Năm người cùng thuyền
Khoảng hơn nửa đêm, Sephira rời khỏi phòng mình, không đóng chặt cửa mà chặn lại bằng một que cời củi sao cho nếu lỡ bị ai phát hiện, cô có thể lập tức lao trở về phòng mà không tạo ra âm thanh cửa mở như vừa nãy rồi tự tố cáo mình.
Sephira quyết định kiểm tra căn phòng đầu tiên sát bên cạnh mình, phòng của người tên Oona Klatinrofto, cái tên cô đã cẩn thận ghi nhớ khi quan sát ban nãy.
Thủ thuật mở khóa cửa bằng dụng cụ thô sơ và vài mánh khóe khác là thứ Sephira học được từ một đồng nghiệp phóng viên điều tra lúc mới vào tòa soạn. Khi đó cô còn cảm thấy khó chịu vì lòng nhiệt tình thái quá của anh ta khi chỉ dạy mấy thứ thủ đoạn đê hèn này cho mình, chẳng ngờ có ngày cô lại cần dùng đến nó.
Bên trong phòng tối om, nguồn sáng duy nhất là ánh trăng từ ban công chiếu vào. Sephira đứng lặng một lúc để cho mắt mình quen với bóng tối, sau đó mới mở mắt ra và từ từ quan sát căn phòng. Căn phòng có cách bài trí giống hệt phòng của Sephira ở bên cạnh nhưng đối xứng, trừ việc bên này có cái tủ quần áo được đặt kế lò sưởi mà bên phòng cô thì chỉ có mỗi cái lò. Và đáng buồn là không như dự đoán của cô, trong đây chẳng có thi thể nào, có vẻ uổng công khi Sephira đã tự trấn an mình trước lúc bước vào.
Thế nhưng trong một căn phòng tại dinh thự đồng thời là hiện trường vụ án mà không có thi thể hay nạn nhân thì sẽ có những thứ khác, ví dụ như tư trang của họ.
Sephira nhanh chóng phát hiện những rương đồ cá nhân của bà quý tộc ở trong tủ cùng vài bộ đầm sang trọng được treo lên và một số trang sức được bày ở chiếc bàn tủ cạnh giường ngủ. Sephira nhận ra tất cả những vật dụng của bà ta đã được cảnh sát khám xét và xếp ra theo từng nhóm có đánh thẻ số. Cô kiểm tra tất cả nhưng chẳng tra được manh mối gì ngoài việc biết được địa vị quý phái và gia tài đồ sộ mà bà ta sở hữu cùng hứng thú cá nhân của bà với lĩnh vực kiến trúc và lịch sử ngành thiết kế lâu đài. Mớ trang sức và vật dụng cá nhân của bà ta nếu đem bán thì có thể nuôi sống một đại gia đình trung lưu trong vài năm. Và một điều nữa cô vừa được biết thì đây có vẻ là một mụ đàn bà hống hách và trịch thượng, cô phải thừa nhận thế khi cố đọc những lá thư bà ta viết mà chưa kịp gửi cho vài người - cô đoán là mấy đối tác làm ăn hoặc người quản gia ở nhà, tất cả đều sặc giọng ra lệnh và trịch thượng. Tuy nhiên xen lẫn với mấy lời lẽ khó chịu và hách dịch kia lại là vài chi tiết mà theo cô là thể hiện những nét tính cách đối lập trong con người bà ta, ví dụ như đoạn thư sau:
Tôi không muốn nghe thêm bất kì lời bào chữa nào nữa về việc trì hoãn sửa mái nhà kính phía Tây. Ông đang đợi tôi phải tự tay cầm búa và sửa chữa à?
Công tác kiểm tra sổ sách chi tiêu của điền trang cũng cần được hoàn thiện và khi tôi trở về thì tôi muốn tất cả đã được đặt trên bàn làm việc của mình, tốt nhất là không có bất kì sai sót nào dù chỉ là một doran (đơn vị tiền tệ giả tưởng). Còn nữa, hãy nhắc lão làm vườn rằng tôi muốn giàn hồng được cắt tỉa theo đúng kiểu năm ngoái, không phải cái kiểu sáng tạo quái dị mà lão tự nghĩ ra để làm tôi mất mặt trước mấy mụ bên Hội đồng trường trong bữa tiệc mừng sắp tới.
