Nhổ neo
Lúc đó Sephira đang làm thu ngân cho một tiệm bánh ngọt trên phố. Tình hình buôn bán những ngày mưa gió chẳng mấy khả quan, cô còn đang tự hỏi hôm nay phải đổ bỏ bao nhiêu sản phẩm được tẩm đường, phết kem trên những hàng kệ kia thì người đàn bà đó xuất hiện.
Quần áo cô ta xuề xòa hết mức, áo khoác ngoài chấm gối đã sờn ở vai và cùi chỏ, bốt cao gót dính bùn lấm tấm, gương mặt có thần sắc u ám và mệt mỏi được điểm trang một cách gượng gạo bằng màu son đỏ gạch.
Khi người này bước vào, Sephira còn thầm đoán đây là một hồn ma góa phụ đến đây để mua vui bằng ít bánh ngọt. Nhưng cô ả không hề đếm xỉa gì đến mấy chiếc bánh trên kệ mà đi thẳng tới quầy thanh toán nơi Sephira đang đứng, rút từ trong túi áo khoác rộng thùng thình ra một phong thư có dấu niêm phong của tòa soạn và đặt lên bàn.
“Ngài Giredald gửi cho cô”. Cô ta nói bằng chất giọng the thé và khó nghe như người đang mắc một chứng bệnh nghiêm trọng gì đó trong cổ họng.
Nghe cô ả nói xong Sephira lại tự hỏi, từ bao giờ gã chủ tòa soạn phải gửi tin cho mình bằng kiểu trịnh trọng thế này? Thông thường chỉ cần một thằng nhóc chạy vặt đưa tin và một tờ giấy chất lượng thấp với mực viết lòe nhòe, thậm chí có khi chỉ là một câu truyền miệng.
“Trong bì thư có mọi thứ cô cần, ngài ấy nói như vậy”. Cô ả nói tiếp, ánh mắt hờ hững, lờ đờ.
“Trông như một con nghiện”. Sephira nghĩ thầm khi cầm lấy lá thư.
Trước khi rời đi, cô ả nhìn quanh cửa hàng, rồi với một cái nhếch mép thoáng qua nhanh chóng, ả buông giọng bông đùa: “Chúc cô may mắn, sớm rời khỏi cái nơi ngọt ngào ghê tởm này”.
Sephira đợi cô nàng đi khỏi mới gỡ dấu sáp niêm phong và mở bức thư. Bên trong là một tờ thư, tất nhiên rồi, một vé tàu và một danh thiếp cá nhân do tòa soạn chuẩn in, thứ đã bị tước đoạt khỏi tay cô từ một năm trước, cùng một lá thư giới thiệu. Nội dung tờ thư chẳng dài dòng mấy, nó như sau:
Cảnh sát trong Thủ đô đang lao đao trước một vụ án mạng liên hoàn xảy ra tại Boun. Bốn nạn nhân đã thiệt mạng và một người khác đang trong cơn thập tử nhất sinh. Người sống sót đang được cứu chữa trong bệnh viện Thủ đô nhưng các thi thể vẫn chưa được chuyển vào đất liền.
Đây sẽ là cơ hội vàng đưa cô quay lại tòa soạn nếu cô đến trực tiếp hiện trường và đưa tin sớm nhất.
Giredald
Sephira sững sờ, nắm chặt bức thư trong tay, không dám tin vào những gì mình vừa đọc. Để chắc chắn mình không hiểu sai bất cứ ý tứ nào của ngài Giredald, cô đọc đi đọc lại lá thư đến mức tưởng như mực viết muốn in lên nhãn cầu. Hơn hết, danh thiếp phóng viên và vé tàu đi đến đảo Boun chính là bằng chứng rõ ràng cho thấy dường như Thượng đế đã không bỏ qua những lời cầu nguyện suốt bao nhiêu giờ đứng xếp bánh nhàm chán của cô.
Sephira từng là sinh viên ưu tú tại trường đại học. Sau khi tốt nghiệp, nhờ lá thư giới thiệu đầy tâm huyết từ người thầy cũ, cộng với sự nâng đỡ từ bậc đàn anh trước hai khóa, cô đã yên vị trong tòa soạn lớn thứ hai của Thủ đô với chân phóng viên tập sự. Nhưng những lợi thế đó vẫn chưa đủ. Suốt ba năm đầu sự nghiệp, mục báo của cô chưa từng nằm ở vị trí nổi bật trên bất cứ trang báo nào, thậm chí nhiều lúc nó còn bị cắt tỉa đến mức tối thiểu để chừa lại diện tích xứng tầm cho một bài đăng giật gân nào đó được nhiều người quan tâm, mà tất nhiên là cô không bao giờ được phân phó viết.
