Hoả ngục


Một vùng đất rộng lớn bị nguyền rủa, nuốt chửng bởi ngọn lửa và đêm đen vĩnh cửu, thống trị bởi gã giám mục tha hoá. Những chiến binh kiệt xuất nhất, được tuyển chọn kỹ lưỡng từ khắp nơi trên vương quốc, đã bị bẻ gãy, nghiền nát, trở nên điên loạn và tuyệt vọng. Họ đã phải trải qua những gì? Ngọn lửa đỏ sẽ phán xét mọi linh hồn bước vào chốn hoả ngục trần gian này.



Discas ngồi gục đầu xuống ngực mình, hé mắt nhìn ra ngoài cửa sổ của cỗ xe ngựa đang rung lắc dữ dội khi họ đi ngang qua một khúc đường xấu. Cái xác của Verdin nằm giữa sàn xe, gương mặt bị phủ lên qua loa bởi một tấm vải rách. Mỗi khi cỗ xe rung lắc, cái xác lại đập vào chân của những người còn sống.


Chỉ huy Barosta, anh hùng của trận vây thành Huvi, bật khóc thút thít bên tấm khiên giập nát. Nữ tu Pavian thì đập đầu mình vào thành cỗ xe một cách đều đều, chậm rãi. Ánh mắt của cô ta vô hồn, miệng há ra khiến dãi chảy tong tỏng.


Chỉ còn lại Discas ôm lấy cánh tay vấy máu của mình, nhắm nghiền mắt lại. Quang cảnh bên ngoài cỗ xe còn khủng khiếp hơn cả những gì ở bên trong. Một thành phố rộng lớn, từng phồn vinh nay ngập trong biển lửa. Bầu trời vĩnh viễn chìm trong màn đêm đen càng làm cho ánh lửa nguyền rủa đó thêm phần rực rỡ, chói loà. Hàng dài những dãy nhà đổ nát vẫn bốc cháy không ngừng, dù chẳng còn gì để nuôi sống ngọn lửa. Xác người cháy thành than, co quắp, nằm, đứng la liệt khắp phố. Tiếng bánh xe ngựa cán qua một thi thể nghe gãy giòn hơn cả tiếng cành cây khô, liền ngay sau đó là cảm giác mịn màng khi bánh xe nghiến qua phần tro vụn, như thể đang đi trên cát.


Mùi tro bụi dày đặc trong từng cơn gió, bám đầy lên bộ lông bẩn thỉu của con ngựa kéo xe duy nhất còn lại. Barosta ho khù khụ, cổ họng ông ta nóng ran, hai lá phổi coi như là đã cháy rụi bởi căn bệnh đáng sợ đang bao trùm nơi này. Discas chẳng buồn quay mặt đi khi vị tướng già dặn ho nữa. Gã biết kiểu gì cả ba rồi cũng chết. Hắn ghen tị với Verdin, cô ta chết bởi một lưỡi dao đâm xuyên cổ, một cái chết nhanh gọn, ít đau đớn.


Chẳng còn ai đủ sức đánh xe, bản đồ cũng rơi mất từ bao giờ. Họ đang lang thang vô định, phó mặc sinh mạng của mình cho số phận, để cho con ngựa kia thích đi đâu thì đi, đến khi nó chạm đến giới hạn của mình và gục xuống chết. Và rồi sớm thôi, tất cả cũng sẽ chết hết, bị nghiền nát bởi lũ quái vật, hoặc cháy thành tro như đám người dân khốn khổ này.


Discas, Barosta, Verdin, Pavian và Terivarilus là những cá nhân kiệt xuất, được đặc biệt tuyển chọn cho nhiệm vụ tiêu diệt gã giám mục tha hoá của thành phố này. Tên khốn đó đã hiến tế cả thành phố cho con quỷ của lửa, máu và tro tàn, giết hại hàng nghìn người để đổi lấy thứ gì đó cho riêng hắn. 


Barosta là người hùng của vương quốc, đã một mình trấn giữ cây cầu của thành Huvi suốt hai ngày hai đêm, câu thời gian giúp lực lượng tiếp viện kịp thời đến hỗ trợ mặt trận chủ lực nơi phía bên kia chiến trường. Verdin là một học giả thiên tài, thông thạo nhiều loại phép thuật phức tạp và còn tự mình sáng tạo ra một trường phái riêng. Lĩnh vực của cô ta quá khó hiểu so với một gã thô thiển như Discas, vậy nên hai người họ chưa bao giờ ưa nổi nhau.


Discas cũng ghét Pavian. Cô ta là một người lạnh lùng và tàn nhẫn với kẻ thù, nhưng lúc nào cũng càm ràm về những nghi thức, danh dự và đức tin, dù Discas khá chắc rằng bây giờ đức tin của cô ta chẳng còn được bao nhiêu. Tuy nhiên trong thâm tâm hắn cũng phải thừa nhận rằng kiến thức về những nghi lễ dị giáo của Pavian đã nhiều lần cứu sống cả bọn. 


Discas và Terivarilus đều là những bậc thầy kiếm thuật có tiếng. Thế nhưng Discas luôn hận Terivarilus. Gã đó dũng cảm, hoà đồng, tài giỏi. Là một kẻ mà bất kỳ ai cũng phải cảm thấy an tâm khi ở bên. Hình tượng đó đối lập hoàn toàn với Discas, khiến gã luôn cảm thấy mình bị so sánh với Terivarilus, dù cho thực tế, tài năng của hai người là gần tương đương.


Trước khi tổ đội này gặp phải bất kỳ trở ngại quá lớn nào, đa số các thành viên đã không có thiện cảm với nhau. Discas thường cẩn thận, tỉ mỉ, tốn quá nhiều thời gian để chuẩn bị vũ khí, trang bị. Gã cũng luôn trầm mặc, tiêu cực và tỏ ra bất hợp tác. Paviaon nói không ngừng, luôn rầy la những người khác kể cả trong những tác phong, cử chỉ nhỏ nhất. Barosta thì tự cho mình cái quyền là trưởng nhóm, chẳng bao giờ lắng nghe ý kiến của bất kỳ ai. Trường hợp của Verdin thì khác biệt, cô ta thờ ơ với hầu hết những người khác, có lẽ do bản mặt đáng ghét của ả vốn đáng ghét như vậy, chỉ là một con ngốc đơn thuần không có ác ý, hoặc ả khinh bỉ tất cả mọi người, đặc biệt là Discas, và không coi ai ra gì theo cách của riêng mình, khác với Barosta. 


Người duy nhất gắn kết những kẻ hung hãn và tràn đầy kiêu hãnh này chính là vị hiệp sĩ vệ binh cao quý Terivarilus. Anh ta bằng tài ứng xử khéo léo, đầy tinh tế của một kẻ khôn ngoan, xoa dịu được Barosta và Pavian luôn mâu thuẫn, theo những cách không thể tưởng tượng được, khiến Discas cũng phải trầm trồ. Tranh cãi nổ ra không ngớt, và nó cũng chấm dứt nhanh chóng, và họ vẫn hoà thuận vượt qua đám quái vật một cách suôn sẻ.


Một hôm nọ, dù chẳng biết lúc đó trời sáng hay tối, bọn họ tỉnh dậy và thấy Terivarilus, người đánh xe chính, biến mất không để lại một dấu vết. Sự nghi kỵ, sợ hãi đã bắt đầu nhen nhóm trong lòng mỗi thành viên. Vậy nhưng họ vẫn nuốt sự sợ hãi đó vào trong, không để cho cái tôi mong manh của mình bị những kẻ khác cười chê là hèn nhát. Và như vậy họ lại tiếp tục tiến lên, dù thiếu mất thành viên quan trọng nhất.


Thế nhưng họ đã quá tự cao với những tài năng của mình. Ngọn lửa đỏ rực cùng những sinh vật bước ra từ hoả ngục không hề dung thứ cho những kẻ phàm trần dám cả gan báng bổ vùng đất thánh của chúng.