Và tôi phải nhắc bao nhiêu lần nữa là việc báo cáo tiến độ sửa chữa hiên nhà kí túc xá của bọn trẻ phải được cập nhật từng ngày? Ông cũng nên hỏi ngay ông luật sư xem đã có giấy phép cho việc nới rộng khu vườn của trường nữ sinh hay chưa, nếu không đốc thúc thì lão già đó chỉ biết sa đọa trong mấy bữa tiệc thối tha với bọn bên Tòa án trong khi tôi phải tất tả vì chuyến thị sát mấy mảnh đất khỉ ho cò gáy này.
O. Klatinrofto
Sephira nhẩm lại cái họ của bà ta ở cuối bức thư thêm ba lần nữa, để rồi đến lần thứ tư thì cô cuối cùng cũng có một hình dung về gương mặt của người đàn bà này, gương mặt mà cô đã từng thấy trên vài trang báo ở mục Những người có sức ảnh hưởng và mục Những mạnh thường quân tiêu biểu của Thủ đô. Bà quý tộc này là một trong những người đã tài trợ cho việc xây dựng ba trường nữ sinh trong thủ đô, giúp hơn hai nghìn trẻ em gái cơ nhỡ có đời sống tốt hơn chứ không vùi đời mình bằng cuộc sống ăn mày trên đường phố rồi kết thúc trong những khu nhà thổ. Với khối tài sản kết xù được thừa kế từ người chồng yểu mệnh, bà ta đã tự xây dựng danh tiếng và địa vị của mình và cuối cùng nhận về là sự kính nể của một bộ phận trong xã hội, một mẫu phụ nữ hết sức tân thời.
Tuy cô có ấn tượng tốt về bà ta lúc mới chỉ đọc mấy bài báo, nhưng khi làm việc ở tòa soạn được vài tháng, cô đã biết qua vài người tiền bối rằng Klatinrofto là một bà già hết sức ngạo mạn và khó chịu, bà ta thậm chí còn không che giấu hay cố tỏ ra thân thiện trước công chúng, nhưng người ta cũng không ghét bà được vì những đóng góp to lớn kia, bên Chính phủ nể mặt bà ta còn bọn quý tộc thì hết sức xu nịnh.
“Thế mà lại kết thúc đời mình ở nơi ‘khỉ ho cò gáy’ này”. Sephira thầm cảm thán.
Khi không còn gì để khai thác ở căn phòng thứ nhất, Sephira cẩn thận đặt mọi thứ lại đúng chỗ của nó và rời khỏi đó một cách lặng lẽ.
Căn phòng thứ hai mà cô nhắm đến nằm ở đối diện phòng của Klatinrofto, đấy là phòng của Jamesil Dinamil. Người này thì Sephira biết ngay mà không cần phải tốn công nhẩm tên, bởi tên ông ta xuất hiện dày đặc trên các vật dụng hàng ngày mà người ta sử dụng. Lão là một nhà phát minh với nhiều giải thưởng và đóng góp trong lĩnh vực khoa học.
Căn phòng của lão không có ban công vì thế ánh sáng tự nhiên từ mặt trăng chiếu qua ô cửa sổ hai cánh không làm nơi này sáng sủa như bên của Klatinrofto, tuy nhiên bù lại thì diện tích phòng rộng hơn và nơi này có một giá sách đồ sộ, phần nào phù hợp với tưởng tượng của cô về nơi ở của một nhà khoa học thích khám phá và tìm tòi.
Căn phòng này mang đến cho Sephira những manh mối quý giá hơn nơi cô vừa rời khỏi, ấy là vì cuối cùng suy đoán theo trực giác của cô đã đúng, cảnh sát đặt thi thể của các nạn nhân ở trong nơi họ từng lưu trú trước khi chết. Thoạt đầu cô còn tưởng rằng họ gom tất cả vào một phòng để dễ quản lí cơ chứ.
Xác của Dinamil được đặt trên giường và phủ vải trắng. Vì ánh sáng hạn chế, Sephira bèn quyết định thắp một ngọn nến để tiện quan sát. Cô nhìn thấy ở ngón chân cái trên bàn chân trái của ông ta có một mảnh giấy được móc vào bằng một sợi dây thừng loại mảnh nhỏ, trên đó ghi họ tên, tuổi và nguyên nhân tử vong của người chết.
