- Anh nói gì cơ? Không có bất kì ai khả nghi xuất hiện ở đây? Anh có chắc là mình không nhìn nhầm đấy chứ!?
- Thề có Chúa! Lúc ấy tôi chỉ nghe loáng thoáng thấy tiếng kính vỡ, rồi là tiếng lục cục gì đấy! Vài phút sau thì “thụp” một tiếng. Có cái gì đấy rơi từ trên cao xuống, nhưng chỉ mấy giây sau là yên lặng trở lại.
- Chỉ thế thôi sao!?
- Thôi nào anh bạn! - Gã đàn ông bẩn thỉu với bộ tóc xoăn đen nở nụ cười ranh mãnh. Hắn giơ một tay lên ngang mặt, những đầu ngón tay chai sần bẩn thỉu xoa vào nhau, làm dấu đồng tiền, - Giờ mà anh chịu cho tôi vài bạc lẻ để theo dõi căn nhà đó, thì tôi đảm bảo với anh, đến một con ruồi bay qua cũng không lọt được đâu!
Francis chỉ buông một tiếng “chậc”, rồi quăng cho hắn một tờ 100 franc. Những gì hắn vừa kể lại chỉ là phần thông tin đã có trong bảng điều tra của cảnh sát. Hung khí được tìm thấy ở bên ngoài căn nhà. Hiện trường vụ án có dấu vết đột nhập của người ngoài. Nhưng giữa cái nơi mà lúc nào cũng có người đi kẻ lại như con phố Falguière này, gã người ngoài đó lại không bị ai nhìn thấy thì quả thực là khó tin.
Đây đã là tên ăn mày lang thang thứ ba được anh hỏi thăm rồi, lẽ nào người mà anh đang tìm kiếm biết dùng thuật tàng hình.
Hoặc là …
Anh bước vội ra khỏi con hẻm chật hẻm, nhanh chóng tìm một chỗ ngồi tại quán cà phê gần đó. Anh lôi mớ tài liệu trong túi hồ sơ ra và bắt đầu kiểm tra. Nếu anh không nhầm thì, phía cảnh sát vẫn đang để ngỏ một dấu hỏi lớn tại phần mạng lưới quan hệ của nạn nhân.
Tiếng chuông điện thoại vang lên như tiếng cầu cứu khẩn khoản từ phía người nối máy. Anh lôi nó ra, nghiêng đầu kẹp nó vào giữa vai với hàm. Sự chú ý của anh vẫn đang neo lại trên bản báo cáo điều tra.
- Chào ngài Đại Uý, anh có manh mối mới nào cho tôi không?
- Có đấy! Nguyên một vụ án mới. Vẫn tại phố Falguière!
Francis tắt máy, gấp gọn đống hồ sơ, bỏ lại tách cà phê chưa đụng tới. Bên ngoài, mặt trời bị che khuất bởi những đám mây xám xịt. Gió đập mạnh vào những tấm bảng hiệu bằng sắt, mang theo một thứ mùi khó chịu. Mùi của sự hỗn loạn. Vài con quạ từ phía Tây bay đến, đậu đầy trên nóc những toà nhà cổ kính và các cột đèn đã hoen rỉ, phát ra những tiếng kêu rền rã.
- Bà biết tin gì chưa! Có một vụ án mạng mới được phát hiện cách đây ba tiếng trước, chỉ cách chỗ ta đang đứng có vài chục số nhà thôi đấy!!
- Lạy Chúa!! Làm sao mà ông biết được chuyện đó!?
- Cảnh sát và đám phóng viên đang tụ lại như đám chó săn ở cuối đường phía Tây kia kìa, tốt nhất là bà đừng có qua đó…
Thứ thông tin nghe vội truyền từ lời quý ông này sang tai quý bà kia, bỗng chốc biến thành hàng ngàn lời rì rầm lao xao như tiếng muỗi, len lỏi vào đoàn người đứng trước vạch kẻ đường chờ đèn đỏ. Chỉ có anh, Francis, là lặng thinh giữa đám đông, chăm chú lắng nghe thứ âm thanh hỗn độn kia. Mùi áo len đẫm sương ngâm quyện đều với mùi thuốc lá và dầu máy từ những chiếc Peugeot đang ì ạch trên đường, càng làm cho bầu không khí trở nên ngột ngạt.
Khi hộp đèn chuyển xanh, anh bước vào dòng người qua lại, bóng lưng nhoà dần đi sau làn xe cộ.