Đó mới chỉ là một nhóm tuần tra. Lang thang trong thành phố này còn hàng trăm tên khác như thế. Con quái vật khổng lồ chỉ bằng một cú vung tay đã đập móp tấm khiên cứng cáp của Barosta, hất văng người chiến binh to lớn. Lũ quái vật cuồng tín với ngọn lửa bốc cháy hừng hực trong hốc mắt và cổ họng, không hề biết đến sợ hãi, lao thẳng qua lưỡi kiếm của Discas, mặc cho cơ thể thương tật vẫn băng qua đội hình và đâm xuyên cổ Verdin bằng lưỡi dao gắn trên vị trí đáng lẽ phải là bàn tay của chúng.


Pavian đã phải dùng chính cuốn sách thánh quý giá của mình đập liên tục vào đầu một tên quái vật đến khi hắn ngừng cử động. Cuốn sách thánh, quan trọng hơn cả sinh mạng, đại diện cho danh dự của một nữ tu, đã gần như cháy rụi, chỉ còn tấm bìa kim loại bao quanh chút giấy vụn ở gáy. Ngọn lửa kinh hoàng của chúng nung nóng thấu qua bộ giáp của Barosta, để lại những vết bỏng đau rát trong từng cử động.


Những vết thương tích tụ qua từng trận đánh bào mòn cả thể xác lẫn tâm trí mỗi người, rồi bỗng nhiên một con ngựa kéo xe đã bị ngọn lửa của thành phố nuốt chửng từ bao giờ. Lết thân xác tàn tạ, nhìn cái thi thể vô hồn của Verdin nằm trong cỗ quan tài trên bốn bánh xe, chẳng còn ai sống sót đủ sức điều hướng chiếc xe, hay ý chí để cố gắng sinh tồn nữa. Pavian cuối cùng cũng ngừng nói, Barosta thì chẳng buồn động đến ổ bánh mì.


Cả ba người họ đã tới giới hạn rồi. Chỉ một cuộc chạm trán tiếp theo là họ sẽ chết, Discas biết chắc điều đó.


Những tiếng lẩm bẩm, rên rỉ và than khóc vọng lại trong cỗ xe ngựa chật hẹp. Những lời chúc tụng và tung hô ngày khởi hành đã trở thành thứ trò đùa mỉa mai nhất mà ký ức có thể gợi lại cho Discas lúc này. Hắn chờ đợi một quả cầu lửa phóng thẳng qua cửa sổ, thiêu sống họ trong tích tắc, hoặc một hòn đá khổng lồ chẳng biết từ đâu xuất hiện phía cuối phố, nghiền nát cả cỗ xe một cách nhanh chóng.


Thế nhưng thời gian cứ thế trôi, một cách uể oải và căng thẳng. Con ngựa kéo xe cuối cùng cũng gục xuống trút hơi thở cuối cùng. Pavian chùi mép, đảo mắt nhìn quanh rồi nói:

- Đi bộ thôi.


Discas im lặng xách theo thanh kiếm của mình, thế nhưng Barosta thì không. Ông ta ôm chặt tấm khiên giập nát trong tay, vùng vằng mếu máo:

- Không, ta không muốn ra ngoài đó đâu! Cứ để mặc ta ở lại đây đi!


Discas tức giận lao vào túm cổ áo ông ta, đập mạnh Barosta vào thành xe, quát lớn:

- Im mồm đi đồ khốn! Chỉ huy kiểu quái gì mà lại hèn nhát trốn chạy như này? Ngươi có thấy xấu hổ không nếu như Terivarilus thấy ngươi bây giờ?

- Đừng nhắc đến tên hắn ta nữa! Terivarilus đã chết rồi! Và đừng làm như thể ngươi thân thiết với hắn ta lắm! Ta biết tên khốn nhà ngươi luôn thầm ước được chính tay mình giết chết hắn ta!


Discas tức điên lên, đấm thẳng vào vết bỏng đằng sau tấm giáp ngực của Barosta khiến ông ta gào lên đau đớn. Không ngoài dự đoán, Barosta cũng mặc cơn đau, đánh trả vào vết thương trên tay của Discas, khiến gã thét lên, vấp phải Verdin và ngã dúi dụi xuống thành ghế.


Barosta định xông vào tẩn Discas một trận ra trò, thế nhưng ông ta chợt khựng lại. Tấm vải trên mặt Verdin đã bị cuốn theo trận đánh, để lộ ra khuôn mặt lạnh ngắt của cô. Verdin còn rất trẻ, cô ta xinh đẹp, làn da nõn nà giờ đây lạnh ngắt, với chiếc mũi cao thẳng tắp và nụ cười mỉm. Nhìn thấy Verdin, Barosta chỉ lẳng lặng bước xuống cỗ xe, cầm theo đồ đạc của mình, lẩm bẩm:

- Nhìn xem chúng ta đã bị biến thành thứ gì đi…


Discas thì không bỏ qua dễ dàng như vậy. Gã chờ đợi bước xuống sau Barosta rồi đột ngột vung kiếm chém thẳng vào đầu ông ta. May thay Pavian đã tỉnh lại kịp thời, lao vào đẩy Discas ngã cắm mặt xuống mặt đất, tro bụi bắn lên phủ kín mặt và áo quần hắn. Barosta và Pavian dường như chẳng quan tâm đến hắn, họ chỉ lẳng lặng quay đi, bỏ lại tên kiếm sĩ bẩn thỉu thương tật nằm trên đất, ôm mối nhục nhã mà hắn không thể tha thứ, điều mà đã thổi bùng lên ngọn lửa của phẫn nộ và thù ghét.


Discas biết mình yếu thế, ôm cánh tay đang đau buốt, chẳng thể cử động được nữa, đứng dậy, đi cách Barosta và Pavian một quãng xa. Đôi mắt của hắn ánh lên sự hận thù sâu sắc. Hai kẻ kia cũng hiểu rõ hắn là người như nào, họ cảnh giác, nhưng quá mệt mỏi để thực sự luôn luôn để mắt đến Discas.


Hắn nhận ra cơ hội của mình, chậm rãi bước đi thật nhẹ nhàng phía sau, tìm kiếm một khoảnh khắc hoàn hảo để bổ lưỡi kiếm vào đầu con ả lắm mồm và đâm thủng họng thằng già mít ướt kia.


Vậy nhưng cơ hội đó đã không đến. Trước mặt họ là một nhà thờ lớn, từng phiến đá đều bị nhuộm đen bởi màu tro. Toàn bộ phần mái gỗ đã bị thay thế bởi ngọn lửa đỏ khổng lồ chói lọi, sáng rực rỡ hơn bất kì ngọn lửa nào khác họ từng thấy trong chốn hoả ngục này. Hơi nóng của nó phả ra hừng hực, khiến mồ hôi trên mũi Discas gần như bốc hơi ngay lập tức.


Những vết bỏng trên người ba người nhói lên dữ dội, van xin họ bỏ chạy khỏi đó. Discas quên sạch hận thù với hai kẻ kia, quay đầu bỏ chạy trước. Thế nhưng một bức tường lửa bốc lên từ hư vô, bao trọn lấy ba kẻ xấu số.


Barosta quỳ sụp xuống, ôm đầu gào khóc, tuyệt vọng trước cái chết không thể tránh khỏi. Ngược lại, Pavian hoàn toàn phát điên, biết rằng sớm hay muộn mình cũng sẽ chết, vung vẩy cây chùy cùng chiếc bọc sách kim loại, lao đầu vào thẳng cánh cửa nhà thờ đang rộng mở kia.


Hiện ra từ ngọn lửa đó là một gã đàn ông, khuôn mặt đã bị hơi nóng thiêu chảy như sáp nến, trên mình khoác những gì từng là một tấm áo choàng giám mục. Hắn chính là kẻ tội đồ mà họ đang săn tìm.