Đến năm hành nghề thứ tư, trong một bữa tiệc xã giao, cái khuyết điểm mù đường, điểm trừ duy nhất đối với năng lực phóng viên của Sephira, lại giúp cô có được một tin mật chấn động - một bà phu nhân quý tộc đang léng phéng với một tay ma cô ở trong góc vắng. Sephira, với tính cách không biết là nhạy bén hay hấp tấp, đã lập tức viết một bài đăng với nhiều ẩn ý nói về vụ ngoại tình này. Tòa soạn đương nhiên không duyệt bài viết này của cô, nên Sephira đã nảy ra ý gửi nó đến một tờ báo sẵn sàng mạo hiểm đăng một bản tin dù biết là sẽ gây ra nhiều hậu quả khôn lường nhưng sẽ giúp danh tiếng tờ báo được nhiều người biết đến.
Tin báo đó nhanh chóng được phân phát khắp mọi ngõ ngách trong Thủ đô, và không ngoài dự đoán của Sephira, nó đã trở thành một cơn chấn động trong công chúng. Người ta xì xầm bàn tán về vụ ngoại tình và danh tính của người trong cuộc. Lắm người cảm thấy hứng thú vì chuyến phiêu lưu tình ái ngoài luồng của bà quý tộc bị phát hiện, lắm người lại thấy thương cảm cho gã chồng mọc sừng, nhưng thực chất là hả hê phần nhiều vì cuối cùng đã có một gã đàn ông phải ê mặt sau bao phen người ta thương cảm cho mấy quý bà phải chịu cảnh chung chồng và mắt nhắm mắt mở với mấy ả bồ nhí.
Sephira cứ đinh ninh rằng việc giấu danh tính người trong chuyện nhưng để lộ tên tuổi người viết bài sẽ giúp mình có được một vị thế khác trong tòa soạn, nhất là khi cái tin ngoại tình kia thực sự được công chúng quan tâm.
Nhưng cô đã nhầm, hay nói đúng hơn là xem thường khả năng săn tin của mấy kẻ quý tộc rảnh rỗi. Chỉ một tuần sau khi tờ báo được in, người ta đã biết được tên họ nữ quý tộc kia cũng như thân thế của ông chồng mọc sừng. Thậm chí bọn hầu phòng trong các dinh thự còn nắm rõ họ hàng đằng ngoại của bà quý tộc và ông tổ ông sơ của quý ông chồng xui xẻo.
Đến lúc này Sephira mới biết lí do vì sao tờ báo đó dám cho in một bản tin tiềm ẩn nhiều hậu họa thế kia - họ có đủ khả năng dàn xếp với nữ quý tộc để không bị kiện tụng, nhưng thay vào đó lại đưa con cừu xấu số là Sephira lên đoạn đầu đài với tội danh “phỉ báng danh dự” để tế thần. Sephira bị cấm bút ở mọi tờ báo, tòa soạn hạng hai của Thủ đô không đuổi việc cô vì nể mặt mũi những người đã trợ lực đưa cô vào vị trí này, nhưng âm thầm cắt tên cô ở nhiều mục tin.
Đã một năm kể từ ngày đó, Sephira giờ đây chỉ còn viết mấy bài tin vắn trên báo, ở mục đưa tin tìm người hay thất lạc đồ, mục mà giới hạn số chữ là không quá 50. Sephira sẽ không bao giờ quên ngày đó, cái ngày mà cô nhìn thấy những mục báo, dù ngắn ngủn và chẳng mấy quan trọng, do chính tay mình viết được đăng lên với tên của người khác, và ngày hôm nay, ngày mà thư kí của ông chủ tòa soạn tìm đến mình với lá thư giới thiệu, dù Sephira chẳng hiểu vì sao chủ tòa soạn lại đổi tay thư kí già dặn với kinh nghiệm thâm niên để thuê một cô nàng có vẻ quá thờ ơ và non nớt cho vị trí này.
Ngay chiều hôm đó Sephira đã nhắn cho ông chủ hàng bánh ngọt về công việc của mình, đương nhiên là với một thái độ vừa hào hứng vừa khinh khỉnh hơi quá mức, như để trả đũa những lời mỉa mai của ông ta về sự nghiệp phóng viên mà tự gã tự phụ ấy cho rằng đã “bít đường” của cô.