Jamesil Dinamil, 68 tuổi, chết vì điện giật.
“Biết thế là đủ”. Sephira tự nói thầm. Dù sao cô cũng không thể tâm thần đến mức tự dọa mình bằng cách giở mảnh vải che một thi thể không biết đã thối rữa và ghê tởm đến mức nào, nhất là khi cô đã ngửi được mùi khó chịu từ khi vừa mở cửa phòng.
Vật dụng cá nhân của Dinamil gọn gàng hơn so với bà quý tộc bên kia. Chỉ có một cái túi xách với một hộp đựng khuy măng-sét, một bộ com-lê bằng vải tuýt màu nâu, vài chiếc áo sơ mi trắng cổ cứng, quần tây xếp gọn gàng. Trên chiếc tủ đầu giường là một lọ nước hoa nhỏ thuộc nhãn hiệu xa xỉ, một hộp thuốc lá cuộn với hột quẹt có khắc tên cá nhân, chiếc ví đầy tiền mặt và thứ khiến Sephira để tâm nhất - một ít giấy tờ được kẹp lại thành tập gồm một chiếc vé trúng thưởng, một chiếc vé tàu và một thư chúc mừng. Sephira đọc qua cả thể thì biết được nguyên nhân Dinamil đến nơi này - phần quà tri ân cho vị trí giám khảo của một cuộc thi giữa các nhà phát minh trẻ. Trong số đồ đạc của Dinamil còn có một cuốn sổ tay loại lớn và dày cộm, trong đó ghi chép kĩ lưỡng các ý tưởng phát minh và cách lắp ghép cũng như sử dụng chúng, tất cả được chú thích một cách chi tiết như sách giáo khoa hướng dẫn.
Phòng của người thứ ba, Lesis, ở sát cạnh phòng của Dinamil. Ngược lại với hai người kia, dựa vào những tư trang cá nhân của ông ta, Sephira cảm thấy gã này có vẻ là một tên trung lưu mạt hạng nếu không muốn nói là nghèo khổ. Chỉ có một bộ quần áo cũ với vài đường chỉ đã sứt mòn, một cái mũ đội đầu kiểu dáng cổ lổ từ hơn chục năm trước, hai bình thiếc đựng rượu mà một trong số đó còn đến hơn nửa bình và một cái ví tiền chẳng có nhiều hơn vài đồng xu lẻ. Thứ quý giá nhất của gã là một cái đồng hồ quả quýt bằng vàng được giữ trong cái ví nhỏ lót nhung. Trái ngược với chiếc túi rẻ tiền và bộ quần áo thể hiện rõ sự nghèo khổ, cái đồng hồ quả quýt của Lesis thuộc một thương hiệu có tiếng và được làm từ vàng, trên nắp ngoài chạm khắc một đóa hoa hồng đang bung nở, nó được bảo quản kĩ lưỡng và đánh bóng thường xuyên nên không một vết ố hay trầy xước. Trên nắp mở phía trong là hình một thiếu nữ duyên dáng với gương mặt khả ái, mái tóc sáng màu cùng hai lúm đồng tiền. Bên kia là mặt số tráng men trắng ngà với những con số La Mã mảnh dẻ được vẽ bằng tay. Kim giờ và kim phút bằng thép xanh, vẫn chạy đều đặn dù chủ nhân đã thành một cái xác vô tri ở trên giường bên kia. Ở góc dưới mặt số, một ô cửa sổ nhỏ hiển thị ngày tháng và tên thương hiệu. Dựa trên hình thức của chiếc đồng hồ được bảo quản cẩn thận, Sephira đoán cô gái trên nắp kia hẳn là một người quan trọng với Lesis.
Sephira thầm suy đoán người trong bức ảnh kia có lẽ là vợ của Lesis, và không có gì nghi ngờ là dường như cô ta đã chết vì năm sinh và năm mất được ghi rõ ở chân ảnh. Nhưng khi xoay qua kiểm tra thi thể cùng mảnh giấy ghi thông tin được móc vào ngón chân thi thể, cô lại nhận ra đây là con gái của hắn thì hợp lí hơn dựa theo số năm sinh của hai người. Mà cũng có thể chẳng phải như cô đoán, vì biết đâu gã này lại thích gái trẻ và việc một tên già nghèo kiết xác lại nghiện rượu đem lòng tương tư một quý tiểu thư rồi đánh cắp chiếc đồng hồ cá nhân của cô ấy để tưởng nhớ sau khi nàng qua đời có vẻ sẽ là câu chuyện thú vị hơn.