Chỉ bằng ánh nhìn của mình, tên giám ngục khiến Pavian ngã quỵ xuống. Đôi mắt của cô ta bị thiêu rụi, hai hốc mắt hoá thành than đỏ. Discas nắm chặt thanh kiếm trong tay, hoảng loạn nhìn quanh tìm lối thoát. Thế nhưng đập vào mắt hắn chỉ có Barosta, quỳ trên hai gối hệt như Pavian, với cặp hốc mắt đen đúa trống rỗng và khuôn mặt khiếp đảm như thể hắn vừa nhìn thấy cơn ác mộng kinh dị nhất. Hắn rùng mình khi tưởng tượng ra điều cuối cùng mà ông ta phải chứng kiến.


Khuôn mặt họ lộ rõ vẻ kinh hoàng, cổ họng vẫn còn phát ra âm thanh rên rỉ đầy đau đớn. Discas sợ hãi. Nỗi sợ bủa vây hắn khi phải chứng kiến cái chết khủng khiếp như vậy, cùng với suy nghĩa rằng bản thân cũng sẽ phải chịu cái kết tương tự.


Gã giám mục đứng yên trên những bậc cầu thang, thế nhưng đôi mắt của hắn găm thẳng vào Discas, dường như thiêu đốt cả cơ thể của hắn từ sâu trong ruột gan. Ngọn lửa đốt trụi nội tạng, tay chân hắn, để lại một sự thống khổ ngoài sức tưởng tượng cho thân xác tàn phế, kiệt quệ này.


*


Discas chợt nhìn thấy một gã quý tộc, mặc trên mình bộ đồ sặc sỡ sắc màu với những mảnh vải trang trí nhô ra nơi viền cổ áo, cùng bộ ria mép được cắt tỉa gọn gàng. Ông ta đang tham dự một bữa tiệc của giới vương công quý tộc. Nhờ dựa vào kho bạc không đáy của người cha quá cố, gã cuối cùng cũng mua được cho mình một vị trí trong quân đội chống lại các thế lực man di dị giáo, bước đầu thực hiện tham vọng trở thành một vị tướng vĩ đại, lưu danh mình vào sử sách.


Gã đã có cho mình hàng chục bức tranh vĩ đại, được tô vẽ nên bởi những hoạ sĩ tài giỏi nhất thời đại đó. Hắn hiên ngang khoác lên mình những bộ quân phục cao quý đã được chỉnh sửa để trở nên lố lăng và hợm hĩnh nhất có thể, đi lại giữa những vị quý tộc giàu có và quyền lực. Sự khoe mẽ trắng trợn đó đã làm gai mắt toàn bộ những kẻ khác. Với cái cớ đầy đạo đức rằng của cải không nên được trao vào tay những kẻ kém cỏi, họ âm thầm dựng nên một vở bi kịch với tên gọi “Trận chiến rừng thu”.


Gã quý tộc kiêu căng đã được chỉ định để dẫn đầu cuộc càn quét nhắm thẳng vào các thế lực quái vật ở khu rừng Tibora. Chắc hẳn là vì được yêu quý, các lãnh chúa khác lại sẵn sàng trao cho hắn đội quân của họ. Nhìn đội quân khổng lồ kia nằm dưới sự điều khiển của mình, ông ta không khỏi vui sướng, viễn cảnh bản thân khải hoàn trong tiếng hò reo và chúc tụng đã khiến gã trở nên mù điếc, thẳng tay treo cổ những kẻ trung thành ít ỏi còn sót lại dám khuyên can mình.


Đội quân khổng lồ đó không được sinh ra để chiến thắng. Hàng vạn người lính vô tội, những người nông dân nghèo khổ với giọng nói không được lắng nghe đã bị ném vào cỗ máy xay thịt vô tận. Trong khu rừng bạt ngàn u ám đó, bùn lầy nuốt chửng lấy người, binh lính hoá thành cây gỗ, gào thét trong đau đớn khi mầm cây mọc ra từ mắt và miệng mình, cành lá tự di chuyển xé xác họ thành trăm mảnh. Và đợi chờ những kẻ may mắn sống sót là những con quái vật đáng sợ với tứ chi dài lêu nghêu, cùng hàm răng và bộ vuốt sắc nhọn hơn đao kiếm. Lũ Urvihan càn quét qua đội quân loài người nhỏ bé, vung vẩy máu họ như nghịch nước, nhuộm đỏ toàn bộ lá cây xung quanh. Trước mắt những kẻ sống sót lúc đó là một cánh rừng vào thu ngập tràn lá đỏ.


Đứng trước biển núi thi thể trải dài bạt ngàn mọi nơi ông ta đi tới, gã quý tộc mới kinh hãi nhận ra rằng những câu chuyện chỉ là bịa đặt. Sự thật phũ phàng đang bày ra ngay trước mũi, rằng hắn chỉ là một kẻ nhỏ bé, ngu dốt và bất tài. Những ước mơ của hắn chỉ là viển vông vô nghĩa. Gã quý tộc đã chết vào khoảnh khắc đó.


Để trừng phạt cho tổn thất khổng lồ, toàn bộ tài sản của gã quý tộc đã bị chia ra để bồi thường cho những vị lãnh chúa đã góp quân vào núi xác kia. Hắn bị tước đi toàn bộ danh hiệu, tước vị của mình, trở thành một thường dân, không hơn không kém.


Ngu dốt, cứng đầu. Gã chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài gia nhập đội quân của một quý tộc khác. Số phận cay nghiệt mỉa mai gã quý tộc ngày nào giờ đây phải đứng tại vị trí của những kẻ mà hắn đã thẳng tay đưa vào chỗ chết. Ông ta hung hăng, lì lợm, kiêu căng. Không một ai ưa gã to béo ngồi một mình chình ình ngay giữa quán kia cả. Gã bê tha, ngập trong rượu mạnh, luôn luôn ở trong trạng thái say xỉn và rỗng túi. Thứ tài sản giá trị nhất tên cựu quý tộc sở hữu là một tấm giáp ngực được sơn gia huy của gia đình hắn. Gã ta thường ngủ gục trên bàn rượu, khóc lóc khi cha hiện về trong những giấc mơ, sau lưng ông ấy là hàng ngàn thi thể nằm giữa biển máu, liên tục gào thét kêu cứu trong đau đớn. 


Mọi người đều ghét bỏ gã, luôn ủ mưu tính kế loại bỏ gã. Thế nhưng là cái phước của gã khi đã được ban cho một thân thể khoẻ mạnh, to lớn vạm vỡ, thứ khiến bọn du côn không dám gây sự với hắn, và cũng là thứ đã đưa cuộc đời hắn sang trang mới.


Ông ta đóng quân tại thành Huvi, một vị trí quan trọng trên bản đồ chiến lược, thứ mà chắc hẳn gã chưa bao giờ chịu học. Vào ngày nọ, một đội quân vô danh không mang cờ đột nhiên vây hãm thành Huvi. Chúng đói, chúng tuyệt vọng. Một trận chiến khốc liệt đã diễn ra ngay tại cổng chính của toà thành. Hơn một ngàn người thiệt mạng trong trận đánh đó. 


Thế nhưng gã cựu quý tộc đang ở nơi khác. Trong khi những người khác vội vã rời đi tiếp viện cho cổng chính, ông ta đã nhìn thấy ánh kim loại lấp lánh phía bên kia cổng phụ. Bị ghét bỏ, lờ đi bởi những kẻ đáng lẽ ra phải là đồng đội, gã buộc phải một thân một mình vác theo tấm khiên nặng, chạy ra cây cầu hẹp trước cổng thành.


Gã cựu quý tộc không biết tại sao mình lại làm vậy. Không ai nghĩ rằng người như ông ta có thể thực hiện được một hành động như thế. Có lẽ đó là một chút can đảm cuối cùng hắn có, dành dụm được trong cả cuộc đời của mình, như một ngọn nến sáng bừng lên vào khoảnh khắc cuối cùng của mình trước khi vụt tắt. Hoặc ông ta mơ rằng hành động chẳng khác gì tự sát của mình sẽ được trân trọng và vinh danh khi họ phát hiện ra thi thể của ông. Một ước mơ hão huyền cuối cùng như vậy đã khiến cho đôi chân tự cử động, và đến khi ông ta đơn độc đứng đối diện hàng trăm chiến binh, đã chẳng còn cơ hội để hối hận hay tiếc nuối nữa.