Tối hôm đó, Sephira thu xếp hành lí và đi ra bến cảng, tìm thấy con tàu có mã số tương ứng với dãy số ghi trên vé. Người lái tàu nhìn thấy cô thì nhiệt tình xách giúp hành lí nhưng lại không kiểm tra tờ vé mà cô chìa ra.
Boun là một hòn đảo nhỏ nằm trong số bốn hòn đảo tư nhân nhỏ nhất ở Doraleth, nằm ở vị trí khá thách thức những tay lái tàu có kinh nghiệm. Boun được bao quanh bởi một quần đảo - thứ tạo thành một dạng cổ chai mà chính nó lại đứng chắn ngay miệng chai như một gã lính gác cửa tuy nhỏ người mà cứng đầu. Từ lời của người thủy thủ, Sephira biết được vào thời điểm thủy triều lên, hòn đảo gần như bị cách li bởi vì mực nước biển ở đây cao hơn chuẩn thông thường đến gần một saman (đơn vị đo giả tưởng, 1 saman~12 mét) khiến mọi nỗ lực tiếp cận bãi biển của Boun vào thời điểm đó gần như vô dụng. Nhưng chính vì thế mà nơi này lại nổi tiếng. Bởi các bãi đá ngầm và đường bờ biển biến đổi bất ngờ khi triều lên - xuống cũng như việc để lộ đáy biển với những sinh vật phù sinh vào rạng sáng, giúp khách du lịch có hứng thú cào cát có thể giải trí trong mấy giờ rảnh rỗi. Tuy nhiên, vì địa hình nguy hiểm và nhiều rủi ro, nơi này không hẳn là một địa điểm du lịch lí tưởng.
Chiếc tàu tầm trung đưa Sephira sâu vào vùng vịnh, đánh một vòng đi ra sau bãi mới tìm được chỗ neo an toàn. Khi đã dừng mái chèo, gã lái tàu thả một chiếc thuyền gỗ chèo tay xuống bãi nước đen thẳm mênh mông kế mạn tàu lớn, đó là con thuyền sẽ đưa Sephira đến đảo Boun.
Với tính nghiêm trọng của vụ án qua lời ngài Giredald trong thư, Sephira đã tưởng tượng ra cảnh bãi biển bị phong tỏa và tuần tra gay gắt, người ta sẽ sục sạo mọi thứ và bới tung từng hạt cát. Nhưng hóa ra bãi biển vắng vẻ và yên tĩnh hơn nhiều so với hiện trường một vụ thảm sát đang làm cảnh sát đau đầu.
Người thủy thủ chỉ đưa Sephira vào đến bờ an toàn và ngay khi cô đặt chân lên một bãi đất đủ khô ráo, gã chỉ về phía ánh đèn le lói trên một bờ vách cách đó không xa kèm lời hướng dẫn: “Đó là trang viên duy nhất trên đảo. Bên cảnh sát đang tập trung ở đó cả, cô cứ đi theo ánh sáng là đến”.
Sephira nhìn theo ánh đèn treo của chiếc thuyền gỗ dần khuất tầm mắt, một cảm giác kì lạ len lỏi khắp các tế bào trong cơ thể cô. Từ đây, tương lai sự nghiệp do chính cô quyết định, thành bại là ở những giờ phút này.
Sephira làm theo lời gã thủy thủ kia, tự đi theo sự dẫn đường của ánh đèn. Cô tìm được một con đường mòn và sau một hồi quanh co lắt léo, cánh cổng lớn của trang viên đã nằm trong tầm mắt.
Trước khi gọi chuông cửa, Sephira âm thầm đi thám thính xung quanh. Dù cảnh vật đang tối tăm tối mù thì dựa vào ánh đèn từ những ô cửa trong dinh thự hắt ra, cô cũng nắm được đại khái địa hình xung quanh.
Khoảng sân của dinh thự không quá rộng ở phía trước nhưng lại bao la ở đằng sau, đặc biệt là khu vực bồn nước bằng cẩm thạch có bức tượng một gã đàn ông lực lưỡng với vẻ mặt khốn khổ vì bị con đại bàng móc những móng vuốt vào phần bụng bị phanh ra. Bức tượng được đặt tại phía trước một cổng vào bằng cây được cắt tỉa theo hình bán nguyệt. Khi bước qua cổng, Sephira đứng giữa một ngã ba nơi cô phải lựa chọn giữa việc đi thẳng, rẽ trái hay rẽ phải. Nhờ vào đó, Sephira biết rằng mình đang đứng ngay lối vào của một mê cung cây.