Trên con phố Falguière bộn bề người đến kẻ đi, anh đã lướt qua không ít lời bàn tán, hầu hết đều hướng về câu chuyện đáng quan ngại vừa diễn ra. Ai mà ngờ được khu này có đến hai vụ giết người, mới diễn ra trong chưa đầy một tuần cơ chứ! Cộng với việc tin tức về những kẻ giết người hàng loạt từ các nước lân cận càng khiến dân Paris dễ dàng rơi vào trạng thái hoang mang, lo sợ. Một vài nhịp bước đi đã đổi, vài người thi thoảng lại nhìn trước ngó sau.
Ngay cả anh, chàng thám tử vùng Marseille, cũng không giấu nổi căng thẳng. Chân anh bước khẩn trương trên vỉa hè lát đá, tâm trí anh thì đang hướng về cái nơi mà người ta đang bảo nhau nên tránh đi - căn nhà của nạn nhân thứ hai.
Khoảnh khắc bước chân đầu tiên của anh chạm đến hiện trường, cảm giác về sự ma mị, thần bí lập tức xâm chiếm tâm trí vị thám tử. Anh đang đi lạc vào cảnh mở đầu của một bộ phim kinh dị sao? Phải chăng anh đã quá quen với kiểu kiến trúc cứng nhắc và vuông vắn của những toà chung cư kiểu Haussman xung quanh, cho nên khi trông thấy những đường cong uốn lượn trên các bức tường, những hàng rào thép màu đen bao bọc lấy căn nhà, cơn tò mò của anh bị đẩy cao lên một cách lạ thường thế này ư? Anh vội xua cái suy nghĩ lố bịch đó đi, tập trung quan sát sự hiện diện của những con người đang có mặt ở đây.
Cảnh sát đã sớm giăng những dải dây vàng rực phong toả căn nhà. Xung quanh hiện trường tràn ngập những kẻ đi người lại mang danh tính khác nhau: điều tra viên, pháp y, cảnh vệ, những kẻ săn tin tức, những gã hiếu kì.
Với anh, họ là những đoạn thông tin biết đi. Nhưng để cạy miệng họ ra thì anh cần phải chuẩn bị một chút.
- Tôi chưa từng thấy ai đen đủi như ông này! - Người phụ nữ đã quá tuổi tứ tuần với chiếc tạp dề nhàu nhĩ kể lại, - Bị sát hại đúng lúc bà giúp việc đi vắng, lại còn trúng vào thời điểm cả khu phố đang tất bật chuẩn bị cho ngày Beaujolais Nouveau nữa chứ! Mãi đến gần trưa nay tôi mới thấy cảnh sát đến.
- Hi vọng rằng đây không phải một vụ giết người hàng loạt! - Quý ông trung niên đang phì phèo điếu xì gà chậm rãi xoa cằm, đáp lại với vẻ suy tư, - Tôi e là sẽ có người tiếp theo đấy! Anh nghĩ thử xem, người đầu tiên là vợ của một nhà phê bình nghệ thuật quá cố, người thứ hai là một hoạ sĩ về hưu. Vậy người thứ ba là ai? Lẽ nào là một gã sưu tập tranh sừng sỏ nào đó?!
- Này! Nói nhỏ cho anh biết một chuyện! - Người đàn ông trẻ tuổi, bận đồ thể thao, ngập ngừng đưa tay lên che miệng, nói với tông giọng thì thầm, - Đêm qua, khi tôi đang hút thuốc ngoài ban công, tôi có nghe thấy tiếng một chiếc xe ô tô rời đi ở đoạn này, nhưng chẳng rõ đấy là xe taxi hay xe của hung thủ nữa. Để cảnh sát tra hỏi thì phiền phức lắm, anh giúp tôi nói bóng gió trên báo để họ nắm được tình hình nhé, nhé!
- Riêng chuyện đó thì anh không phải lo! - Francis, dưới lốt một phóng viên, đóng chiếc sổ tay nhỏ lại, nháy mắt một cái làm bộ, - Tôi sẽ viết thật khéo, những quý ông cảnh sát kia mà đọc được có khi là cảm kích đến phát khóc mất!
Dứt lời, anh từ từ lách mình ra khỏi chỗ người qua kẻ lại. Đám đông đã cho anh ta lượng thông tin đủ nhiều, và giờ anh cần phải đi gặp một người. Trên mặt báo, người ta gọi người đàn ông này là kẻ thù của những tên tội phạm, Marcel Lockhart, vị sĩ quan cảnh sát hình sự đáng kính của sở cảnh sát Paris.
Chiếc Renault 5 màu xanh xám, nằm im lìm bên phần đường đối diện căn nhà kia là thứ anh đang tìm kiếm. Vị thám tử đứng lại bên phần tay lái, gõ ba lần vào cửa kính xe. Âm thanh mở tay nắm cửa vang lên một tiếng “xoạch” đáp lại. Anh mở cửa ghế phụ, thản nhiên ngồi vào.