Chuyện đã xảy ra sau đó chỉ có thể được gọi là phép màu. Sau hai ngày hai đêm ròng rã, trận tử thủ thành Huvi cuối cùng cũng kết thúc. Khi những binh sĩ ở cổng chính trở về cổng phụ, họ mới phát hiện ra gã cựu quý tộc đáng ghét đang ngồi ngủ gục trên cây cầu hẹp. Trước mặt ông ta là la liệt vũ khí bị vứt bỏ lại cùng những dấu chân hỗn loạn chồng chéo lên nhau, dưới hào nước sâu là một núi thi thể hơn trăm người bị hất ngã xuống đó mà chết.


Khi đó, họ mới nhận ra chuyện gì đã diễn ra tại đây suốt hai ngày hai đêm qua. Gã cựu quý tộc được tung hô như một người hùng, chiến công của ông ta lan xa khắp các thành phố. Tỉnh dậy trong nhà thờ với những vết thương được chữa trị cùng cơn đói cồn cào, thứ ông ta nhận lại được chính là sự tôn trọng, quý mến và biết ơn mà bản thân hằng mong ước. Sự kiêu ngạo đã trở lại với kẻ từng đánh mất tất cả, thế nhưng giờ đây, ông ta được quyền trở nên như thế. Giáp trụ sáng loáng, tấm khiên dũng mãnh, danh tiếng và chức vụ leng keng trên ngực. Gã cựu quý tộc bê tha cục cằn đã được tái sinh dưới một hình hài mới.


Và khi ngọn lửa dị giáo nhấn chìm một vùng đất rộng lớn, mọi đội quân được đưa đến đó đều biến mất không một dấu vết. Nhà vua đã phê duyệt một chiến dịch bí mật, đưa một tổ đội những cá nhân kiệt xuất thâm nhập vào sâu trong vùng đất bị nguyền rủa đó nhằm thủ tiêu kẻ được cho là chủ mưu cho tai ương này. Một trong những cái tên xuất hiện đầu tiên là “Chỉ huy Barosta, anh hùng thành Huvi”.


*


Chợt Discas bị kéo giật ngược về bên kia đất nước, tại một tu viện nhỏ ở một miền quê hẻo lánh. Một nhóm những cô bé nữ tu xếp thành hàng dài, im lặng, đầy kỷ luật. Những tiếng roi vung lên chua chát, in hằn những vệt hồng lên tấm lưng nhỏ bé đó. Tu viện trưởng, hay đám trẻ còn cung kính gọi là Mẹ, là một người phụ nữ đứng tuổi, nghiêm khắc. Như mọi nữ tu của thời đại loạn lạc này, họ được đào tạo để trở thành những chiến binh ưu tú, vượt qua rào cản thể lực để không ngáng đường những nam chiến binh. Mẹ hiểu rõ sự yếu ớt, mỏng manh của những cô bé này trong thế giới xấu xí, mục ruỗng và tàn khốc. Do đó, những đứa trẻ mà bà yêu thương như con đẻ phải được nung trong lửa đỏ, tôi rèn thành những thanh gươm cứng cáp nhất.


Hàng đêm, sau giờ ăn, những cô bé phải quỳ ngoài sân, bất kể thời tiết có đổ mưa như trút nước, hay phủ kín những thân thể nhỏ bé đó bằng tuyết trắng. Chúng quỳ đó với quần áo trên người, trong khi Mẹ phải trút bỏ y phục, đứng giảng giải sách thánh. Lời bà như một bức tranh hùng vĩ, lúc thì đanh thép, hùng hồn như núi cao, buốt giá như dòng sông băng lạnh lẽo, lúc thì mềm mại như ánh nắng dịu dàng mùa hạ, lúc lại thanh thản, hồn nhiên, trong veo như dòng suối mát lành.


Người ngoài, những kẻ phàm tục sống vô lo vô nghĩ nhìn vào sẽ thấy cuộc sống như vậy với các bé gái thật quá khắc nghiệt, kinh khủng. Vậy nhưng nơi đây chưa bao giờ ngớt tiếng cười trẻ thơ khi các em làm ruộng, giặt giũ, quét dọn, nấu ăn, chơi đùa với nhau dưới sự bảo vệ và yêu thương của Mẹ và các chị cả. 


Tại tu viện, luật là tuyệt đối. Kẻ vi phạm sẽ bị trừng phạt nặng nề, thương tích đầy mình, nằm liệt giường hàng tuần liền. Tuy nhiên, vẫn có một cô bé bất tuân lời dặn của Mẹ, lẻn vào rừng chơi sau khi màn đêm buông xuống.


Pavian lẻn ra khỏi giường của mình mà không để các chị em biết được. Cô trốn khỏi các chị cả được Mẹ giao cho nhiệm vụ tuần tra, chui qua khe vỡ trên bức tường tu viện. Cô bé không sợ bóng tối của khu rừng, cô có thể nhớ được mọi cành cây tán lá kể cả khi phải nhắm mắt lại đi chăng nữa. Đó là một sở thích kỳ lạ, một bí mật thầm kín mà chỉ rừng cây và sông suối hiểu được. Đôi chân nhỏ bé băng qua những thân cây, hòn đá, thoăn thoắt như thể được chỉ dẫn bởi Đức Ngài Bề Trên. 


Làn sương đêm mát rượi làm ướt đẫm bộ váy ngủ của cô bé, tiếng côn trùng rít thánh thót vui tai. Một sự vui sướng bản năng thúc đẩy Pavian, lao đi trong màn đêm. Dù cô biết điều này là sai, nhưng cô chẳng tài nào cưỡng lại được tiếng gọi đầy cuốn hút đó. Pavian đã bị quyến rũ bởi thứ tự do ma mị. Để rồi đến khi đã thấm mệt, cô bé chợt nhận ra bản thân đã trở về tu viện từ bao giờ. Luôn luôn là như vậy.


Một đêm nọ, Pavian đang chạy chơi trong rừng đêm như mọi khi. Chợt một tia sáng lập loè giữa màn đêm dày đặc. Cô bé tiến lại và giật mình nhận ra đó là ánh đuốc của một đội quân đang hành quân qua khu rừng. Cô bé nhận ra gia huy mà chúng mang theo thuộc về một lãnh chúa đối địch từ vương quốc khác. Pavian lập tức bỏ chạy, cô chạy mãi, chạy mãi không ngừng. Lồng ngực cô căng tràn những giọt sương đêm buốt giá.


Thế nhưng có gì đó lạ, cô cứ chạy mãi, chạy mãi mà chẳng thấy tu viện đâu. Nước mắt bắt đầu ứa ra trên khoé mắt của Pavian. Tại sao chuyện này lại xảy ra vào đúng đêm định mệnh này? Hôm qua, hôm kia, hay tuần trước, tháng trước, cô đều rất nhanh chóng trở về nhà mà? Sự dẫn lối của Đức Ngài Bề Trên chưa bao giờ sai? Tại sao?


Pavian cứ thế chạy mãi, chạy mãi. Thế nhưng khi thấy ánh sáng phát ra từ phía bên kia những hàng cây, trái tim cô bé chợt thắt lại. Tu viện nhỏ ở vùng quê hẻo lánh, nơi cô gọi là nhà, đang bị nuốt chửng bởi ngọn lửa. Hơi nóng hừng hực phả thẳng vào mặt Pavian khi cô bé chạy quanh tìm kiếm Mẹ và các chị em.