Sephira chỉ đi đến đó rồi trở lại trước cửa chính của dinh thự. Sau một hồi chuông, cửa bật mở và một nam hầu già có dáng vẻ lom khom, khắc khổ đứng trước mặt cô.
Sephira đưa danh thiếp mà mình được cung cấp cho ông ta kèm một câu giới thiệu tên tuổi.
Lão già nheo mày nhìn cô với ánh mắt tựa như một con hải âu đang săn mồi, rồi cái giọng ồm ồm khó nghe của lão vang lên với từng từ được phát âm rõ ràng, tách biệt: “Cô. đến. đây. làm. gì?”.
Khi nghe lão nói, Sephira tưởng như mình đang nghe một đứa trẻ học đọc. Tuy nhiên trong tích tắc đó, cô bỗng nảy ra một ý.
Sephira đáp lại với thái độ lịch sự: “Tôi là phóng viên của Tạp chí Địa lí Đế chế, tôi đến đây để viết bài về hòn đảo này theo lệnh của Tổng Biên tập.
Lão lại nhìn Sephira một lượt từ chân lên đầu. Cô tưởng mình đã được chào đón nhưng hóa ra lão lại trở ngược vào trong sau một lời thông báo: “Tôi cần hỏi ngài Thanh tra và viên cảnh sát trước khi cho cô vào”.
Cánh cửa sập lại trước mặt khiến Sephira sững sờ. Xem ra vụ săn tin này sẽ chẳng suôn sẻ.
Chừng vài phút trôi qua, cửa chính lại bật mở, nhưng lần này người đi ra lại là một người đàn ông khoảng dưới trung niên, dáng gầy và gương mặt góc cạnh, teo tóp như một người bị đói lâu ngày. Anh ta mặc đồng phục cảnh sát phẳng phiu, ôm vừa vặn cơ thể cao khều.
Anh ta nở nụ cười tươi, đôi mắt nheo nheo với vẻ thân thiện nhìn Sephira.
“Chào cô, tôi là Trung sĩ Kimley Downson, là cảnh sát phụ trách vụ án. Mời cô vào, ngài Thanh tra đang đợi cô”.
Nói dứt lời thì anh ta tự nhiên cầm lấy hành lí của Sephira và bước lên trước dẫn đường.
Vừa đi dọc hành lang từ cửa dẫn vào phòng khách, cô vừa kín đáo quan sát mọi thứ có thể trong tầm mắt. Đầu tiên là cánh cửa chính hai cánh bằng gỗ được sơn màu đỏ tươi nổi bật, sau đó là những vòm cong trắng toát trên trần với độ hoàn hảo trăm phần trăm. Dưới chân cô là sàn nhà được lát gạch trắng - đen xen kẽ, tạo thành một không gian với kiến trúc đối xứng và lặp lại đều đặn đến mức khiến người ta khó chịu. Trên tường treo những bức họa mà chẳng biết là thuộc trường phái lập thể hay trừu tượng. Ở phía cuối hành lang đối diện cửa vào là đoạn cầu thang hình chữ Y dẫn lên lầu được lát gạch trắng và trải thảm đỏ, vẫn là sắc đỏ chói mắt và nổi bật như máu tương tự màu của cánh cửa chính.
Cảnh sát Downson dẫn cô vào một gian phòng rộng với hai cánh cửa, đương nhiên vẫn là màu đỏ, mở toang. Bên trong được chiếu sáng bằng ánh lửa từ lò sưởi và dàn đèn cầy treo vắt vẻo trên trần.
Sephira để ý ngay người đàn ông đang ngồi ở bộ bàn ghế gần giá sách trong phòng, dáng vẻ có phần bệ vệ và tự mãn như một ông vua đang ngồi trên ngai vàng.
Ông ta đang lim dim với cái tẩu còn tỏa ánh lửa nhẹ trên tay nên không biết Sephira và viên cảnh sát bước vào.
Downson phải đứng sát cạnh để đánh thức ông ta một cách nhẹ nhàng bằng cái chạm nhẹ vào cánh tay béo ú đầy lông lá.
Ông ta giật mình mở mắt ra, và sau khi Downson làm công tác giới thiệu, Sephira biết mình đã gặp người có quyền hành cao nhất thời điểm này trên đảo - Thanh tra Bell.
