Chương 6. Cầm tù.
“Nói thật, bên này đúng là đang thiếu người, nhưng chú nhìn mày vẫn còn non lắm. Nói gì thì nói, lý lịch vẫn phải kiểm tra cho đủ. Chú hỏi lại lần nữa, mày đủ tuổi chưa?”
Người cai thầu hỏi tôi thêm một lần trước khi dẫn tôi đi gặp người phụ trách ký hợp đồng. Để chứng minh, tôi lấy tấm căn cước trong túi áo ra đưa cho ông ấy.
“Cháu vừa tròn mười tám tuổi vào tháng trước.”
“Vừa vặn thế à?”
Ông ấy nhận lấy, kẹp tấm căn cước giữa hai đầu ngón tay rồi nheo mắt săm soi. Có lẽ vì bức ảnh trên đó được chụp từ mấy năm trước, khi tôi vẫn còn chút dáng vẻ sáng sủa, sạch sẽ của một học sinh, nên càng nhìn, ông ấy lại càng lộ rõ vẻ nghi ngờ. Thậm chí, ông còn cúi đầu nghiêm túc tính toán lại ngày tháng năm sinh thêm một lượt.
Phải một lúc sau, ông ấy mới gật gù, cười hề hề rồi vỗ mạnh vào vai tôi.
“Vừa đẹp. Vừa đẹp!”
Lòng bàn tay ông ấy rất nặng. Một cái vỗ xuống khiến nửa bên vai tôi tê rần, nhưng tôi không né tránh, chỉ im lặng cúi đầu nhận lại căn cước rồi cất đi.
Sau đó, ông ấy bắt đầu nói lan man, hỏi han đủ chuyện trên đời. Nào là trẻ măng thế này sao đã phải đi tìm việc, thi trượt đại học rồi à, hay trong nhà xảy ra chuyện gì mà phải vội vã mưu sinh. Ông ấy hỏi rất nhiều, nhưng thực ra lại chẳng cần tôi trả lời. Còn tôi suốt dọc đường chỉ lặng lẽ bước bên cạnh, nghe tiếng đá vụn lạo xạo dưới đế giày.
Giữa công trường vừa ngột ngạt vừa ồn ào, người cai thầu vừa đi vừa chỉ tay về phía trước, dặn dò sau này tôi sẽ làm việc ở khu nào, ăn ở ra sao, tiền công tính thế nào. Nhưng mới nói được nửa chừng, ông ấy bỗng quay sang nhìn tôi, ánh mắt vẫn không giấu nổi vẻ tiếc nuối.
“Nói thật, tuổi như mày vẫn nên nghĩ đến chuyện đi học tiếp thì hơn. Lao động chân tay kiểu này vất vả lắm, không phải chỗ dành cho mấy đứa còn đang tuổi cắp sách. Có học mới có đường ra, sau này cuộc đời mới sáng sủa được.”
Tôi gật đầu: “Chú nói phải.”
Thấy tôi ngoan ngoãn, ông ấy dường như lại càng có hứng nói tiếp:
“Chú nói thật đấy, không phải dọa mày đâu. Bước vào đây rồi, ngày nào cũng phải bán sức. Mày tưởng còn trẻ thì chịu được à? Chịu được một ngày, hai ngày, chưa chắc đã chịu nổi một năm, hai năm. Chú cũng chỉ muốn tốt cho mấy đứa nông nổi như mày thôi.”
Tôi lại đáp: “Chú nói đúng.”
“Làm gì cũng phải nghĩ cho kỹ. Đừng vì mấy đồng tiền trước mắt mà đem cả tương lai ra đánh đổi.”
“Chú nói không sai.” Tôi gật đầu theo.
Chúng tôi cứ trò chuyện như vậy suốt cả quãng đường. Ông ấy khuyên tôi quay đầu là bờ, tôi ngoan ngoãn gật đầu. Ông ấy nói đời người không nên suy nghĩ quá nông cạn, tôi bảo chú nói phải. Ông ấy cảm thán chỉ có học hành mới thay đổi được số phận, tôi đáp chú nói không sai.
Quả thực, từng câu ông ấy nói đều đúng, và từng cái gật đầu của tôi cũng đều rất thật lòng. Có điều, người khuyên thì vẫn khuyên, người nghe thì vẫn cứ nghe. Đạo lý đi một đường, còn đời người lại rẽ sang một ngả khác. Đến cuối cùng, chúng tôi vẫn ngồi xuống. Ông ấy vẫn giới thiệu tôi, còn tôi vẫn đặt bút ký tên mình vào bản hợp đồng lao động đã được thỏa thuận từ trước.