Như một cơn ác mộng mà bản thân không bao giờ có thể tưởng tượng ra. Đầu của Mẹ và các chị cả bị cắm trên cọc, trong khi thi thể của các chị em bị chất thành đống trước cửa tu viện. Lũ binh lính hét với nhau bằng một thứ ngôn ngữ mà Pavian không hiểu, dường như đang thúc giục đối phương rời khỏi tu viện thật nhanh.


Sợ hãi, Pavian quay đầu bỏ chạy. Nước mắt thấm đẫm khuôn mặt cô bé. Vừa chạy, cô vừa gào khóc thảm thiết, không dám nhìn lại phía sau. Xuyên qua màn đêm và những tán lá, tiếng côn trùng rít lên vui tươi như hát. Và bằng một cách thần kỳ nào đó, Pavian đã đến được thị trấn gần đó khi trời vẫn tờ mờ sáng, mang theo tin tức quan trọng về quân đội xâm lược của kẻ thù.


Lập tức, người truyền tin được điều động để báo động khắp các thành phố và thị trấn lân cận. Thế nhưng trận chiến đó không còn là vấn đề của Pavian nữa. Cô bé được nhận vào nhà thờ của thị trấn, được nuôi dưỡng như một đứa trẻ mồ côi. Vậy nhưng Pavian, với những khác biệt và tổn thương của mình, không bao giờ có thể hoà nhập được với cuộc sống nhẹ nhàng, vô vị đó. Cô nghiêm khắc, cục cằn và luôn quát mắng bất kỳ ai làm trái ý mình.


Vì trong tim Pavian hiểu rõ, đêm đó, chính việc cô phá luật, lẻn ra ngoài chơi đã dẫn kẻ thù đến ngôi nhà của mình. Chính cô đã hại chết Mẹ và các chị em vì sự ích kỷ của mình. Họ đã chiến đấu đến cùng, như một nữ tu chiến binh đích thực. Trong khi cô thì hèn nhát bỏ chạy khỏi trách nhiệm và tội lỗi của mình. Hàng đêm, Pavian đều vùi mặt vào tay mà khóc, nhủ rằng đáng lẽ ra cô phải chết vào cái đêm định mệnh đó. 


Sự căng thẳng, mệt mỏi và căn bệnh thiếu ngủ kinh niên càng khiến Pavian trở thành một người cứng nhắc và thô lỗ hơn trước. Cô thượng tôn luật lệ, phép tắc và các nghi thức, bất kể sự vi phạm nào, dù là nhỏ nhất, cũng đều là một sự xúc phạm tới Đức Ngài Bề Trên. Vậy nhưng ẩn sau sự mộ đạo đó là một nỗi sợ nhen nhóm về việc thảm hoạ của ngày xưa sẽ tái diễn, một nỗi sợ gai góc đến mức nó đâm thủng da của Pavian, tạo thành những mũi gai tua tủa của những lời nói cay nghiệt, xiên thẳng vào mọi người xung quanh cô.


Pavian mang nỗi đau đó rời nhà thờ, gia nhập vào quân đoàn nữ tu chiến binh của lãnh chúa. Tại đây, cô dần cảm nhận được sự bình an khi được ở bên những người chị em gần giống như mình, kỷ luật, im lặng và luôn luôn dứt khoát. Họ là một quân đoàn tinh nhuệ, đã kinh qua hàng chục trận chiến khốc liệt với quốc gia lân cận. Sau mỗi trận đánh, Pavian đều không khỏi nhớ về hình ảnh của Mẹ và các chị em trên nền của ngọn lửa. Cô vẫn chẳng thể nào ngủ ngon được mỗi đêm khi giờ đây máu trên cây chùy của cô đã đủ để nhuộm đỏ cả chục tu viện giống như nhà cô. Pavian thấy bản thân chẳng khác gì những kẻ sát nhân đã tàn phá ngôi nhà của mình. Liệu Đức Ngài Bề Trên đang suy tính những gì cho cô?


Và rồi trong một buổi trưa nọ, Pavian ngồi lên xác của một gã man di, cây chùy vẫn nghiến vào sọ hắn, đôi tay lật từng trang của cuốn sách thánh cũ nát, bọc đã sờn rách, gáy cũng đã long ra. Cô nhìn sự tàn tạ của cuốn sách, nghĩ rằng một ngày nào đó, bản thân mình cũng sẽ chết mục ruỗng ở đâu đó như vậy. Chợt cô nhìn thấy bút tích của một ai đó giữa những lời giảng. Vết mực đã nhoè đi, như thể người viết đã khóc rất nhiều. Đó là lời nhật ký của một nhà thơ. Anh ta, hoặc cô ta, đã nhiều lần lầm đường lạc lối, lâm vào đường cùng của cuộc đời mình. Thế nhưng nhờ cuốn sách thánh này, nhà thơ đó mới tìm lại được ánh sáng.


Pavian cảm động, cuốn sách thánh trước khi trở nên cũ nát như vậy đã mang lại hy vọng, niềm tin cho biết bao người. Khoảnh khắc đó, cô chợt nhận ra, mình cũng giống như cuốn sách này vậy. Trước khi mục ruỗng, cô đã mang tin tức quan trọng đến thị trấn, cứu vô số mạng sống của những thành phố, làng mạc quanh đó. Vào đêm định mệnh ấy, chính Đức Ngài Bề Trên đã khiến cô lạc đường, cứu cô khỏi thảm cảnh bị hành quyết. Cũng chính nhờ ý chỉ của Ngài mà cô có thể băng qua đêm đen đến được thị trấn nọ.


Pavian cuối cùng cũng đã ngộ ra, cô chính là người được chọn bởi Đức Ngài Bề Trên để thực hiện sứ mệnh cứu thế trên thế gian đang bị xé toạc bởi đám man tộc và dị giáo này.


Với động lực to lớn đó, Pavian đã phục vụ Ngài và chiến đấu với sự tận tụy, cũng như tàn nhẫn tuyệt đối. Ngay cả với những nữ tu chiến binh khác, cô ta vẫn khiến họ rùng mình vì sự tàn bạo, lạnh lùng, cứng nhắc và cuồng tín đến cực đoan của mình. Hung danh, cũng như thanh danh của Trưởng Quân đoàn Nữ tu chiến binh Pavian đã vang xa khắp nơi, đủ để cô được tuyển chọn vào tổ đội ám sát tên giám mục phản bội cùng ngọn lửa tà ác của hắn.


*


Bỗng dưng một giảng đường hiện ra, thứ hoàn toàn xa lạ với Discas. Gã lập tức nhận ra cô gái xinh đẹp đang có một cuộc tranh luận vô cùng gay gắt với vị học giả trên bục. Lão già đã bị cô ta làm bẽ mặt trước toàn bộ học viên. Một đứa trẻ, tuổi đời chỉ đáng là cháu gái ông ta, đang bằng lập luận và kiến thức của mình, dám đặt nghi vấn về những gì được giảng dạy, thách thức uy quyền của các bậc tiền bối. 


Họ sử dụng những từ ngữ học thuật lạ lùng mà Discas không hiểu được. Thế nhưng hắn có thể lờ mờ đoán được rằng Verdin đang tuyệt vọng cầu xin được cấp thêm tiền và vật liệu để thí nghiệm nhằm chứng minh một giả thuyết ma thuật nào đó.


Cô ta trông quá khác biệt với Verdin mà Discas biết. Năng nổ, nóng tính, đam mê, hoạt bát và đầy nhiệt huyết. Sau khi bị vị giáo sư tức giận đuổi khỏi lớp, Verdin tức giận chui vào căn phòng thí nghiệm của mình. Discas thấy rõ rằng cô ta là một kẻ bị ruồng bỏ. Verdin xinh đẹp, lập dị và cô đơn, chẳng có một ai nói chuyện, thậm chí là lại gần hay nhìn vào mắt cô ta. Đám học sinh, pháp sư tập sự đều truyền tai nhau rằng, Verdin là con “chó hoang” mang lại điềm xui rủi.