Trong lúc đợi lão hầu già dọn trà bánh, vị Thanh tra béo có vẻ đã tìm thấy hứng thú trong câu chuyện cá nhân của Sephira cũng như cơ duyên đưa cô đến đây, nhất là khi cô kể về vụ tai tiếng đã khiến mình bị cấm bút suốt một năm qua để rồi “trở thành” một phóng viên địa lí như bây giờ.
Sephira đã cố kể theo cách nhẹ nhàng và đỡ mất mặt nhất, nhưng khi nghe đến tên tờ báo đã cho đăng bài viết của cô, ông Thanh tra reo lên một tiếng rồi cười hềnh hệch: “Trời, tôi đã trở thành khách mua dài kì của tờ báo đó sau số báo cô viết dù mấy bài sau đó chẳng kịch tính như bài viết của cô. Đúng là một bài báo hay ho, bà vợ tôi còn đọc đi đọc lại đến nhừ cả giấy”.
Sephira có phần ngại ngùng và khó xử trước lời nhận xét đó, dù cô biết ông ta có lẽ khen thật lòng, nhưng cô biết rõ ràng rằng tờ báo đó chẳng có gì đáng khen, nhất là khi nó khiến sự nghiệp cô có một vết nhơ khó xóa. Cô chỉ kể lại hòng xây dựng hình ảnh thân thiện, xởi lởi, và phần nào củng cố cho lời nói dối vừa rồi của mình.
“Thế mà người ta lại cấm bút cô vì bài báo đó, thật đáng tiếc”. Ông Thanh tra lên tiếng sau khi dứt những lời khen ngợi có cánh hoa mĩ. “Bọn báo chí chẳng biết để làm gì, cứ đưa những cái tin chán ngắt và tẻ nhạt trong khi công chúng cần những chủ đề mới lạ và thú vị hơn chứ. Giá mà người ta dám đưa nhiều tin như bài báo kia của cô. Để một phóng viên tiềm năng như cô trở thành một kẻ viết bài về mấy thứ gì,” ông ta vừa nói vừa xoa cằm như đang cố nhớ lại, “à, mấy cái cảnh quan địa lí này thì có gì để viết chứ? Trên này đang có mấy chuyện còn kịch tính hơn”.
Sephira bắt được ngay ý tứ của ông Thanh tra. Chuyện kịch tính hơn đang xảy ra trên đảo này mà ông ta vừa nói chẳng phải là vụ án mạng liên hoàn cô đang muốn biết sao?
“Có vụ gì thú vị đang diễn ra trên đảo sao ngài Thanh tra?”. Cô cẩn thận quan sát thái độ của ông ta và viên cảnh sát sau khi đặt câu hỏi.
Viên cảnh sát thì vẫn điềm nhiên như không với ánh cười thấp thoáng trong mắt, nhưng ông Thanh tra, dù ban đầu cứ như được gãi trúng chỗ ngứa và có vẻ sẵn sàng tuôn tồng tộc toàn bộ tình tiết mà Sephira tưởng sẽ phải chật vật lắm mới biết được thì sau đó lại im bặt miệng và chỉ ăn bánh nướng rồi uống cạn tách trà.
Xong xuôi, lão ta khệ nệ đứng lên với cái tẩu cắn trong hàm răng đều mà vàng khè, ung dung rời khỏi phòng khách. Viên cảnh sát cũng từ tốn đứng dậy, vuốt phẳng quần áo bằng một điệu bộ hơi cường điệu rồi nói với Sephira: “Để tôi đưa cô lên phòng”.
Sephira chỉ còn biết cười gượng nhưng vẫn lịch sự cảm ơn, sau đó theo chân anh ta.
Hành lang dẫn đến phòng Sephira có bức tường dài màu xanh biển nhạt, cách một khoảng nhất định lại có những bệ gỗ đặt các bức tượng thạch cao bán thân màu trắng của những nhân vật mà cô phải thừa nhận là chẳng biết họ là ai, có lẽ là một danh nhân hay nhà quý tộc nào đó.
Hai người dừng lại trước một căn phòng có cửa màu đỏ, tay nắm tròn màu vàng. Downson đưa tay vặn nắm cửa nhưng bị khựng lại, anh ta có vẻ bối rối. Sephira đứng bên cạnh nhìn anh ta chật vật xoay đi xoay lại chừng gần nửa phút, sau đó gã mới quay sang nhìn Sephira.