- Lần này các anh có gì thế?
- Rất nhiều điều khó hiểu - Lockhart một tay bóp bóp trán, cố gắng xoa dịu cơn nhức đầu đang hành hạ, một tay còn lại đưa xấp tài liệu chứng cứ đã thu thập được cho Francis, - Bên Trung Ương bắt đầu hỏi thăm chúng tôi rồi.
Mùi khét lẹt của thuốc lá trộn lẫn với mùi cà phê từ những chiếc cốc nhét vội vào khay gạt tàn sộc thẳng vào mũi vị thám tử. Kí ức về những đêm dài cùng ông bạn theo dõi nghi phạm trên xe bỗng chốc ùa về trong tâm trí anh. Lần cuối cùng anh ngồi vào chiếc xe này là từ khi nào? Cũng phải ngót nghét 5 năm rồi đấy nhỉ.
Ngài Đại Uý hạ cửa kính xuống một chút, rồi rút điếu xì gà ra, châm lửa, mượn khói thuốc để tống khứ bớt phiền muộn ra khỏi đầu. Cánh báo chí và những kẻ săn tin đang hau háu chờ thông báo từ cảnh sát, anh e rằng chỉ cần phát âm sai một từ thôi, thì lời nói đó rất dễ trở thành một đoạn văn dưới ngòi bút của một gã kĩ tính nào đó.
Trước mắt thì, các bản báo cáo điều tra của anh đang được Francis soi xét đầu tiên. Vị thám tử chẳng màng đến những dòng gạch xoá vội vã, mà chỉ quan tâm tới phần thông tin thô quý giá. Nạn nhân là Bernard Maurel, 58 tuổi, một giảng viên đại học đã nghỉ hưu, đồng thời là một hoạ sĩ đã từng nổi tiếng vào thời điểm 8 năm về trước. Ông ta mới li hôn vợ gần đây và hiện đang sống một mình với người giúp việc.
Người này được phát hiện đã chết trong phòng riêng lúc 10 giờ 30 phút sáng, thời điểm tử vong được xác định vào khoảng 10 giờ đến 2 giờ đêm. Thi thể được tìm thấy trong tình trạng nằm sấp trên sàn, trên người vẫn mặc bộ vest trang trọng, bên cạnh là chiếc gạt tàn thuỷ tinh dính máu. Người giúp việc của nạn nhân đã cung cấp đầy đủ chứng cứ ngoại phạm, về việc chiều tối hôm qua đã tới phòng mạch do sốt cao và được chỉ định ra về khi trời đã sáng. Bên dưới bản chép lời khai đã có chữ kí chứng thực của bác sĩ và y tá phụ trách điều trị .
- Phía điều tra đã tiến hành lấy lời khai từ những người sinh sống tại đây. Các nhân chứng khai nhận họ không nghe thấy tiếng động bất thường nào phát ra từ căn nhà. Cửa sổ tầng 2 khu vực ban công bị đập vỡ 1 ô kính. Chúng tôi đang tính đến khả năng có người đột nhập.
Lockhart nói với chất giọng nghe như tiếng rè rè trên loa phát thanh, câu chuyện thì không khác lần trước anh chia sẻ với Francis là bao. Nạn nhân sống với giúp việc, quan hệ với hàng xóm không tốt, bị sát hại tại phòng riêng lúc nửa đêm. Cửa sổ vỡ, hiện trường thì bị lục lọi lung tung. Các đồ vật giá trị bị thiếu mất một vài món.
- Tiến độ điều tra vụ gần đây của các anh sao rồi!?
- Trên táp lô ấy! - Ngài Đại Uý hất hàm, - Gia đình Deneuve vẫn còn một cô con gái là Nicolette, con riêng của chồng nạn nhân, hiện đang du học ở Luxembourg. Chúng tôi đã thử liên lạc nhưng chưa nhận được phản hồi.
- Đáng lưu tâm đấy!
- Người tình hiện tại của bà ta thì biến mất tăm. Còn công tác tìm hiểu và xác minh các mối quan hệ tình ái nửa vời của bà ta thì… - Lockhart khẽ nghiến răng - … khiến đội điều tra của tôi đau đầu mấy hôm nay rồi! Có những quý ông vì sợ liên luỵ mà từ chối gặp mặt nữa kia.