Tôi tự nhận mình là người học hỏi nhanh, cũng rất giỏi thích ứng với hoàn cảnh. Chưa đầy một tháng, tôi đã không còn nhớ nổi bài hàm số vừa ôn trước đó, cũng quên gần hết những kiến thức tích lũy suốt mười hai năm đèn sách. Ngược lại, tôi nhanh chóng quen với cuộc sống ở công trường. Công việc này tuy rất mệt, nhưng suy cho cùng lại khá hợp với tôi. Tay chân làm việc, đầu óc gần như được thả lỏng, không cần suy nghĩ quá nhiều. Mỗi ngày được bao hai bữa cơm. Không ở ký túc thì có thêm trợ cấp. Tăng ca được trả thêm tiền, làm đủ giờ thì có thể về sớm.
Dường như có thứ gì đó trong cơ thể tôi đang dần hồi phục, nhưng đồng thời, một phần khác trong linh hồn lại âm thầm bị khoét rỗng. Dẫu vậy, chừng ấy bình yên cũng đủ để cuộc sống của tôi trôi qua đều đặn từng ngày. Không còn ai chặn đường bắt nạt tôi như trước. Mỗi buổi chiều tối, tôi đều có thể bình yên trở về phòng trọ, bình yên chìm vào giấc ngủ, rồi lại bình yên tỉnh dậy vào sáng hôm sau.
Chỉ có duy nhất một điều đã thay đổi. Đó là mỗi sáng, thứ tôi khoác lên người chẳng còn là sắc áo học sinh trắng tinh ngày trước, mà là bộ đồ bảo hộ lao động màu xanh thẫm, giống hệt như bố tôi thường mặc thuở xưa.
Khi đứng trước gương, tôi chợt nhận ra dáng vẻ của mình bây giờ ít nhiều đã trùng khớp với bóng dáng ông trong ký ức. Từ cách chỉnh lại khóa áo, cái cúi đầu xỏ giày, đến động tác đưa tay cào tóc về phía sau khi mồ hôi đang chảy ròng trên trán, thậm chí giống cả cái cách cúi đầu khi châm lửa cho điếu thuốc lá đang ngậm trên môi. Hóa ra, một người có thể trở nên già cỗi và chai sạn chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi đến vậy.
Về bố, hình như tôi đã quên mất gương mặt ông cụ thể trông như thế nào. Thế nhưng, tôi vẫn luôn nhớ rõ bộ đồng phục lao động ông đã mặc suốt nhiều năm, nhớ cả mùi bụi bặm ông mang theo mỗi lần tan làm trở về, chẳng hề kiêng dè mà ôm chầm lấy tôi. Tôi chưa từng ghét bỏ cảm giác ấy, mặc cho mẹ nhiều lần cầm chổi đuổi đánh ông vì tội nhào vào ôm tôi ngay sau khi tôi vừa được tắm rửa sạch sẽ.
Nhưng bố mẹ lại bỏ tôi đi sớm quá.
Trước đây có một dạo, tôi nhớ hai người họ đến da diết. Không phải kiểu tưởng niệm người đã khuất thông thường, mà là nhớ đến mức lồng ngực quặn thắt, dạ dày cũng âm ỉ trào ngược. Bất kể đang ăn cơm hay ngồi trong lớp, tâm trí tôi chưa từng ngừng nghĩ về họ. Nhìn vào bất cứ ai, tôi cũng thấy thấp thoáng bóng hình của bố mẹ. Nhớ đến mức tôi tưởng mình không thể tiếp tục sống một cuộc đời bình thường được nữa.
Thế rồi cũng đến một giai đoạn, tôi đột nhiên không còn nhớ về họ nhiều như trước. Tôi cứ ngỡ bản thân đã có thể nguôi ngoai phần nào, nào ngờ nỗi ám ảnh ấy chỉ chuyển sang một hình dạng khác, bắt đầu quay trở lại bằng nỗi nhớ về chị tôi.
Sáu, bảy năm trời, tôi và chị nương tựa vào nhau mà sống. Đoạn ký ức ấy bắt đầu từ một ngày tôi không rõ mình lên cơn đau tim hay chỉ sảy chân ngã xuống thềm nhà. Chỉ biết khi vừa tỉnh lại, thứ đầu tiên chào đón tôi là một cái bạt tai. Chị túm chặt cổ áo tôi, vừa khóc nức nở vừa gào lên:
“Thằng độc ác này! Mày chẳng phải vẫn còn có chị sao? Mày vì chị mà sống tiếp không được hay sao?”
Tôi đứng trước gương thẫn thờ hồi lâu, để mặc nỗi nhớ chị kéo dài thêm một lúc, sau đó mới bắt đầu cởi áo ngoài rồi bước vào phòng tắm.