“Xem ra phải gọi lão hầu già rồi”.
Gã đặt va-li của cô xuống trước cửa rồi rời đi.
Còn một mình, Sephira lại đi dọc hành lang theo lối mình vừa bước qua, lặng lẽ quan sát những cánh cửa đang đóng im lìm kia.
Cô đưa tay thử vặn chốt vài cái nhưng hiển nhiên không cái nào là không bị khóa. Ngó nghiêng một hồi Sephira mới để ý, phía dưới tay nắm cửa là một bảng tên loại nhét giấy vào khung gỗ nhỏ. Cách để bảng hiệu này là lần đầu tiên cô thấy.
Sephira bèn khom người để tầm mắt ngang với từng tay nắm, giờ thì cô mới thấy, đó là những tờ giấy ghi họ tên từng người bằng bút máy trên giấy bồi cứng. Cô lập tức hiểu ngay đây là bảng tên đánh dấu phòng nào của ai và phần nào chắc chắn những người này hiện đã về chầu Thánh.
Downson trở lại với lão hầu già xách theo chùm chìa khóa.
Nhìn thấy lão, Sephira hơi nghiêng đầu cười và chào một cách lịch sự, nhưng lão thì vẫn lăm lăm nhìn cô một cách khó chịu như ban nãy, cái nhìn đó dường như là một thông báo ngầm từ lão cho nỗ lực tìm kiếm manh mối hay thông tin của Sephira, “Tôi sẽ không hé môi nửa chữ”.
Cánh cửa phòng bật mở kèm theo tiếng kẽo kẹt khá lớn ngay khi chìa khóa vừa xoay, Sephira lập tức nhìn thấy một gian phòng sang trọng với chiếc giường được chạm trổ tinh tế bằng gỗ, màn treo màu vàng nhạt và gối mền được may bằng loại vải cao cấp với những viền ren mềm mại. Phòng có ban công nhìn ra bầu trời đêm bên ngoài và bờ biển nơi cô vừa ở đó non một tiếng trước.
Thật kì lạ khi cô đã không đi lạc lúc tìm đường lên đây. Với “năng lực” mù đường bẩm sinh, Sephira khó khi nào không đi lạc ở những con đường lần đầu cô đặt chân đến.
Sephira mải nhìn ra ban công và nghĩ ngợi nên chẳng để ý Downson chưa rời khỏi. Khi quay lại cô giật mình nhìn thấy anh ta vẫn đứng sừng sững như tượng với gương mặt mà cô không thể đoán ra biểu cảm.
“Anh còn có chuyện gì muốn nói với tôi à?”. Sephira rúm người vì cơn giật mình, đứng ngây ở gần cánh cửa ban công mà hỏi.
Downson lúc này mới mím môi thành một nụ cười nhẹ, sau đó trả lời cô: “Tôi biết cô không phải phóng viên địa lí”.
Lời của Downson khiến Sephira sượng sùng cứng người như một đứa trẻ nói dối mà bị vạch mặt trước toàn trường. Thế nhưng ngay khi cô tưởng tiếp theo tên cảnh sát sẽ gây khó dễ cho mình, thậm chí là đuổi cổ cô đi ngay lập tức, thì hắn ta lại nói thế này.
“Ông Thanh tra là một người quy tắc, sẽ không tiết lộ gì đâu. Nếu muốn có tư liệu cho bài báo, cô phải tự điều tra thôi”. Ý cười thấp thoáng trên mặt anh ta khi nói câu cuối cùng. “Còn nếu cô nghĩ lại thì theo lịch, sáng mai sẽ có chuyến tàu ra đảo đón lúc chín giờ”.
Đương nhiên là Sephira sẽ không tốn một đêm để ngủ, nhất là khi cô đã đặt chân lên đảo được mấy tiếng mà mọi thông tin cô biết được về vụ án chỉ dừng lại ở vài dòng chữ cỏn con ghi trên lá thư ngài Giredald gửi đến.
Sau khi sắp xếp đồ đạc và tắm táp, Sephira tự sưởi ấm bằng vài hớp rượu, sau đó ngồi đợi đến nửa đêm. Đấy là để bảo đảm cho những người khác trong dinh thự sẽ không ngán đường cô thực hiện vụ điều tra, nếu có thể gọi việc sục sạo khắp nơi hòng tìm ra chút gì để ghi vào bài báo của mình là điều tra, bằng một giấc ngủ đã sâu.