Đáp lại anh ta là tiếng cười chua chát và đồng cảm. Vị thám tử lật đến trang báo cáo khám nghiệm tử thi. Nguyên nhân cái chết được xác định do tổn thương đến từ các cú đánh mạnh vào sau gáy. Phần da sau cổ nạn nhân có dấu hiệu bị bầm dập, rách và chảy máu. Kích thước các vết thương và mẫu máu tìm thấy trên chiếc gạt tàn đều chỉ ra vật này chính là hung khí được sử dụng. Có thể đưa ra phỏng đoán sơ bộ rằng hung thủ đã nhân lúc ông ta mất cảnh giác để ra tay, bởi các vết bầm do xô xát, chất gây mê hay thuốc ngủ đều không được tìm thấy.
Bức ảnh chụp hiện trường của vụ đầu tiên được lôi ra để so sánh. Cùng là tấn công vào gáy, nhưng bà Deneuve đã tử vong chỉ với một cú va chạm chí mạng, hung khí cũng được xác nhận là chiếc gạt tàn bằng thủy tinh dày cộp trong phòng. Cảnh sát đã tiến hành thu thập dấu vân tay và các vết tích khả nghi còn sót lại, nhưng xem ra càng ngày càng đi vào ngõ cụt. Danh sách các DNA được tìm thấy hiện chưa xuất hiện thêm đối tượng mới, các túi đựng vật chứng vẫn giữ nguyên số lượng.
Vụ án của người đàn bà xấu số kia đến giờ vẫn chưa có tiến triển nào, và rồi chuyện đau lòng của ông Maurel ập tới. Francis cảm giác có một chiếc đồng hồ đếm ngược đang treo trên đầu mình. Anh mà không sớm tìm ra hung thủ, có lẽ vụ án tiếp theo sẽ xảy ra, trước cả khi anh kịp điều tra xong.
- Hai vụ này nhìn qua thì giống nhau thật đấy! - Francis gật gù - Nhưng đôi khi, sự tương đồng cũng là một thứ mà người ta dùng để ngụy trang. Tôi muốn xem xét kỹ hơn hiện trường vụ án của ông Maurel. Có thể ở đó vẫn còn sót vài đồng tiền vàng mà chúng ta chưa tìm thấy.
Khi đám đông đã không còn hiếu kì và những nhân viên điều tra đều đã rời đi, vị thám tử và ngài Đại uý mới bắt đầu bước qua cánh cửa gỗ nâu đen lạnh lẽo để tiến vào bên trong hiện trường. Gót giày hai gã đàn ông vang vọng giữa khoảng không trống trải ở tầng triệt, nơi ánh sáng từ trên cao phân thành từng mảng vàng ệch và xanh lơ dưới mái vòm kính màu. Cầu thang gỗ uốn lượn như thác chảy giữa phần không gian thông tầng. Bóng những dây leo bằng sắt trên lan can đổ dài trên nền sàn gạch gốm, tạo thành những hình thù kì quái. Đồ đạc xung quanh vẫn còn giữ được chỉnh chu, gọn gàng.
Căn phòng nơi xảy ra án mạng cũng nằm ở tầng triệt, ngay sau phòng khách. Ai mà bước vào đây thì cũng phải thốt lên một câu, rằng nơi này đúng là cái chốn thể hiện đẳng cấp của gia chủ đối với những vị khách đặc biệt. Phần tường được phủ một lớp giấy dán màu kem cao cấp. Sàn nhà trải thảm nhung đỏ. Trên trần treo chiếc đèn chùm pha lê diêm dúa và khoa trương. Chiếc đồng hồ quả lắc dát vàng trên tường ung dung đưa qua đưa lại.
Khác với sự ngăn nắp trật tự ở bên ngoài, lộn xộn không thể tả lại chính là câu bình phẩm dành cho căn phòng này. Bàn trà lật ngang, ly tách và các mảnh thủy tinh vỡ vung vãi trên thảm. Một vài bức tranh bị tháo xuống, để lộ vết ám nắng của việc đã được treo ở đó lâu ngày. Ngăn kéo của tủ tài liệu bị mở toang. Tấm thảm giữa phòng ngổn ngang toàn là giấy tờ, tranh vẽ, sổ sách nằm la liệt. Thi thể của vị hoạ sĩ quá cố đã được đưa đi, chỉ còn lại vài vệt máu đã khô, những vết đánh dấu của người khám nghiệm hiện trường, và mùi thoang thoảng của bột lấy dấu vân tay.
- Lockhart, anh có ngửi thấy gì không? - Francis khịt mũi, nhìn trái rồi lại nhìn phải. Anh hít một hơi thật sâu, bước từng bước thận trọng. - Tôi ngửi thấy một mùi gì đó, không phải cồn... Mùi rượu! Gần giống mùi vang trắng!
Ngài Đại Uý hất hàm về phía bàn trà - Cậu ra đằng kia xem thử nhé, ở đấy có cả mảnh vỡ của chai rượu đấy!