Hoặc ít nhất đó là những gì Discas lúc đầu nghĩ. Luôn có một cậu bé lẽo đẽo theo sau lưng cô ta, một đứa trẻ xấu xí, gầy gò với cái chân bị tật phải chống nạng tập tễnh. Discas chưa từng nghe thấy cậu bé xưng tên, Verdin cũng thường lờ cậu ta đi, chưa từng gọi tên cậu bé ấy. Thế nhưng qua những lời đàm tiếu luôn rúc rích sau tai, Discas biết cậu ta, hay tên thật là Olvie, cũng bị gọi là “chó hoang”.


Verdin và Olvie, một con chó hoang nóng nảy, hung dữ, không từ thủ đoạn để đạt được mục đích, và một con chó hoang tàn tật, hèn nhát, tìm mọi cách có được sự chú ý của con kia. Hai kẻ ở ngoài rìa của cái xã hội thu nhỏ bên trong một học viện bị chia rẽ bởi bè phái và quyền lực. Trong một xã hội được vận hành như vậy, không có chỗ đứng cho những kẻ nghiên cứu và học tập vì đam mê như Verdin.


Hai đứa thường bị đám học sinh khác trong trường bắt nạt. Lúc thì châm lửa vào lưng Olvie, lúc lại ném sách vào đầu Verdin. Những trò đùa tàn độc thường xuyên để lại những vết thương nhỏ trên người hai đứa trẻ. Vậy nhưng sự tập trung cao độ của Verdin vào công trình nghiên cứu của mình không cho cô ta thời gian để bực tức với những thứ nhỏ nhặt như thế. Còn Olvie yếu ớt hèn nhát thì chỉ có thể cắn răng chịu đựng.


Cô ta hì hục với những bản vẽ ma thuật và dụng cụ ma pháp kỳ dị trong căn phòng của mình, trong khi Olvie ngoan ngoãn ngồi ở một góc, lén liếc nhìn Verdin. Đôi khi cô ta sai cậu bé đi chạy việc vặt giúp mình, những việc như lấy thêm mực, giấy, tìm sách trong đại thư viện, thậm chí mang bữa trưa đến phòng thí nghiệm cho cô ta. Ánh mắt Olvie nhút nhát luôn nhìn Verdin đắm đuối, chan chứa trong đó sự ngưỡng mộ tinh thần bất khuất, lòng dũng cảm và kiên định của cô, đó là một tình yêu thuần khiết. Nhưng trong ánh mắt của cô ta chưa từng một lần phản chiếu hình bóng của cậu bé què đó.


Thời gian cứ thế trôi đi trong những cuộc tranh cãi gay gắt và trò bắt nạt ấu trĩ. Verdin đã lén thử nghiệm một loại ấn chú ma thuật cổ đại bị nghiêm cấm trong tham vọng mù quáng được chứng minh tài năng của mình với toàn bộ những kẻ xem thường cô. Ma thuật sơ đẳng được sáng tạo bởi con người là thứ nhàm chán, trong khi đó những thứ thuộc về các đấng thần linh hoặc các nền văn minh cổ đại lại chẳng thể được lý giải. Chắc hẳn phải có lý do thứ ma thuật cổ đại này bị cấm. Nó quá bất ổn, khó kiểm soát và kích động những phản ứng ma thuật mạnh mẽ vượt ra ngoài dự đoán của Verdin.


Tai hoạ đã xảy đến. Chỉ với một chút ma lực được truyền vào, lượng ma thuật bùng nổ đó nở bung ra ngập tràn căn phòng thí nghiệm nhỏ. Đến khi Verdin tỉnh lại, cô mới nhận ra Olvie đang nằm đè lên mình, che chắn cho cô khỏi vụ nổ. Chiếc nạng của cậu bị vứt cạnh cái ghế trong góc ở tận phía bên kia căn phòng. Tấm lưng và sau gáy của Olvie rỗng tuếch, phảng phất những hạt ma lực đang dần ổn định trở lại. Đôi mắt vô hồn của cậu ta nhìn thẳng vào tâm can Verdin.


Khoảnh khắc đó, Verdin mới nhận ra Olvie khốn khổ đã chết. Một nỗi sợ dâng lên trong trái tim tưởng chừng như thờ ơ của cô. Nó không phải là nỗi sợ bị phát hiện sử dụng ma thuật cấm, gây ra cái chết cho một học sinh như Verdin nghĩ. Tội lỗi, cô đơn, nuối tiếc, kinh hãi. Hàng chục lời giải, viễn cảnh chạy qua đầu Verdin, nhưng cô chẳng thể nào thuyết phục bản thân rằng Olvie chưa chết. Bấy giờ Verdin mới nhận ra Olvie quan trọng với mình tới dường nào, và cô đau đớn vì đã làm hại tới người duy nhất luôn ở bên cô ra sao.


Khi Verdin còn chưa hết bàng hoàng trước tai nạn vừa rồi, vị giáo sư già đột nhiên mở tung cánh cửa bước vào. Ông ta vô tình đi ngang qua đây và nghe thấy tiếng động lớn. Vậy nhưng trái ngược với những gì Verdin nghĩ, lão không hề tức giận, sợ hãi, mà hoàn toàn kinh ngạc trước cấu trúc ma thuật đang nằm giữa phòng của Verdin. Ngay lập tức, giáo sư gạt Olvie qua một bên và đưa cho Verdin một lời đề nghị đổi đời.


Giáo sư sẽ nhận? Verdin sự bảo hộ của mình, chính thức nhận nuôi con chó hoang luôn cắn bậy ông ta. Bằng cách đó, Verdin sẽ được cung cấp tài nguyên và tiền vốn để nghiên cứu thoả thích, cũng như được đối xử một cách bình đẳng bởi các giáo sư và học sinh khác. Đổi lại, công trình nghiên cứu, cấu trúc ma thuật mà Verdin dày công xây dựng sẽ thuộc về giáo sư, còn cô sẽ được ghi danh dưới danh nghĩa là trợ lý hỗ trợ của lão.


Kinh hoàng trước sự máu lạnh, vô liêm sỉ của lão ta, Verdin đã thẳng thừng từ chối bán rẻ đứa con của mình cho những danh tiếng, tiền tài phù phiếm. Thế nhưng khi giáo sư đe doạ công khai việc cô hại chết Olvie, Verdin buộc phải im lặng.

- Ngươi là đứa trẻ có tài. Từ bây giờ chỉ cần ngoan ngoãn làm theo lời ta thì sự nghiệp học giả của ngươi sẽ ngày một thăng tiến. Cái xác này? Để ta tiêu huỷ nó. Không có chuyện gì xảy ra bên trong căn phòng này, ngày hôm nay, được lọt ra khỏi đây, rõ chưa?


Lần đầu tiên trong đời, Verdin cảm thấy bất lực đến thế. Cô quay mặt đi, không dám nhìn khi thi thể của Olvie bị giáo sư dùng phép thuật làm mục nát và tan biến thành làn khói. Ngày hôm đó là lần đầu tiên, và cũng là lần cuối cùng Verdin nhỏ một giọt nước mắt.


Quả thực lão ta đã giữ lời, Verdin trở thành học sinh thiên tài được mọi người tôn trọng và kính nể chỉ sau một thời gian ngắn. Cô được khoác lên mình những tấm áo choàng, khăn choàng và vòng vàng cao quý nhất. Phòng thí nghiệm mới của cô rộng lớn, sạch sẽ cùng vô vàn các công cụ thí nghiệm. Rất nhiều người lạ đột nhiên tiếp cận làm quen với Verdin trên hành lang hay trong bữa ăn. Một thế giới mới đã mở ra trước mắt Verdin, nơi cô ta là trung tâm, nhận được mọi tiền tài, danh vọng mà bản thân hằng mong ước.


