẳng biết mình đang tìm điều gì. Cô đành hướng sự chú ý qua mấy món vật dụng của nạn nhân, mà thứ khiến cô quan tâm hơn hết là cuốn sổ ghi chép của ông ta.
Không như đêm trước, không gian tối tăm và Sephira thì nơm nớp lo lắng, đêm nay cô bình tĩnh và ung dung hơn nhiều, chí ít là đủ để có thể thản nhiên ngồi trên ghế bành trong phòng và giở từng trang của cuốn sổ.
Trời không phụ kẻ có lòng, Sephira quả thực tìm được một manh mối, đó là dòng chữ ghi vội ở một trang - một trang ở phía giữa cuốn sổ nơi ông ta giải thích về các thứ mạch điện và nối dây. Dòng chữ ấy có nét mực mới so với những dòng chú thích khác, đó là lí do mà cô chú ý đến, và vị trí của nó cũng là lí do vì sao mà cô bỏ sót vào tối hôm qua.
“Người bị ngã nặng. Cứu hộ gấp”.
Có lẽ đây chính là bản giấy nháp mà Dinamil ghi trước khi đánh nó trên máy để đề phòng sai sót.
“Chỉ một dòng thế thôi mà bao nhiêu chuyện được giải mã”. Sephira nghĩ thầm. Giờ thì đã rõ, Lesis chính là người bị ngã, còn Dinamil là kẻ vội vàng sửa cái máy đó để liên lạc cứu hộ. Vậy là nguồn cơn cho cái chết của ông ta chính là chuyện Lesis gặp nạn, thật là xui xẻo, muốn làm anh hùng nhưng lại trở thành kẻ thiệt mạng.
Sephira đứng dậy và trả cuốn sổ về chỗ cũ, trong lòng tràn ngập hân hoan. Cô nhìn qua bên giường nơi Dinamil đang nằm chỏng gọng, nở một nụ cười nhạt: “Thôi thì ông cũng đã cố gắng cứu người, tiếc là lại thành rước họa vào thân”.
Điểm đến tiếp theo là phòng của Lesis.
Trong lúc đi từ phòng bên này sang bên kia, chẳng hiểu sao Sephira lại nhớ đến khung cảnh thủy triều dâng cao mà mình thấy qua cửa ban công phòng từ tối hôm trước. Cảnh tượng ấy lúc đó khiến Sephira thấy sợ và bất an, nhưng giờ đây cô lại thấy nó đúng là một khung cảnh thơ mộng và còn may mắn.
Qua phòng của Lesis, Sephira cũng làm giống như bên phòng của lão nhà phát minh, cô dùng nến soi và tìm tỉ mỉ từng ngóc ngách. Ngay lúc cô tưởng nơi này cũng chẳng có gì để để ý như căn phòng bên kia thì một ánh phản quang từ dưới chân giường đặt xác chết khiến Sephira chú ý. Cô tiến lại gần rồi quỳ xuống, đặt giá nến ở bên cạnh rồi thò tay vào trong lấy vật phản chiếu ấy ra.
Đó là một chai rượu thủy tinh màu mật ong.
Sephira nhìn chai rượu rồi như ngẫm nghĩ điều gì, cô lại soi ánh nến vào sâu trong gầm giường. Cảnh tượng bên trong khiến cô giật mình - có tầm vài chục chai rượu được xếp ở phía dưới đó.
Như nhớ lại điều gì, Sephira vội ngồi dậy và chạy sang bên chỗ đặt các đồ dùng của Lesis. Trong đó có hai bình thiếc đựng rượu mà cô đã nhìn thấy tối qua. Sephira mở một bình ra, sau đó cố khui nút bần của chai rượu thủy tinh bằng dụng cụ mở khóa mà mình mang theo. Âm thanh nút bật ra trầm và đục nhưng không quá lớn, dù vậy nó vẫn khiến cô giật mình thon thót vì sợ bị phát hiện.
Thông qua mùi, Sephira xác nhận rượu trong hai bình là cùng một loại, tuy nhiên rượu ở bình thiếc còn lại thì là một loại khác.
Sephira bèn đi lại gầm giường và kiểm tra những chai khác, tất cả đều cùng một nhãn hiệu và năm sản xuất.
Lesis chết vì ngã đập đầu, cảnh sát đã xác định như thế, mấy chai rượu thì có liên quan gì, trừ việc quá trùng hợp rằng Lesis là một gã nghiện rượu và được xếp ở trong căn phòng có đặt hơn chục chai rượu dưới gầm giường.
Thế này thì trùng hợp quá nhiều, mấy chai rượu thủy kinh kia rõ ràng có vấn đề!