Francis cẩn thận bước qua các món đồ, anh khom người xem xét vết rượu ngấm trên thảm lẫn những mảnh vỡ của chiếc ly. Rồi anh tiến lại gần chỗ nạn nhân ngã xuống, mang theo vẻ mặt chưa thoả mãn. Thứ mùi kia mách bảo anh rằng nó không chỉ xuất hiện ở cái chỗ hiển nhiên kia, vẫn còn một vị trí khác đang đưa hương, dưới đống lộn xộn này. Anh ngồi thụp xuống, đưa mũi lại gần sát những món đồ để xác nhận lại, rồi cẩn thận nhấc một quyển sách lên.
- Đây rồi! - Mắt anh sáng lên. Bên dưới cuốn sách nằm cạnh vị trí đánh dấu nạn nhân là một vết chất lỏng sẫm màu - Đêm qua, nạn nhân đánh rơi ly rượu tại vị trí này. Những mảnh vỡ của chiếc ly đáng lẽ ra phải có ở đây thì lại nằm cạnh chiếc bàn trà.
- Cậu vừa nói gì cơ?! - Lockhart bước đến sau lưng anh để nhìn cho rõ - Tại sao lại là nạn nhân đánh rơi ly rượu ở đây?
- Anh đang nghĩ đến việc có vết rượu ở vị trí này là do nạn nhân bị người khác hắt vào hoặc vô tình làm đổ phải không? - Francis lục trong túi áo, lôi ra chiếc đèn pin bỏ túi.- Nhưng tôi lại tìm thấy một thứ chứng minh điều ngược lại đấy!
Một vết lấp lánh nhỏ loé lên dưới ánh sáng. Anh đưa ngón tay miết một đường xuống đó, rồi đưa lên cho ngài Đại Uý xem. Trên đầu ngón tay đã đeo găng tử tế của anh ta đang có một mảnh thuỷ tinh nhỏ xíu găm vào. Giờ mà đem so sánh vị thám tử này với một kẻ đã tìm được đá quý trong hầm mỏ, thì điểm khác biệt giữa họ chẳng đếm được bao nhiêu.
- Giờ anh hiểu rồi chứ! - Francis nở một nụ cười khoái chí - Tôi cho rằng hung thủ và nạn nhân đã có cuộc gặp mặt thân mật ở đây, và tên đó đã động thủ ngay khi trên tay ông ta vẫn còn ly rượu.
- Gặp gỡ thân mật?- Lockhart nhướn mày - Khai sáng cho tôi đi anh bạn! Tôi mà hiểu được chuyện này nhanh như vậy thì tôi đã lên chức Thanh tra Trưởng từ lâu.
- Trong đống ly tách vỡ gần bàn trà vẫn còn vài chiếc đọng rượu ở đáy - Một tấm ảnh chụp hiện trường được đưa đến tay Lockhart để đối chứng - Người giúp việc đêm qua không có mặt ở đây. Không lý nào nạn nhân ở một mình mà lại dùng tới 3-4 chiếc ly như vậy cả.
- Cậu có nghĩ rằng hung thủ đã lẻn vào đây từ trước không? Hắn ta ẩn nấp ở đâu đó, dưới tấm rèm cửa sổ hoặc sau cánh cửa ra vào chẳng hạn, và chỉ chờ nạn nhân mất cảnh giác?
- Nghe thì hợp lý đấy, nhưng tính khả thi ở hiện trường này bằng không - Francis lắc đầu, đưa tay chỉ về phía cửa chính - Căn phòng này khác với căn phòng của vụ án thứ nhất ở chỗ, cửa ra vào là loại cửa mở hướng ra hành lang, không phải hướng vào trong phòng. Cộng với việc tư thế ngã của quý ông đây và phần rượu đổ đều hướng về phía cửa sổ. Ở vụ này, nếu hung thủ muốn tấn công bất ngờ, thì việc nấp sau cánh cửa ra vào là một lựa chọn hết sức ngu ngốc và liều lĩnh. Tôi mà là tên sát nhân thì tôi sẽ chọn nấp sau rèm cửa và ra tay.
- Khá lắm! - Ngài Đại uý nói lớn - Giờ tôi hiểu rồi! Ô cửa sổ vỡ, đống lộn xộn mà ta thấy và chiếc ly vỡ gần bàn trà chỉ là trò tung hỏa mù hòng qua mặt cảnh sát. Ôi Chúa ơi, giờ mà có tay điều tra viên nào mang máy ảnh ở đây thì tốt quá - Vừa nói anh ta vừa vội và tìm điện thoại trong túi áo, bấm số gọi điện - Khả năng có trộm đột nhập làm tôi và anh chàng Trung Uý tranh luận với nhau suốt mấy bận. Anh ta cho rằng đây là một vụ giết người hàng loạt, nhưng chưa có bằng chứng cụ thể.