Thế nhưng Verdin đã chết cùng Olvie trong căn phòng thí nghiệm nhỏ bé chật hẹp bừa bộn đó. Sự ô nhục vì để nghiên cứu của mình bị cướp đoạt đã dần chẳng thể so sánh được với nỗi đau, sự dằn vặt mỗi khi khuôn mặt vô hồn của Olvie hiện về trong mọi cơn ác mộng của Verdin hàng đêm, như thể một nhành cỏ lọt thỏm giữa đại ngàn.


Rất nhiều năm đã trôi qua, giáo sư đã qua đời vì bệnh tuổi già trong vòng tay của những học trò thân tín. Hoặc chí ít đó là những gì Verdin muốn họ tin. Cô ta đã diễn tròn vai đứa học trò cưng của giáo sư, được lão ta tin tưởng và trao toàn bộ quyền thừa kế các di sản và tước hiệu của mình. Một thiên tài, ở độ tuổi còn rất trẻ mà đã đích thân mình sáng tạo ra một trường phái ma thuật riêng, thứ được phát triển từ công trình nghiên cứu bị cướp đoạt năm nào.


Giờ đây, với vị thế của một học giả quyền lực, nắm trong tay vô số tài sản quý giá, Verdin càng hiểu rõ tại sao các giáo sư, học giả già chẳng bao giờ nghiên cứu hay đóng góp được điều gì mới cho nhân loại. Họ đã lâm vào lối mòn của nỗi sợ hãi việc bản thân sẽ bị kẻ khác hạ bệ. Những kẻ cằn cỗi đó giành toàn bộ thời gian của chúng để xây dựng nên cho mình một gia tài và bảo vệ nó đến chết. Luôn luôn có một ai đó, ở một phe phái hay gia tộc nào đó nhăm nhe tước đoạt quyền lực và tầm ảnh hưởng của mình.


Verdin chán ghét giao thiệp với mọi người. Vừa vì chán phải đọc những âm mưu toan tính trong nụ cười của họ, vừa vì sợ cô sẽ vô tình quý mến một kẻ mà sớm hay muộn cô cũng sẽ, dù cố tình hay vô tình, làm tổn hại người đó. Giống như cách cô đã giết chết Olvie vậy. 


Verdin vẫn luôn đau đáu nỗi nhớ về khoảng thời gian hai người còn bên nhau. Những ngày tháng hồn nhiên, ngây thơ và đơn giản. Chỉ có hai đứa trẻ trong căn phòng chật hẹp đó, cùng những cảm xúc chân thành và mãnh liệt nhất tuổi trẻ có thể mang lại. Vậy nhưng mối tình đó sẽ không bao giờ chớm nở. Và chính nỗi tiếc thương vô bờ dành cho người bạn thân thiết nhất đó là thứ giết chết Verdin, giam giữ cô ta trong hầm ngục của những kỷ niệm xa xôi trong quá khứ, về một thời sẽ mãi mãi không bao giờ trở lại.


Cô khinh bỉ cuộc sống mình đang có, cuộc sống của một cái xác chết thối rữa được bọc trong tấm áo choàng và những sợi dây chuyền, vòng vàng cao quý. Do vậy, ngay khi nhận được lá thư mời tham gia một tổ đội gì đó mà cô còn chẳng đọc kỹ, Verdin lập tức đồng ý và sửa soạn lên đường, bỏ lại những cuộc tranh đấu quyền lực vô nghĩa sau lưng, tuyệt vọng tìm kiếm ý nghĩa cho sinh mạng đáng lẽ phải nổ tung cùng cậu bé què đêm đó.


*


Và rồi trước mắt Discas hiện ra Terivarilus với nụ cười hào hoa của mình. Một vị kiếm sĩ đẹp trai với bộ ria lãng tử, từng lời chào, cái bắt tay đều toát lên vẻ lịch thiệp. Để rồi lưỡi kiếm của ghen ghét và hận thù được tuốt khỏi chiếc vỏ của dối trá và tàn nhẫn, trong ngọn lửa rực cháy của màn đêm nguyền rủa. Discas bằng chính tay mình đã nghiến sâu lưỡi kiếm vào cổ người đồng đội đang say ngủ. Hắn còn chẳng biết bản thân có cảm thấy chút tội lỗi nào khi nhìn vào ánh mắt kinh hoàng mở to của Terivarilus, trong lúc hắn kéo lê cái xác của gã ta đem vứt vào đống thi thể đã cháy thành than vẫn còn rực cháy.


Terivarilus là một đứa trẻ mồ côi, phải tìm mọi cách để sống sót giữa khu ổ chuột của thành phố Atavan tráng lệ, một trong số những thành phố phồn vinh và rộng lớn nhất vương quốc. Khi hắn được một vị kiếm sĩ nổi tiếng tìm thấy, Terivarilus không khác gì một con thú hoang, hung dữ, tham vặt. Thế nhưng nhờ tình thương yêu, thứ còn quý hơn vàng, và sự giáo dục nghiêm khắc từ người cha nuôi, Terivarilus đã lớn lên thành một người đàn ông đứng đắn, hào hiệp. Không những vậy hắn còn trở thành một trong những kiếm sĩ tài năng nhất phục vụ trong đội hiệp sĩ vệ binh của lãnh chúa. Và đương nhiên Terivarilus sẽ không đời nào bỏ qua cơ hội lập công, làm rạng danh cha nuôi khi hắn nhận được lời chiêu mộ của đức vua.


Rồi Discas nhìn thấy một đứa trẻ khác, mồ côi, hèn mọn chẳng khác gì Terivarilus, cũng sinh ra tại thành phố Atavan. Đứa trẻ đó đã thẳng tay đập vỡ đầu một đứa khác để cướp ổ bánh mì mà đứa kia trộm được. Con chó hoang đích thực đó nhanh như gió, trong nháy mắt đã cướp được đồ ăn ở chợ mà không để ai phát hiện. Cuộc sống của nó suốt hơn chục năm đầu đời chỉ có trộm cướp và giết chóc.


Và rồi một ngày nọ, một nhóm lính đánh thuê ô hợp tạt vào quán rượu rách nát, bẩn thỉu trong khu ổ chuột của thành phố Atavan. Gã thủ lĩnh đã tóm được một thằng nhóc đang định móc túi mình. Gã đánh đứa bé gần chết, thế nhưng trong ánh mắt của nó có gì đấy đặc biệt mà gã chưa từng thấy ở đâu khác, ngay cả trong gương cũng chưa từng. Thế là tên du côn đó mang đứa bé theo, cho nó thứ để ăn, cho nó chỗ ngủ hàng ngày, nuôi lớn nó không phải bằng tình yêu thương mà bằng thứ duy nhất mà hắn biết, bạo lực và thủ đoạn.


Đứa trẻ mồ côi vô danh được học dùng kiếm, và dần bộc lộ ra tài năng thiên bẩm của mình. Nó tham gia đội quân lính đánh thuê từ rất sớm, và bằng cách nào đó mà chính tên thủ lĩnh cũng không hiểu nổi, sống sót qua vô vàn trận đánh khốc liệt. Nó đang dần trở thành một chiến binh hung hãn và mạnh mẽ. Thế nhưng sức mạnh cần phải bị kiểm soát. Nỗi sợ cần phải được tôi luyện thành sự phục tùng. Khi thằng bé ngày một lớn, gã thủ lĩnh dần cảm thấy cơn ớn lạnh khi nhìn vào đôi mắt của nó lớn dần. Ánh mắt ngập tràn đau đớn và thù hận. Một đứa trẻ chưa từng biết đến sợ hãi.


Một ngày nọ, đứa trẻ gây gổ với một vị hiệp sĩ quý tộc trên phố. Hai người họ thách đấu tay đôi và chẳng đáng ngạc nhiên, nó đã bị vị kiếm sĩ kia đánh bại. Thế nhưng thay vì kết liễu cậu bé để gột rửa danh dự của mình, người quý tộc kia vô cùng ấn tượng và mong muốn nhận nó làm người hầu. Ngay lập tức, gã thủ lĩnh lính đánh thuê đã bán đứa trẻ với một cái giá cắt cổ, vừa moi được hầu bao của tên hiệp sĩ kia, vừa tống khứ được con quái thú chỉ chực chờ đâm chết hắn trong giấc ngủ.