Khoảng thời gian này, tôi thường ngủ rất sớm. Tan ca trở về, tôi chỉ tắm rửa qua loa rồi lên giường nằm im. Tôi chẳng còn muốn phí hoài chút sức lực ít ỏi nào cho những chuyện không đâu nữa. Cứ thu mình sống như vậy, ngày tháng dường như cũng bớt dằng dặc hơn. Nhưng mọi chuyện có lẽ sẽ tốt hơn, nếu cậu đừng xuất hiện trước mắt tôi thêm một lần nào nữa.
Đúng lúc giấc ngủ vừa chớm chập chờn, chiếc điện thoại đặt dưới chân giường bỗng rung lên khe khẽ. Chỉ bấy nhiêu tiếng động cũng đủ kéo tôi ra khỏi trạng thái nửa tỉnh nửa mê.
Tôi mở bừng mắt, lập tức lăn người sang một bên rồi thò tay xuống gầm giường tìm điện thoại. Chỉ trong vài giây ngắn ngủi ấy, vô số giả thuyết tồi tệ đã đồng loạt lướt qua đầu tôi: Giờ này còn ai gọi cho tôi được nữa? Tiền trọ vẫn chưa đến hạn. Hôm nay tôi không tăng ca, lại càng chưa từng nhận lời mấy ông anh ở công trường đi nhậu sau giờ làm. Vậy thì người gọi tới có thể là ai?
Luật sư?
Cảnh sát?
Hay người nhà nạn nhân?
Tôi đưa điện thoại lên ngang tầm mắt. Trên màn hình chỉ hiện một dãy số lạ hoắc. Tôi áp máy lên tai.
“Tôi đây.” Giọng người nọ vang lên từ đầu dây bên kia.
Những phỏng đoán vừa lóe lên trong đầu lập tức bị bẻ gãy. Tôi tỉnh hẳn. Thà rằng cứ là người nhà của nạn nhân còn khiến tôi dễ chịu hơn.
Tôi ngồi thừ trên nệm, mất một lúc lâu mới chậm chạp hoàn hồn. Vừa hay, giọng nói ấy lại nhẹ nhàng vang lên.
“Tôi đang ở trước cổng nhà cậu. Ra gặp tôi một lát nhé? Được không?”
Đầu óc tôi hoàn toàn trống rỗng. Tôi lặng lẽ xỏ dép đứng dậy. Lúc này mới chợt nhớ ra, trong góc phòng vẫn còn chiếc ba lô màu xanh sẫm mà người nọ đã bỏ quên từ lần trước. Tôi không biết vì sao cậu lại có được số điện thoại của mình. Nhưng ngẫm lại, một việc nhỏ nhặt như vậy có lẽ cũng chẳng làm khó được một người như cậu.
Tôi cầm theo chiếc ba lô của cậu rồi chậm rãi đi ra cổng. Lần này, cậu xuất hiện trong một bộ quần áo thường ngày đơn giản. Dáng vẻ trông tự tại, phóng khoáng hơn lúc mặc đồng phục rất nhiều, giống như cậu chỉ vừa tiện đường đi dạo rồi vô tình rẽ ngang qua đây.
Tính từ trước khi tôi nghỉ học, đến ngày cuối cùng quay lại trường, rồi cho tới tận bây giờ, chúng tôi đã gặp nhau ở ba cột mốc khác nhau. Ba lần gặp mặt, ba hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt. Mỗi lần, cảm xúc trong tôi lại âm thầm thay đổi. Tôi có cảm giác người đứng trước mặt mình ở mỗi giai đoạn đều là một bản thể hoàn toàn xa lạ.
Dù vậy, chỉ có một điều duy nhất chưa từng thay đổi. Tôi sẽ không bao giờ chủ động nhìn vào mắt cậu. Trừ khi bị kích thích bởi một điều gì đó quá mạnh mẽ, bằng không, tôi sẽ luôn tìm cách né tránh ánh mắt đối phương. Thói quen ấy đã bám rễ sâu qua năm qua tháng trong tôi mất rồi.
Lúc này cũng không ngoại lệ. Càng bước đến gần cậu, tầm mắt tôi càng vô thức hạ thấp. Cho đến khi đứng đối diện nhau trước cổng, tôi vẫn không hỏi han gì thêm, chỉ mở khóa rồi đưa chiếc ba lô về phía trước.
Thế nhưng, cánh cổng vừa hé mở, chiếc ba lô còn đang lơ lửng giữa chừng, cả người tôi đã bị một sức nặng bất ngờ đổ ập tới. Trong thoáng chốc, tôi như bị nhấn chìm trong hương cam nhàn nhạt, cảm nhận rõ mồn một từng nhịp thở cùng thân nhiệt ấm nóng của đối phương đang từng chút gắt gao bao bọc lấy mình.