- Anh nên đi dạo phố nhiều hơn! - Vị thám tử cẩn thận ghi lại chi tiết vừa rồi vào sổ tay - Giả thuyết về hai vụ án này ở ngoài kia người ta đồn đoán đa dạng lắm. Chúng ta mới chỉ loại được một cái thôi.
Dứt lời, anh chuyển hướng tìm kiếm sang phía bàn làm việc. Chỗ này không bị kẻ sát nhân nhắm tới nên vẫn còn giữ được sự ngăn nắp. Phía góc phải đặt một chiếc đèn kính màu thủ công, bên cạnh là điện thoại bàn, bút máy loại cao cấp và một cuốn sổ ghi chép bằng da bê. Dường như quý ngài hoạ sĩ đây chẳng còn vấn vương gia đình cũ, bởi ông ta không để bất cứ tấm ảnh chụp của người thân nào tại phòng riêng của mình. Điều này, bất ngờ thay, lại vô cùng giống với căn phòng nơi xảy ra vụ án của bà Deneuve.
- Quý ngài của chúng ta có đời tư thế nào?
- Ông ta từng làm người môi giới bán tranh, nhưng sau khi ông ta sang Đức thì không có thêm tin tức nào khác. Vợ cũ và hai con gái hiện đang nghỉ mát tại miền Nam. Đội chúng tôi đang tiến hành đào sâu thêm - Lockhart đáp, tay bận rộn trả lời tin nhắn của cấp dưới - Lại một vòng lặp nhàm chán khác, xác định các mối quan hệ của nạn nhân và nhận được những cú lắc đầu từ những quý ông quý bà tôn sùng chủ nghĩa im lặng là vàng.
- Nghe cứ như là anh đang điều tra dân Đông Đức trước năm 1989 vậy! Cơ mà tôi thấy lần này sẽ không khó khăn đến thế đâu, trước mắt thì chúng ta chỉ cần tìm ra 4 người này thôi.
Vị thám tử chìa ra cuốn sổ tay của nạn nhân, bên trong là các ghi chép lịch trình cá nhân hằng ngày. Gặp ai, ở đâu, lúc nào. Ngày hôm ấy, chỉ có 4 cái tên xuất hiện.
***
Có lẽ vì những chuyện không hay liên tiếp diễn ra, nên sắc trời Paris của hôm sau không hề khá khẩm hơn là bao. Cả thành phố rơi vào trạng thái ảm đạm, âu sầu trong cơn mưa rả rích. Ngoài phố đã vãn người qua lại, chỉ còn vài chiếc xe taxi lướt qua, mang thứ ánh sáng nhòe nhoẹt hắt lên cửa kính. Trong căn hộ ở tầng ba của một khu nhà cũ kiểu Haussmann, nơi những dây thường xuân đã leo đầy trên các bức tường, vị thám tử của chúng ta đang ngồi khám nghiệm mớ thông tin nhập nhằng của hai vụ án. Căn phòng anh ngồi chỉ có tiếng lật giấy loạt soạt, tiếng người nói từ bản ghi âm lời khai, và tiếng "ríttt" chói tai khi Francis tua đoạn băng về trước đó để nghe lại. Ánh đèn vàng màu mật ong lập loè như đốm lửa nhỏ trong đôi mắt xanh lơ chất chứa nhiều hoài nghi.
Buổi sáng, một tập tài liệu dày cộp chứa tiểu sử cá nhân và lời khai của 4 nghi phạm trong vụ của ông Maurel đã được gửi đến chỗ anh. Cả 4 người đều khai rằng không gặp ai khác ra vào nơi ở của nạn nhân. Câu hỏi "Ông Maurel có mời rượu khi ông/bà đến thăm không?" được cài vào nhằm mục đích thăm dò phản ứng.
Francis đã mong đợi một bản báo cáo điều tra mở rộng các mối quan hệ của Deneuve, nhưng chúng không xuất hiện. Sở dĩ người đàn bà này vốn là đệ Nhị phu nhân của gia chủ quá cố. Sau khi ông ta qua đời, nghiễm nhiên bà ta là người thừa hưởng một phần gia sản và căn nhà của chồng. Đứa con gái duy nhất của ông Deneuve, cô Nicolette, được cho là không hòa hợp được với mẹ kế, nên hầu như không còn về thăm nhà hay liên lạc gì qua lại. Có lẽ cô gái đó cũng đoán được rằng, nơi từng là chốn lui về của mình sớm muộn gì sẽ trở thành địa điểm hẹn hò lí tưởng, vừa riêng tư lại không tốn chi phí.