Nhắc đến chuyện tuổi tác và mối quan hệ tình ái lại làm Sephira nhớ lại vài vụ tai tiếng của nhà khoa học Dinamil nằm thẳng cẳng bên phòng kia. Cứ cách vài tháng là người ta lại đồn đại vài vụ trăng hoa của Dinamil với mấy cô thiếu nữ hoặc vợ của vài nhà tài trợ bị hắn sàm sỡ hay đeo bám. Tuy nhiên những tin đồn kiểu này bị dập tắt rất nhanh bởi những kẻ ngưỡng mộ tài năng của hắn và bên phía chính quyền cũng ra sức răn đe những kẻ tung tin rồi đính chính tất cả đều là bịa đặt. Nhưng những lời đồn xuất hiện nhiều như thế thì người ta cũng thầm biết có phần trong đó là sự thật rồi.
Trong số các đồ vật của Lesis, Sephira còn tìm được một lá thư, đọc sơ qua nội dung thì cô biết rằng đây là thư gửi từ một hãng môi giới việc làm, họ đã giới thiệu cho ông ta công việc phụ bếp với mức lương cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung. Nơi mà ông ta được gọi đến chính là đảo Boun. Vậy ra đây là một người làm công xấu số chết vì “tai nạn lao động”, như trong thẻ thông tin kia ghi, ông ta bị ngã đập đầu.
Căn phòng thứ tư mà Sephira ghé đến là của một người phụ nữ, dựa theo quần áo cô ta để lại, có vẻ người này chưa quá trung niên như Oona và cũng không nghèo khổ như Lesis, Josephine Savadov. Khi kiểm tra, nói đúng hơn là lục lọi, tư trang của Josephine, Sephira biết ngay người đàn bà này là một ả tâm thần bệnh hoạn. Ả có sổ ghi chép lịch sử thăm khám trong Viện Tâm thần ở vùng ngoại ô cùng tên tuổi và năm sinh, quê quán cùng một lô lốc thuốc men để trị mấy bệnh hoang tưởng và một cuốn nhật kí vẽ nguệch ngoạc mấy hình ảnh kinh dị quái thai của các sinh vật như bước ra từ thần thoại ma quỷ hay truyện cổ tích dùng để dọa bọn trẻ.
Khác với ba người kia, Sephira không tìm thấy manh mối gì về nguyên nhân Josephine lên đảo, và càng kì quái hơn nữa là trong phòng này không có xác. Điều này khiến Sephira rơi vào hoang mang ngay vì theo thông tin cô biết là có bốn thi thể và chỉ một người sống sót, nhưng ở đây chỉ mới có hai thi thể và hai người mất tích, còn một người nữa thì phải qua căn phòng cuối cùng kia mới biết, nhưng vậy thì người kia đang ở đâu nếu chỉ có một người đang ở trong bệnh viện?
“Chẳng lẽ một thi thể vẫn còn chưa tìm thấy?”. Sephira thầm nghĩ ngay như thế.
Sephira rời khỏi căn phòng của Josephine và đi đến căn phòng cuối cùng, phòng của Fiodor Wellowe - một Người Hầu Thánh rất kính đạo, được nhiều người kính trọng. Sephira không phải một người sùng đạo nhưng gã này cũng nổi tiếng không kém Oona hay Jamesil nên cô biết ngay về hắn khi đọc tên, mà thực ra có vẻ gã này còn nổi hơn hai vị kia, Sephira nghĩ thầm như thế, vì Doraleth là một quốc gia sùng đạo và kính Thánh vô cùng, xem chừng người ta tôn trọng một người tu hành còn hơn một kẻ học cao.
Không hiểu sao so với tốc độ trôi chảy khi phá khóa những căn phòng vừa rồi, Sephira lại gặp khó khăn với căn phòng cuối này. Dù cô đã cố gắng kết hợp kĩ thuật điêu luyện cũng như kinh nghiệm của mình nhưng chốt bật vẫn chưa chịu nảy ra.