Nó là một kẻ bất trị, không thể bị khuất phục chỉ bằng bạo lực đơn thuần. Thế nhưng vì những bữa ăn miễn phí, con chó hoang đó vẫn tỏ vẻ ngoan ngoãn nghe lời. Dần dần, nó bắt đầu biết mưu cầu những thứ văn minh hơn là chỉ thức ăn và chỗ ngủ. Cậu bé, mà giờ đây là một chàng thanh niên, đã bắt đầu ham mê danh tiếng. Sinh sống chung với những gã vệ sĩ của vị quý tộc kia, nó được học về xã hội của những kẻ văn minh, coi trọng danh dự hơn cả mạng sống. Khoác bên ngoài trang phục sạch sẽ, râu tóc được cắt tỉa gọn gàng cùng thanh kiếm bên hông, chàng thanh niên luôn ngẩng cao đầu khi đi trên phố. Vì giờ đây, nó mang trong mình sự kiêu hãnh của một người đàn ông, thành viên đoàn tuỳ tùng cho vị hiệp sĩ quý tộc cao quý. Thế nhưng nó vẫn chưa thấy thoả mãn.


Với tài năng kiếm thuật của mình, đứa trẻ mồ côi đó liên tục đánh bại những kiếm sĩ xung quanh mình, trở thành nhà vô địch. Ngay cả vị hiệp sĩ quý tộc kia cũng dần nhận ra bản thân không thể chiến thắng người hầu của mình. Ông cũng nhìn ra sự khôn ngoan trong chàng trai trẻ, biết quy phục những người quyền thế hơn mình để đạt được mục đích cao hơn. Vậy nhưng những tham vọng không đáy, sự ngạo mạn khổng lồ, bản chất hèn hạ của nó bắt đầu khiến vị quý tộc lo sợ một ngày nào đó bản thân sẽ bị phản bội.


Năm tháng cứ trôi, cho đến một ngày nọ, một băng trộm đột nhập vào tư gia của vị hiệp sĩ quý tộc, vượt qua nhóm lính gác và đốt trụi dinh thự của ông ta. Khi vệ binh đến nơi, họ chỉ tìm thấy một người tuỳ tùng, cầm trên tay thanh kiếm vấy máu và cái đầu của gã thủ lĩnh lính đánh thuê ngày xưa, mà giờ đây đã trở thành thủ lĩnh băng trộm.


Tên tuỳ tùng ấy thề trên danh dự của mình, thứ mà chẳng ai tin là một kẻ có xuất thân như hắn có, rằng bản thân đã chiến đấu đến cùng để bảo vệ chủ nhân và dinh thự. Thế nhưng bằng một sự trùng hợp oái oăm, khi những người quen cũ nhận ra mối quan hệ giữa hắn và gã thủ lĩnh bị giết, tên người hầu bị tống vào nhà ngục với nghi ngờ rằng hắn đã cấu kết hãm hại chủ nhân, rồi phản bội chính đồng bọn của mình để lừa gạt phán quyết công lý. Không ai tin lời hắn nói.


Chẳng ai biết được sự thực là gì, vì hắn không bao giờ mở miệng ra nữa.


Hắn đã bị tước hết tất cả những gì hắn có. Danh dự, phẩm giá, lòng kiêu hãnh, hay vị chủ nhân mà hắn đã thật lòng tôn kính. Tên tử tù giờ đây hận thù tất thảy. Nếu như mọi nỗ lực kìm nén bản chất hèn hạ, tàn độc trong hắn suốt bao năm nay đều là vô nghĩa, mọi cố gắng gây dựng và bảo vệ danh dự của mình đều bị đạp bỏ, thì hắn cóc thèm thứ danh dự chết tiệt đó nữa.


Trước ngày gã bị hành quyết, một hiệp sĩ vệ binh cao quý của lãnh chúa đã đưa hắn ra khỏi ngục và đọc cho hắn lá thư chiêu mộ của nhà vua. Tuy vậy, theo đúng nghi thức, tên tội nhân vẫn phải chứng minh sự trong sạch của mình qua một trận đánh tay đôi. Đáng tiếc thay chẳng có ai sẵn sàng đứng ra quyết đấu với hắn cả. Danh tiếng bất khả chiến bại của tên tội đồ đã hại hắn. Vậy nhưng may mắn thay, Terivarilus, người hiệp sĩ vệ binh đưa tin, lại hứng thú với tên tử tù trước mặt và đồng ý nhận lời thách đấu của hắn.


Đó là một trận đánh tuyệt vời mà không ai có mặt chứng kiến tại đó dám quên. Tuy phần thắng thuộc về Terivarilus, nhưng ngài ấy sẵn sàng ân xá cho tên tội phạm trước mặt. Tiếng vỗ tay và hò hét vang dội cho lòng nhân từ của ngài Terivarilus. Thế nhưng từ sau lưng vị hiệp sĩ, con chó hoang kia vẫn xoáy sâu ánh mắt của đố kỵ và hận thù vào ngài vì đã đả bại nó. Hắn đã bị tước lòng tự hào kiếm thuật của mình, tước đi thứ cuối cùng còn khiến hắn giữ lại chút nhân tính


Vậy nhưng nếu được sống sau hôm nay, thì hắn sẽ có vô vàn cơ hội để trả mối nhục này.


Con chó hoang bẩn thỉu, xấu xí. Dù có được tắm rửa, cho ăn no thì bản chất nó vẫn là một con chó hoang không thể bị thuần hoá. Khác với con sói dũng mãnh của đội hiệp sĩ vệ binh, hay những lời cay độc trong giới tinh hoa tri thức ở học viện, nó là một con chó đúng nghĩa, sinh ra ở nơi tận cùng dưới đáy. Qua năm tháng, tưởng chừng như môi trường đã thay đổi nhưng cuối cùng tâm trí nó chưa bao giờ thoát được khỏi con hẻm tối tăm, nơi nó cắn xé những con chó yếu hơn vì miếng ăn.


Những giây cuối cùng của Discas ngập tràn trong thống khổ thể xác bởi ngọn lửa thiêu đốt ruột gan xương cốt của gã giám mục, dường như là sự trừng phạt của vị chúa tối cao dành cho kẻ tàn ác. Và giờ đây khi hắn đã được nhìn lại toàn bộ cuộc đời của mình và cuộc đời của những kẻ mà hắn đã hãm hại, ngọn lửa của dằn vặt và tội lỗi thiêu cháy linh hồn của tên tội nhân, đày đoạ hắn đến vĩnh hằng trong sắc đỏ ngập tràn, mùi khét nghẹt thở và nỗi đau đớn, thống khổ bất tận của hoả ngục. Tôn vinh ngài, vị chúa tể của ngọn lửa đỏ.


Và thế là tổ đội chiến binh, những dũng sĩ được tuyển chọn cẩn thận bởi nhà vua đã biến mất không một dấu vết. Tuy nhiên họ không phải niềm hi vọng cuối cùng của vương quốc đang bị chia cắt, dần sụp đổ bởi vô vàn tai hoạ. Như một sự cân bằng của số phận, vô số hào kiệt, anh hùng từ khắp các vùng đất xa xôi đều đổ dồn về đây, sẵn sàng đón nhận thử thách kinh hoàng của những con quái vật và những tín đồ tà giáo. Mỗi kẻ mang trong mình một mục đích riêng, thế nhưng ngọn lửa sẽ luôn ở đó, phán xét mọi linh hồn bước vào chốn hoả ngục trần gian này.



0

Hãy là người bình luận đầu tiên nhé!

Bình luận

Chưa có bình luận
Preview Settings

Try It Real Time

Layout Type
    • LTR
    • RTL
    • Box
Sidebar Type
Sidebar Icon
Unlimited Color
Light layout
Dark Layout
Mix Layout