Câu chuyện về sau diễn ra như thế nào thì không cần phải bàn thêm. Những nhân chứng đều lắc đầu khi được hỏi về những người đã đến hoặc lảng vảng xung quanh nhà của bà Deneuve. Xem ra họ đã quá quen với cảnh cứ dăm ba hôm là lại có một chiếc xe lạ rẽ vào đó, nên từ lâu đã không còn ai buồn để mắt đến nữa. Hiện giờ, thứ thông tin được cho là hữu ích mà Francis có được chỉ là bản ghi lời khai nửa vời của người giúp việc Bernier. Bà ta nói rằng hôm đó nữ chủ nhân không có lịch gặp ai, cộng với việc bà ta cảm thấy trong người không khỏe, nên đã đi nghỉ sớm trong phòng riêng, hoàn toàn không nắm được những gì đã xảy ra vào buổi tối.
Vụ án đầu tiên khiến Francis như lạc giữa biển khơi, xung quanh không có nổi một cột hải đăng nào làm nơi bấu víu. Hiện giờ anh chỉ biết bám vào những thông tin về vụ thứ hai với hi vọng có thể mở ra một lối đi nào đó triển vọng.
Người thứ nhất tới thăm ông Maurel là Lucien Carrel - chủ của một cửa tiệm chuyên bán các dụng cụ mỹ thuật cao cấp - đến với chiếc cặp chứa hai bộ màu đắt đỏ là xanh Ultramarine và vàng Cadmium, đi một mình. Bản ghi lời khai cho thấy anh ta tới lúc 6 giờ tối và chỉ ở lại khoảng 30 phút.
"Quý ngài đó nói rằng mình sắp sửa tái xuất giới hội hoạ nên mạnh tay đầu tư lắm. Tối đó ông ta còn vừa rót rượu vừa thao thao bất tuyệt rằng tôi đã vinh dự trở thành một nguồn cung đáng tin cậy cho những tác phẩm vĩ đại sắp tới của mình. Lại còn mạnh mồm hứa hẹn rằng sẽ giới thiệu cửa hàng của tôi cho những người trong giới nếu tôi đồng ý giao dịch với giá tốt. Tôi thì cứ đồng ý lấy lệ trước đã, luật bất thành văn mà. Ai mà có dè ông ta chưa kịp động bút thì người khác đã phải cầm đục lên khắc cái tên Maurel lên bia mộ rồi."
Người thứ hai là Dolores Surville - học trò cũ của nạn nhân. Cô ta đến vì muốn mời vị hoạ sĩ này tham gia làm cố vấn trong cuộc thi hội họa do trường tổ chức, đi một mình. Cô ta tới lúc 8 giờ 30 phút và cũng rời đi sau nửa tiếng.
"Ngài ấy đưa ra rất nhiều yêu cầu trước khi đồng ý làm giám khảo. Nào là vị trí ngồi trung tâm, bài diễn văn giới thiệu dài cả sớ, vân vân và mây mây. Tôi phải mang đến bản vẽ gốc của các bức hoạ tham gia cuộc thi để ngài ấy chiêm ngưỡng, chỉ vì những bức ảnh tôi gửi đến trước đó bị trả lại với lý do là không sống động bằng việc được nhìn trực tiếp. Xem xong các tác phẩm thì ngài Maurel hài lòng lắm, đồng ý kí thoả thuận tham gia luôn. Cơ mà ngài ấy có một cuộc hẹn khác tiếp theo nên tôi đã phải rời đi ngay mà chưa kịp uống chút gì cả."
Người thứ ba: Ông Jean-Marc Devaux - thương nhân khá giả ở Quận 14, quen biết nạn nhân trong một buổi triển lãm tranh. Ông ta đến lúc 9 giờ với một bức tranh bị nghi là giả. Hai người trò chuyện khá lâu, khoảng 10 giờ thì ông ta mới quay lại xe cùng với tài xế riêng.
"Bức tranh lão bán cho tôi với giá 100,000 franc hoá ra là thứ hàng vẽ lại của một tay hoạ sĩ vô danh tiểu tốt. Khi tôi đến chất vấn, lão ta chối bay chối biến, một mực rũ bỏ trách nhiệm. Lão kiên quyết không chịu nhả ra một xu mặc dù tôi đã doạ báo cảnh sát. Tôi mà biết được cái bản chất thật của lão thì chẳng phải cất công tới tận nơi làm gì. Đến cả chai vang lão mời tôi vẫn còn cái nhãn giảm giá chưa kịp xé đi kia mà. Lão chết thế này âu cũng là do ông trời trừng phạt."