Đương lúc loay hoay và bắt đầu lo lắng, Sephira cảm thấy như có một luồng hơi ấm từ đâu phả vào da mình. Một luồng tê rần như điện giật chạy dọc sống lưng Sephira vì cô biết hành lang này nãy giờ không có hơi gió nào cả.
Sephira dời mắt từ lỗ khóa sang cánh tay của mình thì xuyên thẳng vào mắt cô là gương mặt của lão hầu già với đôi mắt mở trừng trừng đang nhìn mình.
Sự xuất hiện bất ngờ của lão khiến Sephira kinh hoảng đến mức ngã nhào ra sau, cổ họng cô muốn hét lên vì sợ nhưng nghẹn lại như đang bị ai bóp chặt cổ.
Lão hầu già vẫn cứ nhìn cô bằng đôi mắt mở to bất thường, đồng tử như một cái chấm đen nằm giữa một quả cầu lồi trắng. Gương mặt lão thộn ra không chút cảm xúc và giữ nguyên như vậy, như thể gã là một nạn nhân xấu số của Medusa và con quỷ đó đã hóa đá lão trong tư thế với gương mặt dị thường kia vĩnh viễn.
Sephira như chết cứng nửa nằm nửa ngồi dưới sàn hành lang. Chừng vài phút sau, khi cô nghĩ lão này sẽ không lên tiếng hỏi han gì nên mới định từ từ lùi về sau rồi chạy về phòng thì lão lại lên tiếng, vẫn bằng cái chất giọng ồm ồm như ngậm đàm trong cổ họng kia: “Cô làm gì ở trước phòng của ngài Wollowe vậy?”.
Biểu cảm trên mặt lão vẫn không thay đổi gì khi lão nói chuyện, chỉ có đôi môi là lúc đóng lúc mở. Sephira nghe được cả tiếng mình nuốt nước bọt và tiếng tim đập thình thịch của bản thân ngay lúc đó. Cũng may đầu cô nhảy số kịp thời.
“Tôi mộng du”. Cô nói rồi lồm cồm ngồi dậy, sau đó chạy biến về phòng với tốc độ nhanh nhất có thể mà đầu óc thì bắt đầu trống rỗng không nghĩ được gì.
Sau khi đã yên vị trong phòng của mình với cánh cửa đóng chặt, Sephira thở lấy thở để như một kẻ bị ai đó bóp mũi nãy giờ. Hóa ra từ khi lão già kia xuất hiện, cô đã hoảng đến mức quên cả thở.
Nhưng điều khiến Sephira hãi hùng nhất là cách lão ta xuất hiện lặng lẽ, không một tiếng động như thế.
Việc không đột nhập vào căn phòng cuối cùng kia khiến dự định tối nay của Sephira tan tành một phần, nhưng những thông tin cô thu thập được vừa rồi cũng đã giúp cô không đến nỗi trắng tay. Chí ít thì cô đã biết được nguyên nhân ba người trong số họ lên đảo và nguyên nhân nào cũng có vẻ khá bình thường chứ chẳng khả nghi như cô thoạt nghĩ ban đầu.
Thế rồi Sephira lại nhớ đến nguyên nhân cái chết của hai người đàn ông, một người bị điện giật còn một người bị ngã đập đầu, những cái chết mà thoạt đầu nghe thì có vẻ như là tai nạn bình thường tương tự như lí do họ lên đảo, nhưng nếu bốn người chết và một người bị hại đến thoi thóp tại cùng một nơi trong một khoảng thời gian nhất định thì chẳng phải là tai nạn nữa, có trùng hợp thì cũng đâu đến mức này. Chí ít thì trong trường hợp này lời của ngài Giredald đáng tin và đây là một vụ án mạng liên hoàn.
Vậy thì ai là hung thủ?
“Cả năm người cùng lên đảo…”. Sephira vừa nghĩ ngợi vừa nhìn ra ban công hướng ra bãi biển. Bãi cát ban nãy nơi cô đặt chân lên giờ đây đã trở thành một vùng nước mênh mông, nước đen ngòm ở khắp nơi và Sephira cảm giác như nước đã tràn đến ngay dưới chân dinh thự mình đang ở, bến tàu đã biến mất như chưa từng tồn tại, hòn đảo như một con thuyền có thể bị nhấn chìm bất cứ lúc nào.