Người cuối cùng - Remus Durand - một tay hoạ sĩ sa cơ lỡ vận và có quan hệ anh em họ hàng xa với ông Maurel. Dù được gắn cái mác chung cây phả hệ những số lần họ gặp mặt nhau trong 10 năm qua chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nếu đây là một sự sắp đặt lỡ tay của Chúa thì đến cả Francis cũng cảm thấy buồn cười. Bởi gã Durand đây đồng thời cũng chính là gã người tình của bà Deneuve - kẻ đã biệt tăm biệt tích khi vụ án đầu tiên xảy ra - và mới chỉ được cảnh sát phát hiện đang đánh bài trong sòng bạc.
Hắn tới khoảng 7 giờ với một chai vang trắng làm quà, với mong muốn vay mượn được chút gì đó từ người họ hàng. Hắn ta thú nhận rằng người tình của hắn nói sẽ không mở ngân khố nếu hắn không dọn đến ở cùng. Việc hắn lấp lửng về lý do vay mượn khiến cho bà Deneuve tức giận và không thèm liên lạc mấy hôm nay. Trong cơn túng quẫn, hắn đã nhớ đến người anh em giàu sụ mới trở về từ Đức và quyết định tìm gặp. Nghe xong sự tình thì ông Maurel chẳng những không cho vay một đồng nào, mà còn mỉa mai, móc ngoáy chuyện hắn làm phi công với một bà goá phụ vốn mang tai tiếng từ lâu ở cái phố Falguière này.
"Sau lần cụng ly đầu tiên là toàn bộ sự khinh bỉ của lão xổ thẳng ra trước mặt tôi, không có lấy một tí kiêng nể gì cả. Tôi cứ nghĩ là khoảng thời gian ở Đức khiến lão ta có một khối tài sản kếch xù cơ, nhưng xem ra lão không khá hơn ông già Harpagon là mấy. May mà quý phu nhân đã bỏ quách lão ta và kéo mấy cô con gái đi, không thì câu chuyện về sau sẽ kịch tính lắm đấy. Gì cơ? Các ông tìm thấy dấu vân tay của tôi tại hiện trường á?! Trùng hợp ấy mà! Đừng có nghĩ tôi là hung thủ đấy!"
Phần cuối cùng trong hàng loạt thông tin Francis nhận được là ghi chép về quãng thời gian ngài Maurel làm môi giới bán tranh. Dựa trên lời khai của ông Devaux, cảnh sát đã tiến hành mở rộng điều tra, và thu về kết quả ngoài mong đợi.
Ông Maurel có liên quan mật thiết đến một đường dây chuyên buôn bán và làm giả các tác phẩm nghệ thuật.
Buổi thẩm vấn bên trong chiếc máy ghi âm kết thúc bằng một tiếng "Rèee...." thật dài. Chiếc bút bi trong tay Francis dừng lại trước cụm từ động cơ gây án. Anh vẫn đang bỏ ngỏ câu hỏi này từ vụ án thứ nhất, ấy vậy mà giờ nó đã trở thành một cái ung nhọt to tướng yêu cầu anh phải giải quyết nó ngay.
Giả sử cả bốn người đều có khả năng ra tay với nạn nhân, vậy ai sẽ là người có lý do lớn nhất?
Anh bật chiếc radio bên cạnh, tìm kiếm một chút không khí từ thế giới bên ngoài. Bản tin chiều nay đầy rẫy những tin tức ảm đạm hệt như thời tiết bên ngoài: Tin về sự cố tàu trật bánh trên tuyến đường sắt xuyên biên giới, đoạn đi qua Thionville, gây gián đoạn giao thông từ 1 đến 2 ngày. Tin về những nỗ lực của chính phủ cho mục tiêu cắt giảm thâm hụt ngân sách, làm dấy lên lo ngại về những cuộc đình công quy mô lớn. Tiếp đó, hiển nhiên rồi, tin về hai vụ án gần đây chưa có lời giải.
"... Về các vụ việc thương tâm mới xảy ra tại phố Falguière, người dân ở đó cho hay, họ đang sống trong một sự sợ hãi chưa từng có. Một số nhà thậm chí đã nhận nuôi thêm chó với hi vọng có thể giúp họ tránh khỏi tên sát nhân còn đang lảng vảng ngoài vòng pháp luật. Chúng tôi vẫn mong đợi câu trả lời thích đáng từ phía cảnh sát..."
- Ở Luxembourg gặp trật bánh tàu thì ở đây cũng đang tắc mạch não.
Francis lẩm bẩm, đứng dậy tiến lại gần chiếc bảng điều tra, hiện đang cắm đầy những bức ảnh và các sợi dây liên kết màu đỏ.



Bình luận
Chưa có bình luận